hoàn thiện quy trình chăn nuôi gà ai cập, thái hòa và con lai - Pdf 13

TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU GIA CẦM THỤY PHƯƠNG BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI:

HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CHĂN NUÔI GÀ AI CẬP,
THÁI HÒA VÀ CON LAI CNĐT: LÊ THỊ NGA

9 ThS. Dương Trí Tuấn
Trung Tâm nghiên cứu và phát triển chăn nuôi miền
Trung

1

MỞ ĐẦU
Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm bùng phát ở nhiều nơi trên thế
giới. Ở nước ta, đợt dịch cúm gia cầm thứ 3 (từ tháng 12/2004 đến tháng
5/2005) vịt có tỷ lệ chết và tiêu huỷ nhiều gấp 2 lần gà, tỷ lệ dương tính với
virus cúm của huyết thanh thuỷ cầm tăng từ 15% trong đợt 2 lên 39,6% trong
đợt 3 (Báo cáo dịch cúm gia cầm trong giai đoạn 2004 - 2005 của Cụ
c Thú y).
Vì vậy vịt đang là đối tượng được quan tâm về cúm gia cầm.
Tại Thái Lan năm 2004 nghiên cứu dịch tễ học virut cúm H5N1 trên 4
hệ thống chăn nuôi vịt cho thấy hệ thống chuồng kín an toàn sinh học không
phát hiện thấy virut cúm, hệ thống chuồng hở phát hiện 4/17 trang trại
(23,5%), hệ thống chạy đồng 28/61 đàn (45,9%), hệ thống chăn nuôi nhỏ lẻ:
27% (Songserm Thaweesak và CS, 2006 [71]).
Một số nước như Anh, Pháp, Thái Lan, Indonesia, rất h
ạn chế nuôi vịt
trên ao hồ, thả đồng và sử dụng nuôi vịt theo phương thức nuôi nhốt hoàn
toàn không có ao hồ đã đạt năng suất cao, đem lại hiệu quả kinh tế và an toàn
sinh học.
Hơn nữa, vịt còn mang nhiều loại mầm bệnh khác, đặc biệt là bệnh
Sallmonella, vịt có thể mang trùng và truyền qua trứng sang thế hệ sau hoặc
làm ảnh hưởng đến các sản phẩm chăn nuôi như trứ
ng, thịt, vì độc tố của vi
khuẩn này có thể gây ngộ độc cho người (Sharon Whitmarsh, 1997 [69]). Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bắc Ailen khẳng định, muốn hết bệnh

việc xây dựng các biện pháp xử lý môi trường nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho
sinh trưởng và phát triển của vịt, cắt đứt quá trình lây lan của dịch bệnh có ý
nghĩa quan trọng (WHO, 2005 [72]).
Hiện tại các cơ sở chăn nuôi đang sử dụng nhiều loại thuốc sát trùng
khác nhau như Virkon-S, Bioclean, antisep, Formol tuy nhiên sử dụng nhiều
cũng gây độc cho gia cầm và con người. Việc tìm kiếm các chất sát trùng tiêu
diệt được vi khuẩn nhưng ít gây độc hại, thân thiện với môi trường cũng là
vấn đề cần được quan tâm.
Đồng thời xây dựng được quy trình xử lý chất thải
đảm bảo cho chăn nuôi vịt đảm bảo an toàn sinh học.
Chính vì vậy, cần định hướng cho người chăn nuôi theo các phương thức
chăn nuôi, quy trình chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học, quy trình vệ sinh
thú y, xử lý môi trường phù hợp với từng vùng sinh thái, đồng thời đảm bảo
tính bền vững. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài cấp nhà nước “Nghiên
cứu các giải pháp khoa học công nghệ
để phát triển chăn nuôi vịt đảm bảo an
toàn sinh học”.
Mục tiêu đề tài:
Xây dựng các giải pháp đồng bộ để chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y
phòng bệnh, xử lý môi trường, hạn chế lây lan dịch bệnh để đảm bảo an toàn
sinh học cho các cơ sở chăn nuôi vịt.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1. Tình hình chăn nuôi và phương thức chăn nuôi vịt
Nhiều nước trên thế gi
ới đã rất quan tâm đến nghề chăn nuôi vịt. Năm
1970 thịt vịt chỉ chiếm 3,3% so với tổng sản lượng gia cầm. Từ năm 1996 đến
2005 sản xuất thịt gia cầm tăng 30,73%, trong đó thịt vịt tăng 68,3%. Trên
toàn thế giới sản xuất thịt vịt đã tăng liên tục từ năm 2001 đến năm 2007 với
bình quân 4,13%/năm (Sing-Hwa Hu, 2007 [70]).

