BỘ CÔNG THƯƠNG
TỔNG CÔNG TY GIẤY VIỆT NAM
VIỆN NGHIÊN CỨU CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI
CẤP BỘ NĂM 2010
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT PHÒNG TRỪ
TRIỆU CHỨNG BỆNH U BƯỚU TRÊN CÂY BẠCH ĐÀN U6”
Cơ quan chủ quản: BỘ CÔNG THƯƠNG
Cơ quan chủ trì: VIỆN NGHIÊN CỨU
CÂY NGUYÊN LIỆU GIẤY
Chủ nhiệm đề tài: KS. Hà Ngọc Anh
………………………………… ………… 3
1.3. Địa điểm, đối tượng và nội dung nghiên cứu
……………………… 3
1.3.1. Địa điểm nghiên cứu
………………………………………….……… ……… 3
1.3.2. Đối tượng nghiên cứu
………………………………………………… ….…. 3
1.3.3. Nội dung nghiên cứu
…………………………………………………… …… 3
1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu
………………………………………………
4
1.4.1. Trên thế giới
…………………………………………………… 4
1.4.2. Ở Việt Nam
………………………………………………………………… … 8
PHẦN II: THỰC NGHIỆM
…………………………………………………………………
13
2.1. Phương pháp nghiên cứu
……………………………… …………………………
13
2.1.1. Nghiên cứu phân bố và mức độ gây hại của bệnh
………………….… 13
2.1.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh hại đến chất lượng cây con và
tiêu chuẩn hom
……………………… ……………………………
15
2.1.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của vật gây hại để làm
cơ sở cho việc phòng trừ
…… …… ……
25
2.2.4. Thử nghiệm biện pháp phòng trừ đối với vật gây hại
……………… 28
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
……………………………
31
3.1. Kết luận
……………………… ……………………………………………… …………
31
3.2. Kiến nghị
……………………………………………………………………… ………
31
TÀI LIỆU THAM KHẢO
………………………………………………………………….…
33
PHỤ LỤC
i
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BVTV: Bảo vệ thực vật
CST: Cấp sinh trưởng
df: Bậc tự do
D
g
: Đường kính gốc (mm)
đ/c: Đối chứng
et al.: Và cộng sự
H
…… ………. 19
Bảng 03: Phân bố của sinh vật gây hại ở vườn cấp hom Bạch đàn U6
20
Bảng 04: Mức độ bị hại của vườn cấp hom Bạch đàn U6
………………………… 20
Bảng 05: Tiêu chuẩn hom Bạch đàn U6 bình thường và hom bị u bướu
22
Bảng 06: Kết quả thử nghiệm biện pháp phòng trừ L. invasa trên Bạch đàn
U6
28
Bảng 07 Hiệu lực của thuốc trong thử nghiệm biện pháp phòng trừ L. invasa
trên Bạch đàn U6
29
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Hình 1 - 4: Quá trình phát triển của u bướu trên Bạch đàn U6……………… …….
(1) U bướu thời điểm 2,5 - 3 tháng tuổi có hình dạng, màu sắc và vị trí điển hình
(2) Ấu trùng (màu trắng) và nhộng sắp trưởng thành (màu đen) trong u bướu
(3) Các lỗ nơi mà sâu trưởng thành vũ hóa
(4) Sâu trưởng thành
23
Hình 5 - 7: L. invasa tại địa điểm nghiên cứu tháng 10/2010
…………… … ….
(5) L. invasa xuất hiện và hoạt động
(6) & (7) L. invasa thực hiện công việc đẻ trứng
24
invasa dài kho
ảng 4,5 tháng, trong đó các giai đoạn sâu non (ấu trùng) và nhộng có
thời gian tồn tại rất dài trong u bướu. L. invasa xuất hiện và hoạt động mạnh từ
tháng 4 cho đến tháng 10, u bướu của do nó gây ra được phát hiện và gây hại Bạch
đàn U6 từ tháng 6 đến tháng 12. Nhiệt độ môi trường ấm là điều kiện thuận lợi giúp
cho L. invasa phát triển. Để phòng trừ dịch hại u bướu cho Bạch đàn U6 tại vườn
ươm, nghiên c
ứu đã thử nghiệm 6 chế phẩm bảo vệ thực vật. Kết quả cho thấy
Conphai 15WP và BrighTin 1.8EC có tác dụng làm giảm số lượng u bướu mạnh
nhất. Conphai 15WP làm giảm số lượng u bướu từ 19,3 cái xuống còn 8,7 cái, hiệu
lực giảm đạt 55,2%. BrighTin 1.8EC làm giảm số lượng u bướu từ 16,7 cái xuống
còn 8,0 cái, hiệu lực giảm đạt 52,0%. Các thuốc bảo vệ thực vật khác cũng có tác
dụng làm giả
m đáng kể số lượng u bướu và vượt xa so với đối chứng.
