1. Giống gà
- Gà con giống được mua từ những cơ sở ấp nở gà có uy tín về chất lượng con giống.
- Gà con phải được ấp từ trứng của đàn gà giống đã được lựa chọn kỹ lưỡng, được
nuôi đúng quy trình, được nhận kháng thể của mẹ truyền qua một số bệnh như:
Gumboro, Newcatle.
- Chọn những gà con khỏe mạnh, độ đồng đều cao, phản ứng nhanh nhẹn, không bị dị
tật, mỏ và chân vững chắc, màng da chân bóng. Tránh chọn những gà con nở quá
sớm hoặc quá muộn, những gà quá nhỏ, lông xơ xác, hở rốn, da chân nhăn và khô,
chảy nước mũi…
- Khối lượng vào 1 ngày tuổi khoảng 40g trở lên.
2. Chuẩn bị chuồng trại và trang thiết bị.
- Chuồng được xây dựng trên nền đất cao ráo và khô thoáng, dễ thoát nước. Nếu có thể
thì nằm trên vùng đất kém chất lượng về giá trị trồng trọt càng tốt. Nằm ở khu dân cư
thưa thớt. Có nguồn nước ngầm ổn định, sạch và dồi dào đủ tiêu chuẩn trong chăn
nuôi.
- Chuồng nuôi đảm bảo thông thoáng, tốt tiểu khí hậu chuồng nuôi: nhiệt độ, độ ẩm và
sự thông khí.
- Về hướng chuồng nên xây dựng hướng Đông – Tây dọc theo trục Bắc – Nam. Làm
sao tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời vào buổi sáng sớm dọc theo chiều dọc của
chuồng và tránh được ánh nắng gay gắt của buổi trưa.
- Kích thước chuồng nuôi khoảng 10 x 25 m, đủ nuôi từ 2000 – 2300 gà thả vườn.
- Nền chuồng vững chắc, chịu được sức nén của những kết cấu, làm hình mu rùa với
độ dốc vừa phải để dễ thoát nước. Có thể đổ nền bằng đá và xi măng nhưng chú ý
làm khô và nhám, tránh tráng nhiều xi măng và tráng kỹ sẽ làm nền không hút ẩm tốt
tạo độ ẩm ướt không tốt và rất dễ sinh bệnh tật. Ở các tỉnh miền Tây hay tùy thuộc
một số địa hình thích hợp có thể làm nền chuồng cao bằng đất và rải vôi, sau đó nện
chặt cho cứng và bằng là được hoặc có thể tận dũng xà bần và kết hợp với ít ximăng.
- Trụ quanh chuồng có thể đổ bằng cột bê tông hoặc bằng gỗ, cừ tràm sao cho độ cao
chuồng nuôi không kể mái 2.5 – 3.0 m. Một dãy chuồng kích thước 10 x 25m thì
chiều dài 2 cạnh cần 9 trụ và chính giữa 9 trụ, tổng cộng 27 trụ. Chuồng trại đơn giản
không cần cầu kỳ, quan trọng là đủ không gian thoáng mát, càng thông thoáng càng
2,5 – 3m đủ cho 300 – 500 gà con một ngày tuổi (lưu ý tấm quây phải đủ dài
để còn nới rộng theo sự phát triển của gà).
- Nền được phủ một lớp độn chuồng đã được sát trùng và dày khoảng 15 – 20
cm.
- Dọn vệ sinh sát trùng kỹ chuồng úm trước khi bắt gà về.
- Chuẩn bị đầy đủ chụp sưởi bằng bóng điện có công suất 75 – 100W, treo cách
nền chuồng khoảng 30cm.
- Khoảng 3,5 – 4W/m
2
.
- Chuồng úm cho gà con phải đủ rộng và số lượng bóng đủ để làm ấm gà (trung
bình 100gà/bóng). Nếu gà con lạnh thì tụm nhau lại và nóng thì cũng có
không gian để tản ra.
3. Bắt gà con về.
2
- Kích thước hộp vận chuyển gà con: 60 x 50 x 12cm; chia 4 ngăn. Mỗi mặt chiều dài
của hộp có 14 lỗ thông thoáng đường kính 2cm. Nắp hộp có 28 lỗ thông khí chia đều
4 ngăn với đường kính mỗi lỗ 2cm.