2006
Năm
2007
Thế giới 2.056,16 21.732,63 2.308,24 2.355,43 2.644,38 2.654,95 2.715,26
Châu Á 1.811,43 1.923,03 2.058,42 2.112,94 2.395,38 2.415,64 2.473,45
Trung Quốc 1.483,64 1.595,86 1.731,79 1.763,12 2.034,46 2.038,62 2.088,89
Malaysia 26,45 20,28 31,39 39,24 41,15 41,7 42,8
Thái Lan 70 62 48 56,54 56,67 56,6 56,6
Nguồn: FAO, 2008
Sản lượng thịt vịt trên thế giới, châu Á, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan
năm 2001-2007
Đơn vị tính: ngàn tấn
Danh mục Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Thế giới 3.028,63 3.187,39 3.327,27 3.414,33 3.796,44 3.877,89 3.954,79
Châu Á 2.442,60 2.559,77 2.711,69 2.798,87 3.160,93 3.252,23 3.327,29
Trung Quốc 1.965,91 2.087,66 2.230,54 2.262,32 2.607,59 2.680,95 2.746,14
Malaysia 68,767 52,72 81,62 102,03 107 108 111

7-21 ngày úm, vịt mái tơ, vịt lấy trứng được đưa đến ruộng lúa. Chúng ăn
thóc trên cánh đồng, sau đó được đưa về khu nuôi nhốt vịt, nhưng một số đàn
vịt vẫn giữ lại ở cánh đồng
để giảm chi phí sản xuất, kể cả năng suất thấp hơn
và tỷ lệ chết cao.
- Hệ thống nông hộ: Vịt Bắc Kinh, Khaki Campbell và vịt lai được tiếp
tục nuôi ở nông hộ trong nhà ở khu làng xã cùng với gia súc khác; gà, ngỗng,
lợn hay chó. Ước tính 1-1,5 triệu vịt được nuôi trong nông hộ.
Sau khi xẩy ra dịch cúm gia cầm, hệ thống chăn nuôi vịt chưa có sự thay
đổi nhưng những biện pháp kiểm soát AI đượ
c tiến hành chặt chẽ. Trước khi
đưa vịt tới khu giết mổ, 60 mẫu phân của đàn được chọn để phân lập virus.
Vào cuối chu kỳ 50-60 ngày, mỗi nhà nuôi vịt cần phải được dọn sạch sẽ, tẩy
uế và để trống ít nhất 21 ngày. Sau 3-4 tuần bắt đầu nuôi vịt 01 ngày tuổi và
chu kỳ lại được lặp lại.
Tại Philipin năm 2006 có khoảng 11 triệu con vịt trong đó có 8,4 triệu
con (76%) chăn nuôi theo phương thức chăn thả nhằm tận dụng thức ăn sẵn có
ngoài thiên nhiên, giảm chi phí rất nhiều so với chăn nuôi công nghiệp, tuy
nhiên ở đây cũng xác định rõ là việc chăn nuôi này cũng có nguy cơ lây truyền
bệnh cao nhất là bệnh cúm gia cầm (EdwinC. Villar và cộng sự, 2007 [55]).
Indonesia thường chăn nuôi vịt ở các hộ nông dân vói số lượng nhỏ,
chúng được thả theo đàn và tự tìm kiếm thức ăn, các đ
àn vịt này thường được
nuôi trong khu vực trồng cây lương thực nhằm mục đích lấy trứng để tiêu
dùng. Tuy nhiên để giảm rủi ro do bệnh cúm gia cầm gây nên cần có hệ thống
nuôi giữ và quản lý tốt đàn vịt này đồng thời nghiên cứu lai giữa các giống vịt
để tăng năng suất đồng thời vẫn giữ được nguồn gen kháng bệnh tốt của loài vịt
chăn thả (Hardi Prasetyo, 2007 [58]).
Theo Jeng-Fang Hang và cộng sự, 2007 chăn nuôi vịt là một nghề truyền
thống của Đài loan, có vai trò rất quan trọng trong kinh tế ở nông thôn, có 5

khô hoàn toàn chuồng khép kín không có sân chơi của vịt Super M nuôi sinh
sản từ 1-3 tuần tuổi 32-35 con/m
2
với nhiệt độ 27
0
C; từ 4-7 tuần tuổi 30-
32con/m
2
với nhiệt độ 23
0
C; từ 7-14 tuần tuổi 25-30 con/m
2
với nhiệt độ
20
0
C; từ 14-21 tuần tuổi 20-22con/m
2
với nhiệt độ 18
0
C.
Để hoàn thiện công nghệ chăn nuôi, phát huy khai thác tối đa tiềm năng
di truyền giống có nhiều công trình nghiên cứu dinh dưỡng thức ăn vịt không
những hoàn thiện sản xuất thức ăn mà còn cân bằng đầy đủ các yếu tố dinh
dưỡng cần thiết.
1.1.2. An toàn sinh học và quy trình thú y phòng bệnh cho vịt
Hiện nay các loài thủy cầm, đặc biệt là vịt đang là đối tượng quan tâm
hàng đầu trong nghiên cứu về virus cúm gia cầm. Chúng có thể mang virus
nhưng không thể hiện triệu chứng lâm sàng và thải virus qua phân (WHO [72],
CDC, 2005 [49]). Nếu gia cầm khác tiếp xúc với mầm bệnh này rất dễ bị
nhiễm bệnh.

