Mô hình chăn nuôi gà thả vườn an toàn sinh học
(atsh) một hướng đi hiệu qủa
Làm sao vừa chủ động chăn nuôi có hiệu qủa vừa
đảm bảo vệ sinh môi trường và có sản phẩm sạch
cung cấp cho người tiêu dùng, không để bệnh tật
xuất hiện và lây lan đang là vấn đề bức xúc hiện nay của ngành
chăn nuôi trong tỉnh cũng như cả nước. nhằm xây dựng quy
trình chăn nuôi gà thả vườn theo hướng sạch từ khâu con giống
đến qúa trình chăn nuôi, vệ sinh thú y, vệ sinh giết mổ, thực hiện
tốt chương trình vaccine và hạn chế dùng thuốc kháng sinh để
giảm thiểu bệnh tật và không gây ô nhiễm môi trường. Mô hình
đã đạt được kết quả đáng khả quan: Đàn gà phát triển tốt, không
có biểu hiện bệnh tật, các chỉ tiêu KTKT đều đạt so với yêu cầu,
vệ sinh môi trường được bảo đảm, hiệu quả kinh tế cao, được
nông dân chăn nuôi nhiệt tình ủng hộ.
yêu cầu đặt ra là phải chăn nuôi theo phương thức nuôi nhốt tập
trung cách biệt nhà ở.
Quy trình chăn nuôi được áp dụng quy trình chăn nuôi hiện hành
do Bộ NN& PTNT ban hành. Gà giống được nhập về từ những
cơ sở chăn nuôi có đủ điều kiện sản xuất con giống và phải được
chích ngừa váccine các loại có sự kiểm tra và cấp giấy chứng
nhận của cơ quan thú y. Thời gian úm 0-4 tuần nuôi tập trung,
sau 5 tuần tuổi các hộ thả cho gà vận động nhưng chỉ trong
khuôn viên hạn chế ngay sát chuồng nuôi, không áp dụng
phương thức nuôi thả tự do, phân tán.
Vấn đề an toàn sinh học: Hàng tuần chuồng nuôi và môi trường
xung quanh được xịt sát trùng toàn bộ 1 lần bằng thuốc sát trùng
có kháng khuẩn rộng để diệt vi khuẩn gây bệnh. Phun toàn bộ
chuồng nuôi, trên gà (trừ máng ăn, máng uống) và chu vi xung
quanh chuồng 10 – 15m.
qúa trình nuôi.
Mô hình chăn nuôi gà thả vườn ATSH đã mang lại hiệu qủa
kinh tế cao cho nông dân chăn nuôi. Nhiều hộ nông dân tham
quan học tập đã tự chủ động mua giống về nuôi không cần sự hỗ
trợ của Nhà nước.
Thông qua mô hình bước đầu người nông dân đã tiếp cận được
quy trình nuôi theo hướng ATSH, có được cái nhìn khác hơn về
việc chăn nuôi theo hướng bảo vệ môi trường, được trao đổi học
hỏi kinh nghiệm và tiếp thu kỹ thuật mới để có thể tự áp dụng
chăn nuôi trên quy mô rộng.
Hy vọng đây là hướng đi mới, có hiệu qủa không những có thể
áp dụng cho một số nông hộ mà có thể áp dụng rộng rãi cho
người nông dân chăn nuôi toàn tỉnh trong điều kiện dịch bệnh
ngày càng phức tạp và nguy hiểm như hiện na