1
PHẦN I: TỔNG QUAN
1.1. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ quyết định số: 6228/QĐ-BCT, ngày 10 tháng 12 năm 2009 của Bộ
Công thương về việc Đặt hàng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm
2010;
- Căn cứ Hợp đồng số: 13.10.RD/HĐ-KHCN ngày 01 tháng 02 năm 2010 về
việc Đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và
phát triển công nghệ;
- Căn c
ứ quyết định số: 09/VNC-QĐ.KHKH ngày 4 tháng 2 năm 2010 của
Viện trưởng Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy về việc Giao nhiệm vụ nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ năm 2010.
1.2. Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Tính cấp thiết của đề tài
Với những ưu điểm về khả năng sinh trưởng và cung cấp gỗ nguyên liệu,
uro (Eucalyptus urophylla) ở vùng Đông Bắc (Phạm Quang Thu, 2006; Bộ NN &
PTNT, 2006). Khu vực bị nhiễm bệnh nặng khoảng 30% cây non bị chết, phổ biến
ở mức 8 - 10%. Đối với Bạch đàn uro, bệnh xuất hiện nặng hơn trên những lập địa
đã canh tác lạc hoặc sắn. Khi cây trồng trên 2 tuổi bệnh có xu hướng giảm.
Tại Trạm thực nghiệm sản xuất giống cây lâm nghi
ệp, Viện nghiên cứu cây
nguyên liệu giấy - nơi hàng năm sản xuất khoảng trên một triệu cây bạch đàn, thời
gian gần đây đã có hiện tượng u bướu gây hại trên dòng Bạch đàn U6. U bướu đã
được phát hiện trên cả cây con và vườn cấp hom. Dịch hại đã ảnh hưởng đến sinh
trưởng và chất lượng cây con, ảnh hưởng đến chất lượng hom, dẫn đến ảnh hưởng
tới hoạt động sản xuất kinh doanh.
Theo Phạm Quang Thu (2004), hiện tượng u bướu đối với các loài bạch đàn
do một loài ong gây ra. Đây là loài côn trùng mới xuất hiện ở Việt Nam, gây hại
mạnh cho bạch đàn ở vườn ươm và bạch đàn và rừng trồng tuổi non; có xu hướng
lan nhanh và đã gây hại trên diện rộng của một số nước trên thế giới. Loài ong này
sau đó được xác định là Leptocybe invasa Fisher & La Salle (Phạ
m Quang Thu và
Nguyễn Quang Dũng, 2008).
Với việc xuất hiện triệu chứng u bướu trên một số loài bạch đàn đang trồng
trong nước, cho đến nay, những nghiên cứu về vấn đề này còn rất ít. Bên cạnh
thông báo của Phạm Quang Thu từ năm 2004, đến nay mới chỉ có nghiên cứu của
chính tác giả này về biện pháp phòng trừ ong u bướu. Tác giả đã đi theo hướng
tuyển chọn loài, xuất xứ có khả n
ăng chống chịu sự tấn công của ong, đó là một
trong những hướng được các nhà khoa học trên thế giới khuyến khích (Phạm Quang
Thu và Nguyễn Quang Dũng, 2008).
3
Sâu hại trong vườn ươm tuy mức độ và quy mô hại không lớn như ở rừng
trồng nhưng hậu quả của chúng sẽ tồn tại lâu dài, ảnh hưởng đến năng suất rừng
trồng sau này. Cây con trong vườn ươm bị sâu hại thường còi cọc, dị dạng, nếu đem
1.3.3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu phân bố và mức độ gây hại của bệnh.
4
- Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh hại đến chất lượng cây con và tiêu chuẩn
hom.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của vật gây hại để làm cơ sở cho
việc phòng trừ.