n truyền nhiễm có tỷ lệ chết từ 10 - 20%, bệnh CRD từ 30-
50% còn lại là các bệnh khác. Các bệnh này hầu hết đều liên quan chủ yếu đến
môi trường chăn nuôi.
Trong thời gian gần đây do dịch cúm gia cầm nên việc thực hiện an
toàn sinh học được chú trọng hơn bao giờ hết. Trung Quốc phải chi 2 tỷ nhân
dân tệ, các nước EU đã chi 1 tỷ Euro, Indonesia đã chi 15,8 triệu USD và
World Bank chi khoảng 500 triệu USD dự kiến sẽ ph
ải chi tiếp 1 tỷ USD
trong năm tới để hỗ trợ cho việc khống chế dịch cúm gia cầm.
Nghiên cứu của nhóm tác giả Singapo và Mỹ kết luận rằng kháng thể
thụ động có thể cung cấp chiến lược cả phòng và trị bệnh cúm gia cầm
(Brendon et al, 2006 [48]).
Để đảm bảo an toàn sinh học, ngoài việc làm tốt công tác giống, thức
ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y, các biện
pháp cách ly, công tác v
ệ sinh trước, trong vµ sau khi nuôi là cần thiết. Ở gia
cầm nói chung, đặc biệt ở vịt, mầm bệnh Salmonella rất nguy hiểm (Sharon
Whitmarsh, 1997 [69]), chúng có thể tồn tại trong phân 3 năm, trong đất, nền
chuồng 2 năm. Clostridium perfingens có khả năng sinh nha bào do đó chúng
có thể tồn tại rất lâu trong môi trường, nền chuồng…Đồng thời trong khi đang
nuôi, các mầm bệnh có thể qua gió, bụi, thậm chí trong chất thải của những cá
thể mang trùng bám vào chuồng trạ
i và các dụng cụ chăn nuôi. An toàn sinh
học trong chăn nuôi, đặc biệt trong chăn nuôi gia cầm là vấn đề quyết định
năng suất và hiệu quả chăn nuôi (Dan B Smith [53]).
Bên cạnh công tác vệ sinh phòng bệnh, việc phòng bệnh chủ động bằng
vaccine là rất quan trọng. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế thì trong
tháng 12/2003 và tháng 01/2004 dịch cúm gà đã gây ra đại dịch ở 11 nước và
vùng lãnh thổ công bố dịch cúm gia cầm do virus H5N1 gây ra bao gồm: Hàn
Quốc, Nhậ

chết có thể lên tới 100%. Mức độ cảm nhiễm có thể khác nhau tùy theo giống
vịt. Virus dịch tả vịt có thể tiềm tàng trong cơ thể vịt và có khả năng tái hoạt
độ
ng trở lại. Sau 3 tuần gây nhiễm không tìm thấy virus dịch tả vịt trong lỗ
huyệt nhưng 7 - 9 tuần sau gây nhiễm, bằng phản ứng PRC, tác giả đã phát
hiện thấy AND virus dịch tả vịt trong thần kinh trung ương, hạch lâm ba
ngoại vi, lách, tuyến ức và túi Bursa.
Trong tự nhiên, đường xâm nhập chủ yếu của virus dịch tả vịt là đường
tiêu hoá. Vịt bệnh bài xuất căn bệnh theo phân, nước mắt, nước mũ
i làm ô
nhiễm thức ăn, nước uống và bệnh lây lan sang vịt khoẻ và các động vật cảm
nhiễm khác. Nguồn nước và các động vật thuỷ sinh trong đó cũng đóng vai
trò nhất định trong việc truyền lây căn bệnh. Khi dịch xảy ra, việc bán chạy
vịt bệnh, mổ thịt vịt ốm đều làm cho bệnh lan đi rất nhanh và xa. Bệnh lây lan
rất nhanh và mạnh theo phương thức truyền lây gián tiếp như
ng phương thức
truyền lây trực tiếp từ mẹ sang con cũng có thể xảy ra. Khi làm phản ứng
trung hoà theo phương pháp huyết thanh pha loãng, virus cố định; vào ngày
21 sau khi tiêm vacxin, nếu hiệu giá kháng thể trong huyết thanh đạt từ 1/59 -
1/250 thì vaccine được coi là có hiệu lực, bảo hộ được đàn vịt.
Ngoài các bệnh do virus gây nên, các bệnh do vi khuẩn như E. Coli,
Salmonella, Mycoplasma cũng thường xuyên gây thiệt hại cho các đàn vịt. Bệnh

8

do các chủng vi khuẩn Escherichia coli (E. Coli) thuộc nhóm gây bệnh cho gia
cầm (APEC) gây ra.
Theo
Trung tâm Phòng và ngừa bệnh (Disease Control and Prevention):
tính đến ngày 22 tháng 01 năm 2009 có 491 số người mắc bệnh thương hàn do

các phương tiện sát trùng có phổ sát khuẩn rộ
ng. Các bề mặt như nền chuồng,
tường cần được được dọn và rửa sạch trước khi sát trùng. Thao tác này sẽ
giúp loại bỏ một số lượng lớn vi sinh vật và tăng hiệu quả sát trùng. Người
làm công việc sát trùng cần được huấn luyện kỹ để hiểu rõ các yêu cầu cần
thiết khi tiến hành công việc, trước khi xử dụng các chất sát trùng, phải đọc
kỹ hướng dẫn xử
dụng. Nên chọn chất sát trùng phù hợp với đối tượng và
điều kiện thực tế.
Bệnh Mycoplasma là bệnh truyền nhiễm chung của nhiều loại gia cầm, đặc
biệt là khi nuôi theo hướng tập trung công nghiệp thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng
cao. Có 2 đường truyền lây bệnh chính: truyền dọc qua trứng đến các thế hệ