- Để gà khỏi lạnh và không bị ngạt thì mỗi ngăn như vậy xếp 25gà, như vậy mỗi hộp
vận chuyển 100 gà con.
- Nhiệt độ trong hộp cần đảm bảo 30 – 32
0
C và không giữ gà trong hộp quá 48 giờ
(mỗi giờ giữ trong hộp khối lượng gà con giảm 0,1g).
- Vận chuyển gà vào sáng sớm hay chiều tối là tốt nhất.
- Chuồng úm đã được chuẩn bị, tiêu độc, sát trùng toàn diện trước.
- Trước khi bắt gà về khoảng 3 – 4 giờ cần làm ấm chất độn chuồng bằng cách bật các
bóng đèn sưởi.
- Đóng kín rèm che trước khi thả gà vào chuồng úm.
- Trước khi cho gà vào chuồng, nước uống (nước đun sôi để nguội hơi ấm) đã được
1 – 3 38 29 31 – 33
4 – 7 35 28 31 – 32
8 – 14 32 28 29 – 31
15 – 21 29 25 28 – 29
- Ẩm độ chuồng úm từ 60 – 75%.
- Tuần đầu bắt gà con chiếu sáng 24 giờ/ngày.
4. Dinh dưỡng thức ăn.
4.1. Năng lượng
- Trong quá trình sống gia cầm luôn trao đổi năng lượng với môi trường xung quanh
và luôn thu nhận năng lượng từ bên ngoài vào, vì mọi hoạt động sống đều cần năng
lượng. Năng lượng này đều được lấy từ thức ăn mà gia cầm thu nhận hàng ngày như
cacbonhydrate, lipid, protein.
- Gia cầm nhận thức ăn bên ngoài vào qua sự tiêu hóa và hấp thu các vật chất trên ở
đường tiêu hóa, sau khi được hấp thu vào cơ thể tổng hợp thành lipid, đường
glucogen, protein của của cơ thể qua con đường tổng hợp sinh học.
- Tất cả năng lượng thừa sau khi sử dụng cho sinh trưởng bình thường các hoạt động
sống của con vật sẽ không loại khỏi cơ thể mà tích lũy trong mỡ. Mức năng lượng có
xu hướng tỷ lệ thuận với hàm lượng mỡ trong thịt.
- Hiện nay người ta tính toán nhu cầu năng lượng cho gia cầm bằng năng lượng trao
đổi (ME – Metabolisable Energy).
- Gia cầm thu nhận thức ăn trước hết là để thỏa mãn nhu cầu năng lượng. Do đó khi
thu nhận đủ năng lượng rồi thì chúng không ăn thêm nữa, mặc dù nhu cầu các chất
dinh dưỡng khác vẫn còn thiếu. Vì vậy có thể nói năng lượng là “chìa khóa chính”
cần sử dụng trong khi phối hợp khẩu phần ăn cho các loại gia cầm.
- Mức năng lượng trong khẩu phần có liên quan đến nhiệt độ môi trường và lượng
thức ăn thu nhận. Nhiệt độ môi trường cao sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận.
Trong mùa hè, khi nhiệt độ môi trường >29
0
C, nếu cho gà ăn thức ăn có cùng mức
năng lượng như mùa đông thì nó chỉ thu nhận thức ăn bằng 80 – 85% lượng thức ăn
máng ăn thì cho 20 – 25 gà con.
- Những thức ăn còn lại trong khay hay máng ta sàng lại để loại bỏ chất độn chuồng
sau đó có thể cho gà ăn lại thức ăn đó (lưu ý chỉ trong ngày và ngày sàng khoảng 2
lần).
- Cần lưu ý một điều rằng muốn đồng đều về khối lượng thì tất cả gà phải có ăn trong
vòng 3 phút.
- Khi đã buông chuồng úm (hết tuần đầu ta có thể buông chuồng úm) thì cho thay hoàn
toàn bằng máng ăn P40. Một máng như vậy cho 40 – 50 gà trong cuối tuần thứ 2 đến
tuần thứ 4. Từ tuần thứ 4 trở đi thì một khay ăn như vậy cho 40 gà là vừa. Và đến
5
tuần thứ 6 thì một máng như vậy chỉ cho khoảng 30 gà thôi. Lúc này gà cũng được
buông hết ra vườn rồi ta có thể dùng vỏ bao trải xuống nền vườn rồi đổ thức ăn ra
cho ăn, làm sao cho tất cả gà đều có ăn trong vòng 3 phút, như vậy mới đồng đều về
khối lượng.