- Thử nghiệm biện pháp phòng trừ đối với vật gây hại.
1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.4.1. Trên thế giới
Hiện tượng bất thường do u bướu ở thực vật đã xuất hiện khá nhi
ều trên thế
giới, gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế và môi trường sinh thái. Ở Australia, một
sinh vật gây hại có tên Bruchophagus fellis Giraul đã gây hại cho loài cam quýt vào
năm 1898 ở khu vực giữa Queensland và New South Wales (Papacek và Smith,
1989). Sự gây hại sau đó đã lan rộng ra nhiều vùng khác ở dọc bờ biển của đất nước
này. Tuy nhiên, các nghiên cứu để phòng trừ vật gây hại này, lâu sau đó, mới được
nghiên cứu ở New South Wales (1958-1973) và ở Queensland (1981-1987).
Gần đ
ây, một sinh vật khác gây hại hàng loạt cho loài Erythrina cũng được
phát hiện ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như: Singapore, Đài Loan, Hồng Kông,
Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines, Samoa, Guam, Hawaii (La Salle et
al., 2009). U bướu do sinh vật gây hại này tạo ra đã ảnh hưởng đến phát triển của lá
và cành non, gây tác động xấu đến hoạt động sinh lí của cây. Việc gây hại xảy ra
nhiều lần có thể dẫn đến lá rụng và cây chết.
Đối với bạch
đàn, hiện tượng u bướu hại cây đã xuất hiện nhiều lần từ năm
2000 trở lại đây tại khu vực Đông Bắc Phi, Trung Đông và các nước khu vực Địa
Trung Hải (Mendel et al., 2004). Sinh vật gây hại được xác định là một loài ong có
tên Leptocybe invasa Fisher & LaSalle, thuộc họ Eulophidae, bộ cánh màng
Eucalyptus camaldulensis trồng ven đường. Sau đó hiện tượng này đã lan rộng ra
toàn bộ miền Nam nước này và một phần ở vùng trung tâm của đất nước (Branco et
al., 2005).
Với 8 triệu ha rừng trồng bạch đàn tại Ấ
n Độ, sự bùng phát của ong u bướu
đã trở thành vấn đề lớn đối với đất nước này. Diện tích lớn như vậy đã trở thành nơi
lí tưởng cho sự sinh sản của loài ong. Vì thế, trong trường hợp u bướu ít, người ta
có thể cắt tỉa rồi đem đốt. Trong trường hợp nhiều và rộng, người ta đã bắt buộc
phải sử dụng đến thuốc để
kìm hãm sự phát triển (Jacob et al., 2007).
Như vậy, với việc bùng phát ở Địa Trung Hải từ năm 2000 nhưng cho đến
nay L. invasa đã được phát hiện ở nhiều nước như: Algeria, Etyopia, Hy Lạp, Iran,
Israel, Italy, Jordan, Kenya, Morocco, Tây Ban Nha, Syria, Bồ Đào Nha, Tanzania,
6
Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Uganda, Kenya và Nam Phi. Cây chủ thích hợp cho loài gây
hại này bao gồm: E. camaldulensis, E. globulus, E. gunii, E. grandis, E. botryoides,
E. saligna, E. robusta, E. bridgesiana, E. viminalis và E.tereticornis (Mendel et al.,
2004).
Bên cạnh Leptocybe invasa, một loài sinh vật gây hại khác cũng đã tấn công
bạch đàn trong cùng khoảng thời gian của thập kỉ vừa qua. Loài sinh vật đó được
xác định là Ophelimus maskelli - một loài ong u bướu bạch đàn khác, nhỏ hơn L.
invasa. Sinh vật gây hại này tạo thành các u bướu trên bề m
ặt của lá. Các u bướu rất
nhỏ, được sắp xếp tách rời với mật độ khá dày. Việc tấn công được tái diễn sẽ phá
hủy dần lá trên cành. Loài này đã được phát hiện ở một số nước như: Israel, New
Zealand và Thổ Nhĩ Kỳ.
Ở Thổ Nhĩ Kỳ, O. maskelli lần đầu tiên được phát hiện vào năm 2005, cây
chủ là E. camaldulensis. Những nghiên cứu về loài này ở đây cho thấy, ong trưở
ng
thành dài khoảng 1 mm, màu đen, khó có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Râu đầu
vào trong bầu ươm cây với lượng 1g/cây và sau đó phun Dimethoate 0,03% hoặc
Phosphamidon 0,04% hoặc Methyl-o-demeton 0,025% hoặc Acephate 0,075% có
thể xem là giải pháp hiệu quả trong việc hạn chế sự gây hại của L. invasa tại vườn
ươm.