9

sau, vi khuẩn xâm nhập vào phôi gây chết phôi; truyền ngang do gia cầm
khỏe bị nhiễm bệnh từ tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh từ con bệnh, vật mang
trùng hoặc trong bụi.
Để phòng và trị bệnh vi khuẩn trên vịt, ngoài công tác vệ sinh phòng
bệnh, việc dùng các chế phẩm sinh học và kháng sinh là cần thiết.
Hiện nay có rất nhiều các công trình nghiên cứu thành công các chế
phẩm sinh học để bổ sung vào trong khẩu phần ăn cho gia cầm, nhằm giảm
việc sử dụng kháng sinh. Một số chế phẩm sinh học như Orgacids, Allzym, có
tác dụng kích thích tính ăn ngon miệng, làm giảm pH trong đường ruột, máu,
phân - ức chế virus và vi khuẩn gây bệnh làm giả
m nguy cơ mắc các bệnh
như cúm gia cầm, Newcastle, Gumboro, E. Coli, Salmonella, Clostridium, các
chế phẩm này cũng kích thích sự phát triển của vi khuẩn hữu ích giúp ổn định
hệ vi sinh vật trong đường ruột (Mingan Choct, 2002 [64]). Mặt khác khi sử
dụng các chế phẩm này không ảnh hưởng đến chất lượng thịt cũng như ảnh

o
C.

10

Làm sạch và khử trùng theo quy định của chương trình an toàn sinh học
sẽ đảm bảo được số lượng vi khuẩn luôn đáp ứng những giới hạn (ví dụ như:
Salmonella và giảm 99,99% tổng số vi khuẩn trong môi trường).
Ấp trứng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất và thị trường. Vì vậy,
để giữ uy tín cần giữ cho gia cầm 01 ngày tuổi không bị nhiễm bệnh. Trong
quá trình ấp gia cầm không bị nhiễm bệnh, nhưng có thể bị nhiễm sau khi nở
nếu an toàn sinh học không đảm bảo. Do vậy, cần phải đảm bảo an toàn sinh
học nghiêm ngặt, giám sát chặt chẽ do khả n
ăng gây bệnh rộng khắp từ các cơ
sở ấp riêng rẽ không có kiểm soát.
Theo Charler Deeming, 1995 [51] nguyên nhân chết phôi cao ở trứng
gia cầm là do trứng bị nhiễm nấm mốc và vi khuẩn. Vì vậy phải khử trùng
trứng trước khi bảo quản và trước khi vào ấp. Ngoài ra điều kiện trong máy
ấp, máy nở thích hợp cho các vi khuẩn phát triển.
Chương trình an toàn sinh học Dupont phù hợp với các nguyên lý của
HACCP đã cung cấp chi tiết các hoạt động kiểm soát để loại bỏ những nguy
cơ nhiễm vi khuẩn của gia cầm con từ: trứng; khu ấp và thiết bị gây nhiễm;
không khí, hệ thống thông thoáng; người và thiết bị có thể di chuyển được.
Mục tiêu của chương trình là ngăn chặn bệnh tật gây ra trong thời gian ấp nở
trứng, đồng thời đáp ứng mục tiêu ngăn chặn sự lây lan truyền nhiễm trong ấp
nở.
Làm sạch và khử trùng trứng và máy ấp nở là bước đầu tiên nhằm đảm
bảo tối ưu vệ sinh khu ấp nở, tạo điều kiện ấp nở tốt nhất.
1.1.3. Các giải pháp xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi trường
Đối với các cơ sở chăn nuôi gia cầm nói chung, chăn nuôi vịt nói riêng

cho biết hiệu quả xử lý phân lợn bằng hệ thống IC-SBR (là một hệ thống bao
gồm lò phản ứng IC gây phân huỷ yếm khí nguyên liệu ban đầu nối liền với
lò ph
ản ứng phối hợp SBR để xử lý chất thải phân huỷ yếm khí trực tiếp).
Hiệu giá COB giảm 80,7%. Sau khi tiếp hệ thống SBR hiệu quả giảm ô nhiễm
môi trường đạt được như sau: COD giảm 95,5%. Ni tơ tổng số 93%, phốt pho
tổng số giảm 75,2%, NH3-N giảm 99,94%.
Trên thế giới đã nghiên cứu nhiều chế phẩm dùng để xử lý môi trường như
khử mùi, tạo chất xúc tác hoá h
ọc, phá huỷ các mối liên kết hoá học của chất thải
để dễ dàng phân huỷ nhằm tăng hiệu quả trong quá trình xử lý: như Anolyte,
De-odorase, EM, Hiện nay tại Bỉ tập đoàn ASPAC Intl đã sản xuất chế
phẩm BUN ODOUR là một sản phẩm tự nhiên tổng hợp độc đáo và hiệu
quả từ 52 loại tinh dầu chiết xuất nguồn gốc tự nhiên và có khả năng phá
huỷ rấ
t nhiều hợp chất mùi khó chịu trong không khí chuồng trại chăn nuôi
Bun odour có quy mô là sản phẩm mới có ứng dụng rộng rãi: đưa vào bể xục
khí CO
2
, trạm bơm, nhà máy xử lý nước thải, hố bùn, rác, lò giết mổ, khu
chứa rác, thiết bị tái sinh và trộn phân, trại chăn nuôi , vườn thú. Hiện nay
Bun dour dùng xử lý môi trường là công nghệ mới, một sự lựa chọn rẻ, thân
thiện với môi trường.
Phương pháp sản xuất dung dịch hoạt hoá điện hoá (Electrochemical
activation ECA) được nhà bác học người Nga Bakhir V.M tìm ra từ năm 1972
và cho đến nay được sử dụng rộng rãi trên khắp thế gi
ới trong các ngành y tế,
nông nghiệp, dịch vụ sinh hoạt với vai trò là chất khử trùng ưu việt: hiệu quả
khử trùng cao, thân thiện với môi trường, giá rẻ (Nguyễn Hoài Châu, 2005
[8]).

