Đánh giá hiệu quả mô hình chăn nuôi gà thả vườn tại xã bàn đạt, huyện phú bình, tỉnh thái nguyên - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Nhà nước, nền nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển
nhanh, đạt được nhiều thành tựu đáng nghi nhận. Từ một nước có một nền
nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp. Quy mô nhỏ, chúng ta đã vươn lên dần
dần để trở thành một nước có nền công nghiệp hàng hóa, đảm bảo an ninh
lương thực quốc gia và có tỉ suất hàng hóa ngày càng lớn, có vị thế đáng kể
trong khu vực thế giới. Nước ta đã trở thành một trong những nước đứng đầu
về xuất khẩu gạo, điều, tiêu, thủy hải sản,…trên thị trường quốc tế.
Đồng hành cùng người nông dân để chia sẻ những thuận lợi, khó khăn
trên con đường hướng tới một nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững là
những cán bộ, nhân viên, tình nguyện viên hệ thống khuyến nông - khuyến
ngư Việt Nam. Nghị định 13/CP do Chính phủ ban hành ngày 2/3/1993 quyết
định thành lập hệ thống khuyến nông. Từ đó, khuyến nông luôn đảm nhận vai
trò của mình là đào tạo, rèn luyện tay nghề cho nông dân, cung cấp kiến thức
kỹ thuật, những kinh nghiệm về sản xuất
Đối với nông nghiệp nông thôn: trong những năm tới vẫn phải coi trọng
công nghiệp hóa, hiện đâị háo nông nghiệp nông thôn là một trọng điểm quan
trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo đó, nền nông nghiệp đã và đang ngày một đi
lên, sản lượng lương thực ngày một tăng, số lượng vật nuôi cũng được gia
tăng theo từng năm. Bằng việc đưa các chương trình triển khai tại các địa
phương phương khu vực nông thôn trong cả nước đã đạt nhiều kết quả đáng
kể. Các mô hình, các cây trồng, giống vật nuôi đã được đưa về tận các thôn,
xã,…tạo điều kiện phát triển cho người nông dân.
Những địa pương được đưa về các mô hình đã cho thấy ngay được hiệu
quả,từng bước đi lên. Xã Bàn Đạt - huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên là
1

2
3
1.2. Mục đích, mục tiêu của đề tài
1.2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đánh giá hiệu quả mô hình chăn nuôi gà thả vườn tại xã Bàn Đạt,
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và kể từ đó đề ra một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà thả vườn tại xã nói riêng và ở khu vực trung
du miền Bắc nói chung.
1.2.2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Đánh giá điều kiện tự nhirn kinh tế - xã hội của xã Bàn Đạt huyện
Phú Bình.
- Đánh giá thực trạng các mô hình chăn nuôi gà thả vườn tại xã
Bàn Đạt.
- Đánh giá hiệu quả của mô hình.
+ Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình.
+ Đánh giá hiệu quả môi trường của mô hình.
+ Đánh giá hiệu quả xã hội của mô hình.
- Đánh giá khả năng nhân rộng của mô hình.
- Đánh giá tính bền vững của mô hình.
- Đánh giá khả năng nhân rộng của mô hình.
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện mô hình.
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mô hình trên toàn địa bàn.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Giúp sinh viên củng cố lý thuyết, rèn luyện kỹ năng đã học về công tác
khuyến nông.
Giúp sinh viên nắm được các phương pháp học, phương pháp làm việc
và nghiên cứu khoa học trong thực tiễn sản xuất.
Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên có điều kiện học hỏi,
củng cố kiến thức, kỹ năng chuyên môn cho bản thân sau khi ra trường sẽ

khuyến nông so với kế hoạch ban đầu.
- Đánh giá dự án người ta có thể hiểu như sau:
Là quá trình thu nhập và phân tích thông tin để:
Liệu dự án có thể đạt được kết quả và tác động đã đề ra hay không
Mức độ mà dự án đã đạt được so với mục tiêu của dự án thông qua các
hoạt động đã chỉ ra trong tài kiệu dự án.
Đánh giá sử dụng các phương pháp nghiên cứu để điều tra một cách có
hệ thống các kết quả và hiệu quả của dự án. Nó cũng có thể điều tra những
vấn đề có thể làm chậm tiến độ thực hiện dự án nếu như các vấn đề này không
được giải quyết kịp thời.
Đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có chiến lược lấy mẫu
theo phương pháp thống kê.
Đánh giá có thể tiến hành đo lường định kì theo từng giai đoạn thực
hiện dự án.
Đánh giá phải tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động của
dự án.
5
6
2.1.1.2 Các loại đánh giá
* Đánh giá tiền khả thi/khả thi
Đánh giá khả thi là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự án, để
xem xét xem liệu dự án hay hoạt động có thể thực hiện được hay không
trong từng điều kiện cụ thể nhất định. Loại này đánh giá thường do tổ chức
tài trợ thực hiện.Những tổ chức này sẽ phân tích các khả năng thực hiện của
dự án hay hoạt động làm căn cứ cho phép duyệt hay không để cho dự án vào
thực hiện.
* Đánh giá thực hiện
- Đánh giá định kì : Là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là
đánh giá toàn bộ các công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung, đánh
giá định kỳ thường áp dụng cho những dự án có thời gian thực hiện lâu dài.