Đối với rừng trồng bạch đàn, Javaregowda, Prabhu và Roopa (2010) đã thử
nghi
ệm phòng trừ cho rừng trồng 2 năm tuổi tại Sirsi (Ấn Độ) vào năm 2008. Để
đánh giá hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật đến việc hạn chế sự phát triển và gây
hại của u bướu L. invasa, thí nghiệm đã được bố trí bài bản ngoài hiện trường gồm
10 công thức: không phun thuốc (đối chứng), bón Carbofuran 3G với hai liều lượng
0,5g và 1,0g/cây, phun Methyl parathion 50EC (1ml/l), phun Imidacloprid 17,8SL
(0,25ml/l) và phun một số chế
phẩm được sản xuất từ thảo mộc địa phương. Các
công thức phun thuốc được thực hiện hai lần phun, mỗi lần cách nhau 15 ngày. Số
liệu về số lượng u bướu (sống) đã được thu thập một ngày trước khi phun thuốc, 7
ngày và 15 ngày sau mỗi lần phun.
Từ thử nghiệm biện pháp phòng trừ đối với rừng trồng bạch đàn tuổi 2 này
thấy rằng, các thuốc bả
o vệ thực vật hóa học đều có khả năng hạn chế và làm giảm
số lượng u bướu tốt hơn nhiều so với các chế phẩm được sản xuất từ thảo mộc. Tuy
nhiên, các loại thuốc hóa học này vẫn chưa có khả năng diệt trừ hoàn toàn số lượng
u bướu, có thể do quá trình theo dõi chưa đủ. Trong số các xử lí có hiệu quả, công
thức Imidacloprid 0,25ml/l cho kết quả tốt nh
ất, sau 30 ngày nó làm số u bướu trên
lá từ 12,7 giảm xuống còn 6,0 cái. Công thức Methyl parathion 1ml/l cũng tỏ ra rất
có triển vọng. Bên cạnh đó, việc phun thuốc hai lần trong vòng 30 ngày thể hiện
hiệu quả rõ rệt trong việc hạn chế sự phát triển của u bướu.
8
Như vậy, qua hai thử nghiệm phòng trừ bằng thuốc bảo vệ thực vật thấy
rằng, có khá nhiều chế phẩm có thể sử dụng để hạn chế sự gây hại của u bướu L.
nguyên liệu giấy, tỉ trọng sản xuất cây con Bạch đàn U6 trong những năm gần đây
vẫn chiếm đến 50%. Điều đó cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu biện pháp phòng
trừ triệu chứng u bướ
u cho dòng bạch đàn này.
9
1.4.2.2. Đặc điểm vườn ươm Trạm thực nghiệm sản xuất giống cây lâm nghiệp,
Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy
- Tổng diện tích: 3,0 ha
- Công suất vườn ươm: 1.500.000 cây/lần
- Diện tích nền cứng: 7.500 m
2
- Diện tích nhà giâm hom: 800 m
2
- Khả năng tưới tiêu, hệ thống tưới phun:
+ Có 2 hệ thống giếng khoan cấp nước và một tháp chứa nước cao 20 m
phân phối cho toàn bộ hệ thống tưới tiêu.
+ Có hệ thống rãnh tiêu nước cho các bể nên không xảy ra hiện tượng ngập
úng.
+ Hệ thống tưới phun phù hợp, thuận lợi đến tận địa điểm sản xuất.
+ Hệ thống phun sương nhà giâm hom đủ cho 21 bể, mỗi bể
có công suất
khoảng 10.000 cây.
- Chế độ vệ sinh vườn ươm: Vệ sinh thường xuyên 1 lần/1 tháng, vệ sinh
tổng thể 2 lần /1 năm.