bng 2 cỏch: chỡm v ni thi gian 4-6 thỏng, sau khi thy phõn hoi
mc khụng cũn hụi thi l cú th dng bún cho cõy tr
ng.
Trong phng phỏp lm phõn compost thụng thng, cỏc thnh phn
c trn vi nhau sau ú vun thnh ng . Vt liu b sung v cht n.
Vỡ quỏ trỡnh compost xy ra mt cỏch t nhiờn, nờn quỏ trỡnh ũi hi cỏc iu
kin chớnh xỏc din bin nhanh, gim s thiu phỏt sinh mựi v trỏnh cỏc
vn gõy nhiu. Cú ti trờn 20 yu t cn phi kim soỏt nh hng ti quỏ
trỡnh compost.
1.1.4. Mô hình chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học và hiệu quả trong chăn
nuôi vịt
Năm 2005, khoảng 2-3 triệu vịt đợc nuôi trong hệ thống an toàn sinh
học cao khép kín. Trong khi đó hệ thống chuồng nuôi mở không đ
ợc thực
hiện ở loại vịt thịt, đặc biệt là việc xuất khẩu có liên quan tới an toàn thực
phẩm và biện pháp kiểm soát dịch bệnh. Tuy nhiên, vịt đẻ vẫn đợc nuôi trong
hệ thống chuồng đợc phủ bằng nylông để chặn chim hoang dã xâm nhập.
Giám sát an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh đợc thực hiện nh trên
nhng cứ 3 tháng lại phân tích mẫu một lần.
Thỏng 10 nm 2005 chớnh ph Thỏi Lan ó cm vic chn th vt hoc di
chuyn t vựng ny sang vựng khỏc, ngi chn nuụi s b pht nu vi phm.
Nu xy ra dch cỳm gia cm xy ra trờn cỏc n vt nuụi th ng h s
khụng c nhn tin bi thng. Hin ti vic nuụi chn th
cng ó c
hn ch, vic thc hin an ton sinh hc cng c nõng cao Thỏi lan
(Songserm Thaweeksak v cng s, 2006 [71]). Cỏc ging nuụi tht, Bc
Kinh v Chery valley c nuụi chung khộp kớn, 5.000-6.000 con trờn mt
chung. Vt con 01 ngy tui c nuụi ly tht thi gian 50-65 ngy c
nuụi theo h thng cựng vo cựng ra.


lng
So vi
nm trc
(%)
S
lng
So vi
nm trc
(%)
57,9 63,6 68,9 59,0 89,5 59,9 101,5 62,6 104,5
Ngun: Cc Chn nuụi B nụng nghip & PTNT, 2007
Nm 2001 tng n thu cm 57,9 triu con, nm 2003: 69,9 triu con,
do nh hng ca dch cỳm gia cm nờn nm 2004 ch cũn 59 triu con. Do
xu hng bựng phỏt mnh ca dch cỳm gia cm trờn n thy cm nờn B
nụng nghip v Phỏt trin nụng thụn ó ch o gt gao thc hin vic khụng
cho phộp p n, tng n thy cm trong hai nm t 4/2/2005
n 28/2/2007,
song n thy cm vn phỏt trin. C th nm 2005 n vt c nc 59,9 triu
con tng 1,5% so vi nm trc. Nm 2006: 62,6 triu con tng 4,5%. Nm
2007 tng n thy cm ó hn 68 triu con (Bỏo Lao ng s 280 ngy
1/12/2007 [5]).
Chn nuụi vt úng mt vai trũ quan trng trong i sng ca ngi dõn
Vit Nam, Vt đợc nuôi chy ng mang li cụng
n vic lm, hiu qu kinh
t cho ngi nụng dõn, trang tri, tuy nhiờn vn cũn tn ti l chn nuụi vt
chy ng gõy ụ nhim ngun nc, d lõy lan dch bnh.
Từ nhiều năm nay, chăn nuôi vịt mang lại nhiều việc làm và là nguồn
kinh tế quan trọng của hàng triệu hộ nông dân, nhiều trang trại đặc biệt là
vùng đồng bằng sông Cửu Long (24,6 triệu con) và đồng bằng sông Hồng
(17,6 triệu con), hai đồng bằng này số lợng vịt chiếm 61,1% tổng đàn vịt cả