- Máng ăn phải treo ở độ cao thích hợp tùy thuộc vào độ lớn của gà mà chỉnh độ cao
của máng ăn sao cho vừa để gà thu nhận được lượng thức ăn tối đa lại vừa không để
gà đi phân hay làm văng chất độn chuồng vào máng ăn.
- Ở cách móc dưới treo máng ăn khoảng 40cm buộc một móc kẽm để khi cho gà ăn
khoảng 30 phút ta treo máng khoảng 2 – 3 giờ giúp gà tạo cảm giác thèm ăn và tận
dụng thức ăn (gà sẽ lượm những hạt thức ăn rơi vãi trên nền chuồng), làm tăng khả
năng lợi dụng thức ăn của gà (ăn lượng ít nhưng vẫn tăng trưởng tốt). Vào mùa hè,
buổi trưa thường nóng, gà lại không có tuyến mồ hôi, do đó sẽ thải nhiệt bằng cách
xõa cánh, chui mình xuống lớp chất độn chuồng dưới máng uống, thở; vì vậy mà gà
sẽ không ăn hoặc ăn ít, có vô máng chỉ phá thức ăn cho rơi vãi, nên ta treo máng thời
gian lâu hơn, khoảng 10h00 - 10h30 trưa ta treo máng đến 14h00 – 14h30 chiều mới
hạ máng cho ăn lại.
- Một thời gian có thể đưa ra như sau: 05h30 – 06h00 sáng cho ăn, chỉ cần 30 phút là
gà có thể ăn xong, ta treo máng ăn, sau đó vệ sinh máng uống và thay nước mới; Đến
09h00 – 09h30 cho ăn và khoảng 10h00 treo máng; Đến 14h00 - 14h30 cho ăn và
15h00 treo máng đồng thời đổ thức ăn; 17h30 cho ăn và 18h00 treo máng và đổ thức
về đầu mùa khô, trời hay mưa về buổi tối, ta để máng trống thức ăn, sáng dậy làm vệ
sinh máng (lau chùi sạch sẽ để khô) và cho gà ăn tiếp.
- Vệ sinh máng ăn 1lần/10 ngày, tháo máng ăn rửa sạch, phơi khô sau đó xịt sát trùng,
để khô rồi tiến hành lắp máng ăn lại.
- Nhu cầu nước uống cho 100 gà con tuần đầu khoảng 4 lít một ngày, tuần thứ 2 là 7
lít, tuần thứ 3 là 9 lít, tuần thứ 4 là 10 lít, tuần thứ 5 là 11 lít, 6 tuần tuổi là 12 lít
(thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi, nhiệt độ nước uống, khối lượng cơ thể, lượng thức
ăn thu nhận, hàm lượng muối trong thức ăn…).
- Thường nhu cầu nước uống có liên quan đến lượng thức ăn tiêu thụ, tỷ lệ này thường
là 2/1.
- Tập tính con gà không uống nhiều nước một lần nhưng lại uống nhiều lần trong
ngày, không ăn nhiều một lần nhưng lại ăn nhiều lần trong ngày, biết được tập tính
như vậy người chăn nuôi chủ động hơn trong việc ăn uống.
- Máng uống phải treo ở độ cao thích hợp để gà có thể uống thoải mái và khi gà bới
không bị văng chất độ chuồng vào nước uống.
- Cần bố trí máng uống sao cho gà đi lại không quá 3m sẽ gặp máng uống và bố trí xen
kẽ máng ăn – máng uống.
- Cần lưu ý không được đặt máng uống dưới chụp sưởi. Gia cầm nói chung và gà nói
riêng không thích uống nước nóng. Gà không thích uống nước có nhiệt độ từ 25
0
C.
7
Nhiệt độ nước uống từ 35
0
C đã làm giảm rõ rệt lượng nước uống và nhiệt độ nước
uống là 45
0
C gà không uống nữa mặc dù rất khát.