- Tổng diện tích vườn cấp hom: 2.000 m
2
, trong đó diện tích vườn cấp hom
Bạch đàn U6: 500 m
làm lá và cành non phát triển dị dạng, gây khô lá, chết cành và toàn bộ cây bị chết,
gây thiệt hại nghiêm trọng. Tuy dịch mới xuất hiện nhưng có xu hướng lan rộng tới
các rừng trồng bạch đàn khác. Qua các mẫu ong trưởng thành thu được, các đặc
điểm trùng khớp với mô tả của Mendel, Protasov, Fisher và La Salle năm 2004 đối
với loài Leptocybe invasa Fisher & La Salle.
Kết quả điều tra khảo sát, thu mẫu của Phạm Quang Thu (2004) tại các khu
khảo nghiệm h
ậu thế các dòng bạch đàn E. camaldulensis và các dòng, các tổ hợp
bạch đàn lai tại Lâm trường Minh Đức, tỉnh Bình Phước cho thấy mật độ ong
trưởng thành tại các khu rừng bị bệnh khá cao. Mức độ bị hại rất khác nhau giữa các
dòng và các tổ hợp lai. Một số dòng rất mẫn cảm, bị ong kí sinh gây u bướu toàn bộ
lá và cành non dẫn đến chết hàng loạt. Các vườn ươm cây bạch đàn tại thành phố
H
ồ Chí Minh và Đồng Nai cũng bị thiệt hại khá nghiêm trọng. Ong kí sinh làm lá
và thân bị u bướu, phát triển dị dạng và chết, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế và ảnh
hưởng tới kế hoạch trồng rừng của nhiều địa phương.
Theo Chi cục Phát triển Lâm nghiệp tỉnh Bình Định (Báo điện tử Bình Định,
2006), nhiều lô bạch đàn giống do các đơn vị trong tỉnh sản xuất đ
ã bị nhiễm bệnh u
bướu, điều này ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện kế hoạch trồng rừng của tỉnh.
Theo đó, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Tây Sơn có 6.000/20.000 cây Bạch đàn
trắng (E. camaldulensis) gieo ươm bằng hạt bị bệnh; Lâm trường Quy Nhơn có
14.000 cây bị bệnh; cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp Hoa Đôn có 7.500 cây
11
giống nuôi cấy mô dòng Bạch đàn U6 cũng bị chứng bệnh này. Cây bị bệnh sinh
trưởng phát triển chậm, thời tiết nắng nóng kéo dài bệnh có xu hướng tăng và nặng
hơn. Các đơn vị nói trên đã áp dụng nhiều biện pháp phòng, trị bệnh, chống lây lan
nhưng chưa đạt kết quả như mong muốn.
Tại Trạm thực nghiệm sản xuất giống cây lâm nghiệp, Viện nghiên cứu cây
nguyên liệ
ố lượng u bướu
12
trung bình do L. invasa tạo ra trên cây con là 1,7 cái và trên hom là 2,5 cái. U bướu
do L. invasa tạo nên có hình đa giác, phần lớn là màu hồng, dài khoảng 3,9 - 4,1
mm, rộng khoảng 2,9 mm, vị trí của các u bướu nằm chủ yếu trên cuống lá. Tại
vườn ươm Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, L. invasa xuất hiện nhiều và gây
hại mạnh vào khoảng thời gian từ tháng 6 cho đến tháng 11. Kết quả nghiên cứu
cũng đã ghi nhận tỉ lệ bị hại có lúc lên đến 15,8%
ở vườn ươm sản xuất cây con và
64,4% ở vườn cấp hom. Tuy nhiên, mức độ bị hại của cây con và vườn cấp hom
Bạch đàn U6 đều ở mức hại nhẹ (R < 1,0).
Như vậy, thông qua các tài liệu về ong u bướu gây hại bạch đàn trên thế giới
và Việt Nam thấy rằng, tình hình diễn biến rất phức tạp và có nhiều đặc điểm chung
giữa các quốc gia. Do là một loài mới
được phát hiện và với sự phá hại đáng kể, loài
ong đã được nghiên cứu khá nhiều ở trên thế giới về đặc điểm sinh học và hướng
phòng trừ. Trong các biện pháp phòng trừ đã được nghiên cứu và đề xuất áp dụng,
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng cho thấy sự phù hợp khi áp dụng ở vườn ươm
và rừng trồng non. Tuy nhiên, qua một số thử
nghiệm được đánh giá là có hiệu lực
cao trong một số nghiên cứu mới nhất ở trên thế giới thấy rằng, một số chế phẩm
bảo vệ thực vật được sử dụng có độc tố cao, đã bị hạn chế sử dụng (Carbofuran 3G)
hoặc cấm sử dụng (Methyl parathion 50EC) ở Việt Nam (Bộ NN& PTNT, 2010).