T khi xy ra dch cỳm gia cm Vit Nam ó cú nhiu bin phỏp nhm
gim thiu ri ro do dch bnh gõy nờn, t thỏng 4/2/2005 n thỏng 28/2/2007
ó cm p trng v nuụi mi thy cm.
Nm 2005 chớnh ph ó phi chi vi s tin l 480 nghỡn t ng tiờm
phũng vaccin cho ton b n gia cm trờn c nc, nhng cỏc nh chuyờn
mụn v qun lý vn khuyn cỏo rng tiờm phũng vaccin ch l 1 bin phỏp
trong nhiu bin phỏp tng hp khng ch dch bnh v khng nh bin
phỏp an ton sinh hc vn l hng u.
Mt s thớ nghim nghiờn cu v nh hng ca mựa v, phng thc
nuụi v cỏc vựng sinh thỏi n mt s ch tiờu sn xut ca n vt CV Super
M: K
t qu nuụi khụ hon ton mt s ch tiờu nng sut thp hn vt nuụi bi
li nhng chi phớ n sn phm cui cựng l vt con mt ngy tui thỡ thp hn
nuụi nc (Nguyn Hng V v cng s, 2005 [42]).
Hin nay chn nuụi vt nc ta cng theo 4 phng thc ch yu:
Chn nuụi nụng h, chn nuụi vt chy ng, chn nuụi bỏn cụng nghip v
chn nuụi cụng nghip.
Chn nuụi vt nc ta thng nuụi theo li tn dng, phõn tỏn, t do,
bi vy t thỏng 10/2007 tr li õy, trờn nhiu tnh, thnh ph ó xut hin
nhiu dch cỳm gia cm m ngun bnh do vt chim ti 86%. Trong ú cỏc
n vt chy ng t xó ny sang xó khỏc, huyn ny sang huyn khỏc, tnh
ny sang tnh khỏc, thm chớ l vt xuyờn biờn gii Vit Nam Campuchia,
chớnh l nguyờn nhõn ch yu gõy s bựng phỏt v lõy lan dch b
nh trờn din
rng. T nguyờn nhõn c bn phi nh hng cho ngi chn nuụi theo cỏc

15

phng thc chn nuụi phự hp vi tng vựng sinh thỏi ng thi m bo
tớnh bn vng.

v vn tn dng ngun thc n ngoi t nhiờn vi mt lng nh, b sung
thờm nh c bu vng, rau bốo cỏc loi v phi cú lao ng i thu lm.
Nh vy, ngun thc n cho vt nuụi nht hon ton phi i mua, ngoi tr
vi nhng ngi nuụi vt vi s lng ớt v tn dng cỏc ngun ph
phm ph
thi trong sinh hot ca nụng h chn nuụi.
1.2.2. An toàn sinh học và quy trình thú y phòng bệnh cho vịt
Ngy 14/3/2008 theo tin nhanh.com [33] Qung ngói, vt cht hng
lot do dch t vt. Bỏo Si Gũn Gii phúng ngy 31/5/2008 [3] ó vit Phỳ
Yờn, dch t vt bựng phỏt, lan rng nhiu a phng nh Tuy An, Tõy Ho,
Phỳ Ho, riờng xó Ho Tr - Phỳ Ho trong tun ó cú trờn 1300 con vt cht do
dch t vt.
Qua phõn tớch trỡnh t nucleotide 8 on ARN ca 9 chng virus cỳm
H5N1 t ngi (2 ch
ng), chim cỳt (1 chng), vt (2 chng), v g (4 chng)
trong t dch 2003-2004 v lp cõy ph h, Nguyn Tin Dng v cng s,

16

2004 [13] cho thấy các chủng virus H5N1 lưu hành ở Việt Nam đều giống
nhau và có cùng nguồn gốc từ Trung Quốc và xuất phát từ một ổ dịch ban
đầu.
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Tiến Dũng, 2004 [12] trên đàn gia cầm
của tỉnh Thái Bình và Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy ngoài virus cúm
H5N1, đàn gia cầm còn nhiễm các loại virus typ A có kháng nguyên H3, H4,
H6, H9, H11và H12 với tỉ lệ nhiễm khác nhau.
Một nghiên cứu khác của Viện Thú y về sự lư
u hành của virus trong đàn
chim di cư qua việc phân tích 320 mẫu phân chim tại một số địa phương trong
đó có Vườn Quốc gia Xuân Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định bằng

tím với tỷ lệ 17,5g thuốc tím + 35ml Formol/1m
3
buồng xông, thời gian xông
15 phút. Sau đó nếu chưa đưa vào ấp ngay thì phải chuyển vào kho bảo quản.
Trứng được xông sát trùng cho tỷ lệ nở/phôi cao hơn không xông sát trùng là
2 - 3%.