- Nếu không sử dụng thuốc, men vi sinh… thì một ngày thay nước cho gà 2 lần, còn
nếu sử dụng thuốc hay men thì một ngày thay nước 3 lần (đối với máng uống bình
hành rải thêm và mới chất độn chuồng khoảng 3 – 4 lần, tùy từng thời điểm mà khi
nào ta thấy lớp chất độn ẩm ướt, hay phân đã nhiều thì tiến hành hốt phân và rải chất
độn chuồng ngay.
- Quan sát đàn trạng thái đàn gà trong thời gian nuôi úm là cách tốt nhất để xác định
nhiệt độ có phù hợp hay không? Đàn gà phân bố đều trong quây, trong chuồng nuôi
là nhiệt độ thích hợp.
8
- Yêu cầu về oxy của gia cầm rất cao, gấp khoảng hai lần so với động vật hữu nhũ tính
theo 1kg khối lượng cơ thể. Vì vậy mà sự thông thoáng không đầy đủ sẽ ảnh hưởng
đến sự phát triển của gia cầm.
- Nhu cầu về không khí phụ thuộc vào lứa tuổi của gà và mật độ nuôi. Ở gà con trung
bình cần 3 – 4 m
3
không khí/1giờ/1kg khối lượng sống. Nhu cầu này tăng dần theo
lứa tuổi:
Tuầ
n
tuổi
Thể tích không khí (lít không khí
mới/gà/phút)
1 – 4 5
4 – 5 7,5
6 – 7 15
- Nếu tính trên 1kg khối lượng cơ thể thì gia cầm tiết ra một lượng hơi nước lớn gấp
10 lần so với đại gia súc. Gà con rất nhạy cảm với độ ẩm không khí chuồng nuôi và
lớp chất độn chuồng.
- Một dãy chuồng như vậy chia làm 2 ô, mỗi ô phải được trang bị một quạt thổi công
suất mạnh, điều chỉnh độ cao của quạt hợp lý bởi tiểu khí hậu của con gà thấp hơn so
với động vật hữu nhũ, tiểu khí hậu của con gà nằm ở 0,5m tới nền, ta chỉnh quạt để
quạt cao từ 0,8 – 1,0m là hợp lý.
năng lượng khi ăn hạn chế và giúp hấp thu tốt các Vit tan trong dầu.
- Bắp ta rải trực tiếp xuống nền vườn cho gà ăn, gà sẽ thu lượm hết không phải đổ vào
máng.
- Buổi sáng có thể cho gà uống probiotic và buổi trưa nắng nóng có thể cho uống điện
giải, Vit C, thỉnh thoảng bổ sung acid amin.
- Có máy đốt mỏ chuyên dùng, khi thấy hiện tượng cắn mổ thì tiến hành đốt mỏ ngay
để tránh hao hụt đàn gà và giữ gìn bộ lông cho gà. Thường ta tiến hành đốt mỏ gà 3
lần trong dòng đời của một gà thả vườn. Đợt đầu lúc giữa tuần thứ 3, đợt II lúc 5 – 6
tuần tuổi (khoảng 37 đến 40 ngày tuổi), và đợt III lúc tuần thứ 9 – 10 (khoảng
65ngày tuổi). Tuy nhiên đến lúc đưa hầu hết gà ra vườn rồi ta có thể không cần phải
đốt mỏ lần III,
- Tập tính của gà là thích bay nhảy, trèo cây, có thể ngủ trên cây luôn, vì vậy ta có thể
gác cây cho gà trèo lên chơi, chống stress cho gà.
- Khi được 5 hoặc 6 tuần tuổi ta tiến hành phân trống mái. Con trống thường ăn nhiều
và lớn nhanh hơn con mái. Bên cạnh đó con trống tính tình hung hăng hơn, nếu để
nuôi chung với mật độ đông như vậy khi ăn thì thường con trống sẽ giành hết phần
ăn của con mái, khi con mái lại máng ăn có khi con trống sẽ mổ, không cho ăn. Phân
trống mái để có chế độ nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý, tạo độ đồng đều (con trống
luôn lớn và nặng hơn con mái nhưng ta nuôi dưỡng hợp lý để tạo độ chênh lệch
khoảng 300g lúc xuất chuồng là hợp lý). Nếu nuôi đều thì khi tới xuất chuồng con
trống sẽ có khối lượng lớn (vượt 2kg/con), rất khó để thị trường chung chấp nhận.