Trong khi đó, những nghiên cứu về ong u bướu gây hại bạch
đàn ở Việt Nam cho
đến nay còn rất ít, bao gồm cả đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ. Mặt khác,
bạch đàn ở Việt Nam cũng có nhiều loài khác nhau, những nghiên cứu cho Bạch
đàn U6 tại vườn ươm cho đến nay chưa được quan tâm. Với vị trí là một sản phẩm
đang được sử dụng rộng rãi, để đáp ứng cho yêu cầu của sản xuất kinh doanh,
nghiên cứu biện pháp kĩ
vườn cấp hom, chỉ số P% được gọi là tỉ lệ hom bị hại. Việc xác định phân bố của
sinh vật gây hại không cần chú ý đến số lượng mà chỉ cần xem có hay không có u
bướu trên cây con hoặc hom Bạch đàn U6.
T
ỉ lệ có sâu hay tỉ lệ có bệnh (P%) để đánh giá phân bố của sinh vật gây hại
được tính theo công thức:
P% = n.100/N (2.1)
Trong đó: n là số cây con hoặc số hom bị hại
N là tổng số cây con hoặc tổng số hom điều tra
Đánh giá chỉ số P% theo Nguyễn Thế Nhã và cộng sự (2001):
P% < 25%: loài ngẫu nhiên gặp
P% = 25 - 50%: loài ít gặp
14
P% > 50%: loài thường gặp
∗ Nghiên cứu mức độ bị hại của Bạch đàn U6:
+ Điều tra đánh giá chỉ số hại cho cây con và hom:
Được thực hiện đồng thời với điều tra phân bố của sinh vật gây hại. Đối với
cây con, thu thập chỉ số hại cho toàn bộ số cây trong ô điều tra. Đối với vườn cấp
hom, thu thập chỉ số hại cho toàn bộ s
ố hom trên tất cả 30 cây trong ô điều tra. Phân
cấp chỉ số bị hại được xác định dựa vào phương pháp của Phạm Quang Thu và
Nguyễn Quang Dũng (2008), cụ thể như sau:
Chỉ số hại Biểu hiện bên ngoài
0 Cành non, gân lá không bị u bướu, cây sinh trưởng phát triển khỏe
mạnh
1 < 25% hệ lá bị hại, cành non và gân lá bị u bướu < 25%
2 25-50% hệ lá bị hại, cành non và gân lá bị u bướu từ 25-50%
3 51-75% hệ lá bị hại, cành non và gân lá bị u bướu từ 51-75%
4 > 75% hệ lá bị hại, cành non và gân lá bị u bướu từ > 75%
dựa trên cơ sở phân cấp 30 cây con và 30 hom tiêu chuẩn. Đối với cây con, trong ô
điều tra chọn 30 cây tiêu chuẩn theo phương pháp hệ thống (cách 1 hàng điều tra 1
hàng để chọ
n ra cây có u bướu cho đến khi đủ 30 cây). Đối với vườn cấp hom,
trong ô điều tra cách 3 cây chọn 1 cây để điều tra. Trên cây chọn tiến hành thu thập
tất cả các hom đủ tuổi có u bướu để đo đếm. Số hom có u bướu được chọn cho đến
khi đủ 30 hom thì dừng lại.
- Trong nội dung này, bên cạnh việc điều tra các đối tượng bị u bướu, nghiên
cứu cũng tiến hành thu thập các chỉ tiêu tương tự
cho các đối tượng bình thường
trong cùng ô điều tra để làm đối chứng so sánh, đánh giá. Cách lựa chọn đối tượng
bình thường tương tự như cách chọn cây con và hom tiêu chuẩn.
- Đối với cây con, đánh giá ảnh hưởng của vật gây hại được thực hiện thông
qua các chỉ tiêu: H
vn
, D
g
và cấp sinh trưởng. Trong đó, H
vn
và D
g
được đo trực tiếp
bằng thước đo chuyên dụng của ngành Lâm nghiệp. Cấp sinh trưởng được đánh giá
thông qua mục trắc và dựa vào 3 cấp như sau:
+ Cấp 1: Cây sinh trưởng tốt, sức sống tốt, hình thái cân đối.