17

Máy ấp sử dụng phương pháp ấp đơn kỳ thì sau mỗi đợt ấp phải rửa
sạch. Khi ấp đa kỳ tối đa có trứng của 4 lứa tuổi khác nhau. Máy nở và dụng
cụ sau mỗi đợt nở xong phải rửa và sát trùng. Toàn bộ khu trạm ấp trong và
ngoài thường xuyên phun sát trùng định kỳ 1 tuần/lần. Bố trí phương tiện vận
chuyển nội bộ riêng trong trại; các xe vậ
n chuyển trước khi vào trại phải được
phun xịt khử trùng bằng hóa chất.
Tại khoản 2, điều 2 vệ sinh thú y cơ sở ấp thuộc quyết định số 17/QĐ-
BNN ngày 27/02/2007 [27] của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về
điều kiện ấp trứng có nêu rõ: Trứng ấp phải có nguồn gốc từ cơ sở sản xuất
trứng giống có khai báo, đăng ký của cơ quan thú y.
Trong đ
iểm 4.4 tiêu chuẩn TCN 878-2006 [31], quy định rất chi tiết về
tiêu chuẩn vệ sinh an toàn sinh học cho cơ sở ấp trứng gia cầm.
Phương pháp sản xuất dung dịch hoạt hoá điện hoá (Electrochemical
activation ECA) được nhà bác học người Nga Bakhir V.M tìm ra từ năm 1972
và cho đến nay được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới trong các ngành y tế,
nông nghiệp, dịch vụ sinh hoạt với vai trò là chất khử trùng ưu việt: hiệu quả
khử trùng cao, thân thi
ện với môi trường, giá rẻ (Nguyễn Hoài Châu, 2005
[8]).

Nguyễn Thị Ngọc Liên, 2005 [18] nghiên cứu đánh giá một số chỉ tiêu vệ
sinh chuồng nuôi và sử dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi vịt tại Trung tâm
nghiên cứu vịt Đại Xuyên cho thấy khi sử dụng EM phun vào chấ
t độn chuồng
nuôi vịt đẻ đã làm giảm đáng kể vi sinh vật gây hại và mùi hôi. Sử dụng EM bổ
sung vào nước uống cho vịt nuôi vỗ béo làm tăng khả năng tăng trọng.
Viện sinh học nông nghiệp- Đại học nông nghiệp Hà Nội [41] nghiên cứu
chế phẩm EMINA dùng trong chăn nuôi. EMINA là chế phẩm vi sinh hữu hiệu
gồm: vi khuẩn quang hợp, lactic, Bacillus subtilic, B mesentericus, B.
Megaterium, xạ khuẩn nấm men. Các vi sinh vật hữu hiệu này đượ
c phân lập từ tự
nhiên hoàn toàn không độc với người, động vật và môi trường. EMINA có thể
dùng bổ sung vào thức ăn, nước uống cho gia súc, phòng và trị được bệnh tiêu hoá
cho vật nuôi. EMINA còn có tác dụng khử mùi, phân giải xellulose nên dùng để
phun trực tiếp vào chuồng nuôi, đổ vào hố ga và xử lý phân.
1.2.4. Mô hình chăn nuôi vịt an toàn sinh học
Theo Www. dost.Bentre.gov.vn ngày 24/8/2007 cho biết Trung tâm
khuyến nông Quốc gia đã chuyển giao mô hình chăn nuôi vịt an toàn sinh học
cho 9 hộ ở Mỹ Thạnh - Phong Mỹ - Gi
ồng Chôm và xã Tân Xuân- An Phú
Trung- Ba Tri. Kết quả cho thấy với mô hình 2000 con/hộ (có sự hỗ trợ
6.150đồng/con bao gồm cả giống, thức ăn, thuốc thú y và được tập huấn về
kỹ thuật chăn nuôi, thú y, an toàn sinh học) đã giúp người dân ý thức được
cách thức chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học, hạn chế thả rông để dễ dàng
khống chế khi có dịch xẩy ra, đồng thời nâng cao thu nhập.
Theo Www. khuyennongvn.gov.vn ngày 19/4/2008 [43] gia đình ông
Lê Đình Đời
ấp Mỹ Hoà - Tháp Mười- Đồng Tháp có truyền thống nuôi vịt
thả đồng cho biết nuôi vịt chạy đồng vất vả, với 1000con vịt nuôi thịt chạy
đồng phải cần 3 người, tỷ lệ nuôi sống thấp, hao hụt do thất lạc, chết bởi