Nuôi dưỡng sao để khi xuất chuồng trung bình con trống từ 1,8 – 2,0 kg và con mái
từ 1,5 – 1,7 kg là vừa.
- Đến 30 ngày gà bắt đầu thay lông cánh và lông đuôi, kéo dài đến 55 ngày tuổi, và từ
ngày 42 gà bắt đầu mọc lông ống, lúc này trong thức ăn ta trộn thêm khoáng chất
10
tổng hợp cho gà (khoáng Biotine) cùng lúc đó cho gà uống thêm acid mine giúp cho
bộ lông phát triển tốt.
- Cần có sổ sách theo dõi tình trạng đàn gà: thức ăn, nước uống, khí hậu, chu chuyển
đàn, khả năng sinh trưởng, lịch phòng, thuốc thú y… Thức ăn nhập về ngày nào, khối
xong thì cho gà ăn ít và uống nước pha điện giải cùng một ít Vitamine.
- Những bệnh đã được chủng ngừa thì không đáng lo ngại, nếu có xảy ra chỉ một số ít
trong quần thể, ta có thể loại bỏ ngay (bệnh đó do virus, ta không thể điều trị hoặc
11
không kinh tế). Ngoài những bệnh được chủng ngừa trên thì xảy ra một số bệnh do vi
khuẩn ta có thể phòng chống kịp thời.
- Đặc biệt quan sát phân của đàn gà là biện pháp để chuẩn đoán bệnh tốt nhất. Trên da
cầm chủ yếu bị 2 bệnh về tiêu hóa và hô hấp là chính. Quan sát phân ta sẽ thấy được
bệnh về đường tiêu hóa.
- Gà còn nhỏ trong tuần đầu thì chú trọng gà hay bị thương hàn do lây từ mẹ qua trứng
(Salmonella). Khi đàn gà ăn ta quan sát, những gà thường đứng yên một chỗ, mắt
nhắm, cánh xõa xuống thì đó là biểu hiện của bệnh thương hàn. Bắt gà lên ta thấy
phân trắng dính hậu môn, bụng dưới trễ xuống và có màu xanh đen, đó là hiện tượng
của lòng đỏ không tiêu. Phân thường lỏng và có màu trắng nhớt giống lòng trắng
trứng gà, có bọt khí. Gà còi cọc, không ăn uống. Nếu phát hiện ta nên loại bỏ để
tránh lây lan bệnh cho đàn gà, có giữ lại nuôi, nếu gà không chết thì sống cũng còi
cọc, chậm phát triển, không có hiệu quả, làm nguồn phát sinh mầm bệnh. Khi mổ
khám thấy hai mang tràng chứa phân trắng, đôi lúc mang tràng trở nên giòn, đóng
phân cứng, ruột thỉnh thoảng có những chấm xuất huyết (nếu nặng). Thương hàn
thường truyền từ mẹ sang con, bị nhiễm từ trứng giống nên biểu hiện rất rõ khi gà
con nhỏ, ta cần phát hiện sớm và loại thải ngay đồng thời cho uống kháng sinh để
phòng và trị những con khỏe còn lại nhưng thực tế có thể đã bị lây nhiễm thương
hàn.
- Lưu ý trên gà nhỏ trừ những trường hợp đáng cần phải lưu ý (tỷ lệ bệnh nhiều, phân
bất thường nhiều, chết…) thì mới sử dụng kháng sinh còn lại ta sử dụng probiotic để
tăng hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột, giúp đường ruột khỏe mạnh, tiêu hóa hấp
thu tốt là biện pháp tốt để phòng bệnh. Các nhung mao trong đường ruột của gà con
rất mẫn cảm và cả hệ vi sinh vật có lợi còn yếu, nếu ta lợi dụng kháng sinh quá sẽ
làm ảnh hưởng không tốt tới nhung mao đường ruột làm giảm tiêu hóa và hấp thu,
đồng thời kháng sinh cũng lấy đi tính mạng những vi sinh vật có lợi, làm cho các vi
- Một số con bị bệnh Marek biểu hiện như: gà đi lại khó khăn; liệt nhẹ đến liệt hoàn
toàn; liệt cánh 1 hay 2 bên, đuôi có thể bị liệt; đặc trưng là bị kéo 2 chân, một chân
về trước, một chân về sau; mống mắt viêm, đổi màu, con ngươi có thể bị biến dạng.