+ Cấp 2: Cây sinh trưởng bình thường.
+ Cấp 3: Cây sinh trưởng chậm, sức sống kém, bị sâu hoặc bệnh làm ảnh
hưởng đến sức sinh trưởng.
Tuy nhiên, trong quá trình đánh giá cấp sinh trưởng, đề tài că
n cứ vào tình
hại của L. invasa.
+ Tìm hiểu m
ối quan hệ giữa sự xuất hiện của vật gây hại với điều kiện nhiệt
độ, độ ẩm và lượng mưa: Theo dõi diễn biến của các nhân tố khí tượng trong năm
để phục vụ cho nội dung nghiên cứu này.
2.1.4. Thử nghiệm biện pháp phòng trừ đối với vật gây hại
- Công thức thí nghiệm:
Thử nghiệm tại hiện trường được thực hiện cho 01 xử lí không phun thu
ốc
(đối chứng) và 06 chế phẩm bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam theo
quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN & PTNT, 2010), bao
gồm:
+ BrighTin 1.8EC
Hoạt chất: Abamectin 18g/l
Cơ chế tác động: Vị độc (mạnh), thấm sâu
17
+ Conphai 15WP
Hoạt chất: Imidacloprid 15%
Cơ chế tác động: Lưu dẫn mạnh
+ Ecasi 20EC
Hoạt chất: Acetamiprid 2% + Chlorpyrifos Ethyl 18% + Dầu cọ
Cơ chế tác động: Tiếp xúc, lưu dẫn
+ Mopride 20WP
Hoạt chất: Acetamiprid (200g/kg thuốc)
Cơ chế tác động: Lưu dẫn
+ Oncol 20EC
Hoạt chất: Benfuracarb (thuộc nhóm Carbamate)
Cơ chế tác động: Nội hấp, tiếp xúc, vị độc
+ Tasodant 600EC
Hoạt chất: Chlorpyrifos Ethyl 500g/l + Permethrin 100g/l
18
T
b
là số u bướu sống ở công thức phun thuốc trước khi xử lí
C
a
là số u bướu sống ở công thức đối chứng sau khi xử lí
C
b
là số u bướu sống ở công thức đối chứng trước khi xử lí
Ngoài ra, các nội dung xử lí số liệu khác trong quá trình nghiên cứu như: tính
toán các đặc trưng mẫu (
X
, S
d
, S%), so sánh các mẫu quan sát, kiểm định tính độc
lập (tiêu chuẩn χ
2
) được thực hiện theo hướng dẫn của Nguyễn Hải Tuất và
Nguyễn Trọng Bình (2003) trên chương trình Microsoft Office Excel 2007 và phần
mềm SPSS 13.0.
2.2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.2.1. Nghiên cứu phân bố và mức độ gây hại của bệnh
Để xác định được phân bố và mức độ gây hại của bệnh, công tác điều tra đã
được thực hiện đối với cây con và vườn cấp hom Bạch đàn U6 từ
tháng 2 đến tháng
12 năm 2010 tại địa điểm nghiên cứu. Quá trình theo dõi về tình hình bệnh cho đối
tượng nghiên cứu được thể hiện trong bảng 01 và bảng 02.
Bảng 01: Quá trình theo dõi u bướu trên cây con Bạch đàn U6
Tuổi cây
+ +
Tháng 5 × ×
∗ ∗
Tháng 6 × ×
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
Tháng 10
Tháng 11
Tháng 12
Ghi chú: + cây con được cấy trong tháng 11-12/2009
∗ cây con được cấy trong tháng 01/2010
× cây con được cấy trong tháng 02/2010
19
Bảng 02: Quá trình theo dõi u bướu ở vườn cấp hom Bạch đàn U6
Tuổi hom
Thời gian
5 ngày 10 ngày 15 ngày 20 ngày 25 ngày
Tháng 2 × × × × ×
Tháng 3 × × × × ×
Tháng 4 × × × × ×
Tháng 5 × × × × ×
Tháng 6 × × × × ×
Tháng 7 × × × × ×
Tháng 8 × × × × ×
Tháng 9 × × × × ×
Tháng 10 × × × × ×
Tháng 11 × × × × ×
Tháng 12 × × × × ×