nào cũng phải quan tâm tới vấn đề này.
- Đánh giá khả năng mở rộng: là quá trình xem xét kết quả của dự án
hay hoạt động có thể áp dụng rộng rãi hay không, nếu có thể áp dụng thì cần
điều kiện kiện gì hay không.
- Đánh giá tác động: đánh giá khả năng nhận thức của người dân trong
quá trình thực hiện mô hình.
- Đánh giá trong và đánh giá ngoài: Do nguồn gốc xuất xứ của đoàn
đánh giá
* Tổng kết
Thông thường sau khi kết quả một dự án hay hoạt động, người ta
thường tổ chức những hội nghị tổng kết để cùng nhau nhìn nhận lại quá trình
thực hiện, đánh giá những thành công hay thất bại của dự án và lấy đó làm bài
học cho dự án hoạt động sau này.
Tổ chức hội nghị tổng kết thường gồm các công việc sau:
+ Xác định những người tham gia
+ Thành lập ban tổ chức hội nghị
+ Công tác chuẩn bị hội nghị
+ Các nội dung chính của hội nghị
Trong tổng kết, một văn kiện quan trọng cần được chuẩn bị thông qua
đó là báo cáo tổng kết. Báo cáo tổng kết cần đạt được mục tiêu:
7
8
- Đánh giá thành tựu, các hoạt dộngđã hoàn thành, đồng thời phân tích
các thiếu sót, tồn tại từ đó rút kinh nghiệm.
- Mục tiêu, kế hoạch cho giai đoạn kế tiếp.
2.1.1.3. Tiêu chí đánh giá
* Khái niệm tiêu chí:
- Tiêu chí: như là một hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số có thể định lượng
được dùng để đánh giá hay phân loại một hoạt động hay dự án nào đó.
* Các đặc điểm của tiêu chí đánh giá

a. Tính thích ứng
- Dự án này có ý nghĩa trong môi trường hoàn cảnh của nó hay không
- Tính thích ứng liên quan đến các chính sách hợp tác, phát triển mục
đích, mục tiêu chung cùng với các kết quả của dự án có phù hợp với các yêu
cầu mong muốn của những người được hưởng lợi và môi trường chính sách
của dự án hay không.
b. Sự tác động
- Điều gì sẽ xảy ra hoặc có khả năng xảy ra như một kết quả/hậu quả
của dự án.
- Các tác động liên quan: liệu có một sự thay đổi tích cực nào tác động
lên đời sống xã hội sau khi các can thiệp được thực hiện? Khi xem xét cần
chú ý tới tác động đã được dự kiến.
c. Tính bền vững
- Các yếu tố được đánh giá là bền vững: Môi trường chính sách, tính
khả về kinh tế và tài chính, năng lực thể chế và khía cạnh văn hóa - xã hội, sự
tham gia và quyền sở hữu, vấn đề giới, môi trường và công nghệ thích hợp?
- Điều gì đã và sẽ xảy ra đối với các tác động của dự án sau khi sự hỗ
trợ từ bên ngoài kết thúc.
2.1.2. Hiệu quả
Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả hoạt động của các sự
vật, hiện tượng bao gồm: Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường.
9
10
2.1.2.1. Hiệu quả kinh tế
* Một số lý luận chung về hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh mặt chất lượng
của các hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình
tăng cường khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người, tự
nhiên để phục vụ cho lợi ích của con người.
- Các sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các hoạt

chiều sâu hoặc trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tức là nghiên
cứu hiệu quả của phần chi phí đầu tư tăng thêm. Tuy nhiên hạn chế của cách
đánh giá này là không xem xét đến hiệu quả kinh tế của tổng chi phí bỏ ra.
Như vậy hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt
chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc trưng của nền sản xuất
xã hội, quan niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế khác nhau sẽ
không giống nhau. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, mục đích yêu cầu
của một đất nước, một vùng, một ngành sản xuất cụ thể mà được đánh giá
theo những góc độ khác nhau.
* Bản chất của hiệu quả kinh tế trong nền sản xuất xã hội:
Là thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian lao động trong sử
dụng các nguồn lực xã hội. Điều đó chính là hiệu quả của lao động xã hội và
được xác định tương quan so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với
hao phí bỏ ra.
Trên quan điểm toàn diện, có ý kiến cho rằng hiệu quả kinh tế không
thể bỏ qua mục tiêu nâng cao trình độ văn hóa, xã hội và đáp ứng nhu cầu
ngày một tốt hơn cùng với việc tạo ra môi trường bền vững. Điều đó thể hiện
mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
hiện tại và lâu dài. Đó là quan điểm đúng và đủ trong kinh tế vĩ mô và kinh tế
vi mô phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế hiện nay.
* Một số công thức tính hiệu quả kinh tế:
+ Công thức 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa giá trị
kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó:
11
12
Hiệu quả kinh tế =
Kết quả thu được
Chi phí sản xuất
C
Q