1.2. Nghiên cứu khẩu phần thức ăn thích hợp cho vịt sinh sản, thương phẩm
nuôi nhốt.
1.3. Nghiên cứu mậ
t độ nuôi thích hợp trong phương thức nuôi nhốt đối với
vịt sinh sản và thương phẩm.
1.4. Xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi vịt sinh sản và thương phẩm theo
phương thức nuôi nhốt và chạy đồng có khoanh vùng
Nội dung 2: Nghiên cứu xây dựng qui trình thú y phòng trị bệnh đối với vịt
nuôi nhốt, chạy đồng có khoanh vùng
2.1. Nghiên cứu quy trình vệ sinh thú y phòng bệnh
Nghiên cứu chế độ phun chất sát trùng chuồng trại phù hợp trong thời
gian tr
ống chuồng và trong thời gian đang nuôi vịt.
2.2. Nghiên cứu xây dựng biện pháp phòng bệnh
2.2.1. Theo dõi biến động hiệu giá kháng thể cúm gia cầm thụ động trên vịt.
2.2.2. Nghiên cứu xác định hiệu giá kháng thể chủ động và độ dài miễn dịch
cúm gia cầm, dịch tả vịt.
2.2.3. Nghiên cứu các biện pháp hạn chế bệnh do vi khuẩn và Mycoplasma
gây nên ở vịt: dùng kháng sinh, một số chế phẩm sinh học và dung dịch
Anolyte để phòng và trị bệnh cho v
ịt.
2.3. Nghiên cứu xây dựng quy trình vệ sinh an toàn sinh học cho cơ sở ấp
trứng vịt
Nghiên cứu hiệu quả khử trùng máy ấp, máy nở bằng ozon, xông
focmon và thuốc tím.
2.4. Xây dựng qui trình thú y phòng trị bệnh đối với vịt nuôi nhốt và chạy
đồng có khoanh vùng
Nội dung 3: Nghiên cứu các giải pháp xử lý chất thải đảm bảo vệ sinh môi

20

Miền Nam 300 300
Vịt thương phẩm

Miền Bắc 300 300
Miền Nam 300 300
- Phương thức nuôi chạy đồng có khoanh vùng
Phạm vi khoanh vùng: Chỉ thả vịt phạm vi trong 1 xã hoặc 1 thôn đối
với miền Bắc. Phạm vi 1 xã hoặc vài xã đối với miền Trung và miền Nam.
Trước khi thả đã tiêm phòng các loại vaccine: Viêm gan vịt, Cúm gia
cầm H5N1, Dịch tả vịt.
Thực hiện tại miền Bắc (Lương Tài - Bắc Ninh, Bình Giang, Thanh
Miện, Ngô Quyền - Hải Dương) và miền Nam (Long An).

21 Danh mục
Lô 1
(Bắt đầu cho chạy đồng 17
ngày tuổi)
Lô 2
(Bắt đầu cho chạy đồng 20
ngày tuổi)
Vịt sinh sản

Miền Bắc 300 300
Miền Nam 300 300
Vịt thương phẩm

Miền Bắc 300 300

2.2.1.3. Nghiên c
ứu mật độ nuôi thích hợp trong phương thức nuôi nhốt
Thực hiện tại miền Bắc (Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình), miền
Nam (Trại vịt giống Vigova Bến Cát- Bình Dương) và miền Trung (Cát
Minh- Phù Cát -Bình Định). Mỗi lô 300 con và thí nghiệm lặp lại 3 lần

22 Mật độ (con/m
2
) Danh mục
Lô 1 Lô 2 Lô 3 (đối chứng)
Vịt sinh sản
Sơ sinh – 8 tuần tuổi
10,8 11,4
12
9- 24 tuần tuổi 7,2 7,6 8
Trên 24 tuần (Sinh sản) 3,1 3,3 3,5
Vịt thương phẩm
Sơ sinh -2 tuần tuổi 18 19 20
3-6 tuần tuổi 12,6 13,3 14
7-giết thịt 9 9,5 10
2.2.2. Nghiên cứu xây dựng qui trình thú y phòng trị bệnh đối với vịt nuôi
nhốt, chạy đồng có khoanh vùng
Sử dụng phương pháp phân lô so sánh và thí nghiệm được lặp lại 3 lần.
2.2.2.1. Nghiên cứu quy trình vệ sinh thú y phòng bệnh
Thí nghiệm tại Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình. Mỗi lô có diện
tích là 63m
2

khí lấy tại
mỗi vị trí
Số lượng
mẫu nền
chuồng
thu tại mỗi
vị trí
1 3 250 24 2 3 2
2 5 250 24 2 3 2
3 7 250 24 2 3 2
Thời gian phun dung dịch sát trùng: vào 8 giờ sáng,
+ Thu mẫu không khí và phân tích vi sinh vật trong không khí chuồng
nuôi theo phương pháp Koch.
+ Thu mẫu nền chuồng và phân tích vi sinh vật theo phương pháp
thường quy tại Trung tâm kiểm tra vệ sinh thú y.
+ Phân tích các chỉ tiêu
- Trong không khí chuồng nuôi: Tổng số vi khuẩn hiếu khí, coliform,
nấm mốc, E. coli và Cl. perfringens, đơn vị tính CFU/m
3
không khí

23

- Trong nền chuồng: Tổng số vi khuẩn hiếu khí, coliform và nấm mốc,
đơn vị tính CFU/m
2

nền chuồng.
2.2.2.2. Nghiên cứu xây dựng biện pháp phòng bệnh
Thí nghiệm tại Trạm Nghiên cứu gia cầm Cẩm Bình

Trung (Cát Minh- Phù Cát -Bình Định), mi
ền Nam (Trại vịt giống Vigova
Bến Cát - Bình Dương).
Kiểm tra sự có mặt của kháng thể Salmonella và Mycoplasma trong
huyết thanh, sử dụng phương pháp ngưng kết nhanh trên phiến kính. Phân lập
vi khuẩn E. coli và Salmonella gây bệnh bằng phương pháp thường quy tại bộ
môn Vi trùng – Viện Thú y. Kiểm tra độ mẫn cảm của vi khuẩn phân lập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status