Mổ khám thấy: viêm tăng sinh dây thần kinh ngoại biên, dây thần kinh đùi, dây thần
kinh hông – chậu, cánh sưng to gấp 4 – 5 lần, mất vân óng ánh, có màu trắng đục và
dễ đứt; khối u trên các cơ quan nội tạng, da và cơ.
- Đôi khi gà cắn mổ và hay đá nhau nhưng chưa hẳn đó là biểu hiện của Gumboro.
Cũng có khi do không khí ngột ngạt, khí độc bốc lên nhiều, chuồng nuôi chật hẹp
làm cho con gà bị stress dẫn đến hiện tượng này. Những buổi trưa nắng nóng hòa
thêm VitC hay điện giải cho gà uống.
- Thường xuyên sát trùng chuồng trại (1lần/tuần), vệ sinh máng ăn, máng uống.
- Khu mổ khám phải cách xa chuồng trại chăn nuôi, mổ khám xong phải mang đi tiêu
hủy, rửa sạch tay bằng nước sát trùng.
- Tuyệt đối không được mua gia cầm ngoài chợ về, trong trại chăn nuôi gà tuyệt đối
không được mua thịt gà về ăn.
- Tránh người ra vào thường xuyên; đi đứng nhẹ nhàng; tránh là tiếng ồn bất lợi cho
đàn gà; tạo cảm giác sợ hãi, hoảng loạn cho đàn gà đều không tốt.
13
Một Số Bệnh Thường Gặp Trong Chăn Nuôi Gà
1. Bệnh Marek
1.1. Virus gây bệnh
- Là bệnh U Lympho của gà với sự xâm nhiễm, tăng sinh cao độ tế bào lympho
và sự hủy myelin của thần kinh ngoại biên, do đó gây rối loạn cơ năng vận
động, làm bại liệt.
- Bệnh do Herpesvirus gây ra với cấu trúc là acid nhân DNA 2 sợi; kích thước
100 – 120nm; có vỏ bọc bằng lipid.
1.2. Sức đề kháng của Virus
- Bị bất hoạt ở pH = 3 hay pH = 11 trong 10 phút (môi trường acid hay base đều
bất lợi cho virus).
- Tồn tại trong 2 tuần ở 4
- Gà 3 – 4 tuần tuổi cũng bị bệnh.
- Tỷ lệ chết cao hơn thể mãn tính 10 – 30%.
- Gà bệnh ít có triệu chứng điển hình, thường chết đột ngột, gà suy yếu, liệt
rồi chết.
- Mổ khám thấy khối u ở các cơ quan nội tạng, da và cơ.
1.6.2. Thể mãn tính.
- Chủ yếu trên gà 2 – 7 tháng tuổi, tỷ lệ chết lên đến 10 – 15%.
- Thời gian nung bệnh 3 – 4 tuần.
- Viêm tăng sinh dây thần kinh ngoại biên, thần kinh đùi, hông – chậu, cánh,
sưng to gấp 4 – 5 lần, mất vân óng ánh, có màu trắng đục và dễ đứt.
- Mống mắt viêm, đổi màu, con ngươi bị biến dạng.
- Khối u trên các cơ quan nội tạng, da và cơ.
1.6.3. Thể thần kinh.
- Gà đi lại khó khăn
- Liệt nhẹ rồi dẫn đến liệt chân hoàn toàn.
- Liệt cánh 1 hay 2 bên cánh.
- Đuôi có thể bị liệt.
1.7. Phòng bệnh.
- Bệnh do virus nên không có thuốc đặc trị.
- Chủng ngừa Marek cho gà con lúc 1 ngày tuổi.
- Thức ăn cần bằng dinh dưỡng, bổ sung đầy đủ Vit giúp tăng sức đề kháng cho
đàn gà để chống chọi lại với bệnh.
- Vệ sinh sát trùng theo định kỳ 1 – 2 lần/tuần và cứ sau 2 tháng đổi thuốc sát
trùng.
15
- Quản lý đàn gà thật tốt, con nào bệnh thì lập tức cách ly.
2. Bệnh Newcalte (Newcastle Disease – ND)
2.1. Sơ lược về bệnh
- Bệnh do Rubulavirus gây ra, là một ARN virus, sợi đơn, có vỏ bọc bằng lipid,
kích thước 100 – 500nm.
C, bỏ ăn khát nước, khó thở, kiệt sức dần và chết sau 4 –
8 ngày.
- Có thể phù ở các mô xung quanh mắt và đầu.
- Phân lỏng màu xanh, thỉnh thoảng có vấy máu.
- Sau khi qua được giai đoạn đầu của bệnh thì xuất hiện các triệu chứng thần
kinh như: co giật, rung cơ, vẹo cổ, ưỡn mình ra sau, liệt chân và cánh.
- Tử số có thể lên đến 100%.
- Bệnh tích đặc trưng của bệnh là xuất huyết đỏ đậm kết hợp với hoại tử trên
các mảng lympho của thành ruột và ngã ba van hồi manh tràng (hạch
amygdale).
- Xuất huyết trên bề mặt các tuyến của dạ dày tuyến, có thể xuất huyết trên dạ
dày cơ.
- Xuất huyết và làm bể lòng đỏ vào trong xoang bụng, những nang trứng trong
buồng trứng mềm nhão và thoái hóa.
- Tích dịch viêm ở mũi, thanh quản, khí quản.
- Xuất huyết, xung huyết khí.
- Có thể viêm phổi.
- Túi khí dày đục nhất là ở gà con có thể tích dịch viêm và casein.
2.6. Phòng bệnh.
- Bệnh do virus không có thuốc đặc trị mà chỉ phòng bệnh thôi.
- Phòng bệnh bằng vaccin.
- Tăng cường vệ sinh sát trùng tiêu độc chuồng trại thường xuyên.
- Khi thấy bệnh đã chuyển sang thể thần kinh thì bắt riêng mổ khám và xử lý
tránh lây lan.
3. Bệnh Gumboro (Infectious Bursal Disease – IBD)
3.1. Sơ lược về bệnh.
- Là bệnh truyền nhiễm cấp tính rất lây lan trên gà do virus gây ra.
- Tế bào Lympho B là tế bào đích của virus và mô Lympho của túi Fabricius
(F) bị ảnh hưởng 1 cách nặng nề.
- Virus acid nhân là RNA, 2 sợi, virus có bọc
- Có bọt lợn cợn đóng quanh lỗ huyệt.
- Lông vùng lỗ huyệt dơ bẩn, lông xơ xác, chân khô.
- Gà thường tự mổ vào lỗ huyệt và mổ lẫn nhau.
- Gà chết tối đa vào ngày thứ 3, thứ 4 của bệnh.
- Tiến trình bệnh từ 7 – 8 ngày.
18
- Xác chết khô, mất nước.
- Xuất huyết cơ đùi, cơ ngực, cơ cánh.
- Xuất huyết trên niêm mạc dạ dày tuyến, chỗ tiếp giáp giữa dạ dày tuyến và dạ
dày cơ.
- Gan có ổ hoại tử.
- Lách sưng lớn, có thể hoại ử.
- Thymus bất dưỡng, hoại tử.
- Viêm ruột cata, tăng tiết chất nhày trong ruột.
- Viêm túi Fabricius (F), túi F triển dưỡng lúc 2 – 3ngày đầu của bệnh (có thể
gấp đôi thể tích ban đầu), kèm theo thủy thủng cả ở bên trong và bên ngoài túi
F, xuất huyết, hoại tử.
- Ngày thứ 5 túi F trở lại kích thước bình thường, rồi bất dưỡng nhanh vào ngày
thứ 8 chỉ còn 1/3 thể tích ban đầu.
- Trong túi F có những cục fibrin, hình thành khối bã đậu (casein).
3.6. Điều trị.
- Bệnh không có thuốc đặc trị.
- Áp dụng nguyên lý phòng chống bệnh truyền nhiễm dựa trên sự tác động vào
3 khâu của quá trình truyền lây.
- Đồng thời với công tác quản lý rất ý nghĩa trong công tác phòng bệnh.
- Phòng bệnh bằng vaccine.
- Kháng thể mẹ truyền bảo vệ gà con từ 1 – 3 tuần tuổi.
4. Bệnh thương hàn (Salmonellosis)
4.1. Sơ lược về bệnh.
- Bệnh truyền nhiễm của gà và gà tây, do vi khuẩn Salmonella pullorum gây ra.
- Gà bệnh biểu hiện bụng trễ xuống do lòng đỏ không tiêu.
- Xù lông, xã cánh, nhắm mắt, tụ lại thành từng đám.
- Phân trắng bết vào hậu môn.
- Có đốm casein trắng đục trong nhãn cầu hay có điểm mờ đục trong giác mạc.
20
- Có thể viêm khớp.
- Tỷ lệ chết cao vào giữa tuần 1 đến tuần 3.
- Gà lớn thì mệt mỏi, xù lông, mào tái nhợt, giảm ăn bất thình lình, tiêu chảy,
suy yếu và mất nước.
- Mổ khám thấy lòng đỏ không tiêu, mềm nhão, màu xám xanh.
- Lách sưng to 2 – 3 lần.
- Viêm màng bụng, màng bao tim có dịch rỉ viêm.
- Gan sưng to, xuất huyết, hoại tử.
- Phổi, tim, lách và thành dạ dày cơ có hoại tử.
- Ruột viêm xuất huyết, manh tràng chứa đầy phân trắng.
- Viêm khớp, có dịch viêm (màu vàng chanh hay vàng cam).
4.6. Điều trị.
- Dùng kháng sinh nhưng chỉ giảm tỷ lệ chết mà không tiêu diệt được bệnh
hoàn toàn.
- Kháng sinh: Streptomycine, nhóm tetracycline, enrofloxacin,…sulfonamide:
sulfaquinoxalin (0.1% trộn thức ăn trong 2 – 3 ngày), furazolidon (0.04% trộn
thức ăn trong 10 ngày).
- Liều phòng bằng ½ liều trị.
- Việc trị bệnh là thứ yếu, đến khi bệnh phát ra mới điều trị, không hiệu quả,
quan trọng nhất vẫn là phòng bệnh. Chú ý vệ sinh sát trùng đúng qui trình,
phát hiện những con bệnh sớm tiên hành loại bỏ, giữ lại không có hiệu quả
kinh tế. Trộn kháng sinh trong thức ăn hay nước uống.
5. Bệnh CRD (Chronic Respiratory Disease – CRD).
5.1. Sơ lược về bệnh.
- Bệnh hô hấp mãn tính trên gà và bệnh viên xoang truyền nhiễm ở gà tây do
5.5. Triệu chứng và bệnh tích.
- Bệnh hô hấp mãn tính khoảng 6 – 21 ngày và bệnh viêm xoang gà tây từ 6 –
10 ngày (trong điều kiện thí nghiệm).
- Dưới điều kiện tự nhiên rất khó khăn để xác định một cách chính xác thời gian
nung bệnh (bệnh mãn tính), phụ thuộc vào sức đề kháng của gia cầm và điều
kiện của môi trường bên ngoài.
- Triệu chứng trên cơ quan hô hấp tạo âm rale khí quản.
- Ho, chảy nước mũi.
- Viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt.
- Sưng mặt.
- Tiêu thụ thức ăn giảm.
- Gà ốm.
22
- Gà bị viêm khớp, đi khập khiễng.
- Gà đẻ sản lượng trứng giảm nhưng vẫn duy trì ở mức độ thấp.
- CRD là tiền đề cho các bệnh khác kết hợp và sẽ gây bệnh trầm trọng hơn (ND,
IB…).
- Đặc biệt, kết hợp với E.coli (CCRD) gây viêm túi khí nặng, tỷ lệ chết trên gà
dò (4 – 8 tuần tuổi) khoảng 30%.
- Khi bệnh kết hợp như vậy là tình trạng khó thở trầm trọng hơn, há mỏ và cụp
đuôi khi thở; Gà đẻ giảm sản lượng trứng và chất lượng vỏ trứng.
- Túi khí thường chứa dịch rỉ viêm (caseous).
- Ngoài ra còn viêm phổi viêm xoang mặt.
5.6. Bệnh kết hợp với E.coli (CCRD).
- Viêm túi khí dạng nặng, fibrin hoặc fibrin mủ.
- Viêm màng bao quanh gan, viêm bao tim dọc theo khối viêm túi khí.
- Tỷ lệ chết cao.
5.7. Điều trị.
Chữa bệnh.
- Đề kháng với penicillin.