y
t

Trong đó: ti: Tốc độ phát triển liên hoàn
y
i
: mức độ của kỳ nghiên cứu
12
13
y
i-1
: mức độ của kỳ đứng trước kỳ nghiên cứu
- Tốc độ phát triển trung bình: là trị số đại biểu của các tốc độ phát triển
liên hoàn. Vì tốc độ phát triên liên hoàn có quan hệ tích nên để tính tốc độ
phát triển bình quan người ra sử dụng công thức sau:
1
21
,

=
n
n
tttt
2.1.2.2. Hiệu quả về xã hội
Hiệu quả xã hội của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, của bất kỳ
mô hình nào đó thì đó chính là khả năng tạo việc làm thường xuyên, tạo cơ
hội để mọi người dân trong vùng đều có việc làm và từ đó tăng thu nhập.
Không ngừng nâng cao mức sống cả về vật chất lẫn tình thần trên cơ sở đó
thực hiện công bằng dân chủ, công bằng xã hội.
2.1.2.3. Hiệu quả môi trường

dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối
tượng nghiên cứu (Dương Văn Hiểu (2001), nghiên cứu mô hình chăn nuôi bò
sữa ở một số vùng trọng điểm thuộc khu vực Bắc Bộ, Luận án Tiến Sỹ Kinh
tế, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội).
Trong thực tế, để khái quát hóa các sự việc, hiện tượng, các quá trình,
cá mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng
mô hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng
cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình
chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau.
Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc
vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng
mô phỏng và trình bày là khác nhau. Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng
đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm mà chúng tôi
đều thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối
tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ
nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu.
* Mô hình sản xuất
14
15
Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm
tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và
sức lao động của chính mình. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã
chứng minh sự phát triển của các công cụ sản xuất - yếu tố không thể thiếu
được cấu thành trong nền sản xuất. Từ những công cụ thô sơ, công cụ thường
ngày thay vào đó là các công cụ sản xuất hiện đại, công cụ đa năng, đã thay
thế một phần rất lớn cho lao động sống và làm giảm hao phí về lao động sống
trên một đơn vị sản phẩm. Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong các
nội dung của kinh tế sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các
yếu tố kinh tế, ngoài những yếu tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mà: Mô hình
sản xuất là hình mẫu trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực

2
= 0,4 (0,3 - 0,45). Người ta đánh giá sự phát triển
của cơ ngực bằng việc xác định góc ngực, góc ngực càng lớn thì khối lượng
cơ ngực và khối lượng cơ thể càng lớn và ngược lại.
Tác giả (A.L.J. Verei JKen, (1992), Khảo nghiệm cấu trúc cơ thể gà,
Viện chăn nuôi) cho rằng mối liên hệ tiến bộ di truyền giữa cấu trúc của cơ
thể với khối lượng cơ thể là 0,5. Với tổng số móc hàm là 0,45 và tỉ lệ thịt
ngực là 0,6. Khả năng di truyền được ước tính cho cấu trúc cơ thể Kinh động
từ 0,3 - 0,45. Kết quả này chỉ ra rằng sản lượng thịt ngực của các dòng gà
Broiler có thể được nâng lên bởi chọn lọc qua điểm cấu trúc cơ thể.
Với tiến độ di truyền hiện nay người ta đang mong đợi một cách tin
tưởng là các tỉ lệ được nâng cao ở gà Broiler là khối lượng sống tăng 59 gam.
Tiêu tốn thức ăn giảm 0,04 - 0,05 và cơ ngực sẽ tăng 0,2 - 0,3. Giữa các dòng
luôn có sự khác nhau về di truyền năng suất thịt xẻ, năng suất các phần thịt,
mỡ, da, xương …
Tỉ lệ thịt đùi ở gà trống thường cao hơn gà mái, tỉ lệ thịt ngực thì ngược
lại. Tỉ lệ mỡ gà mái thường cao hơn gà trống.
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về gà
2.3.1. Tình hình chăn nuôi gà thả vườn trên thế giới
Xu hướng tiêu dùng thịt gà trên thế giới ngày càng quan tâm đến chất
lượng thịt gà thả vườn. Vì vậy các giống gà thả vườn phát triển mạnh được
nuôi ở khắp các châu lục: Châu Âu (Pháp), Châu Phi (Trung Phi, Tunisie,
16
17
Maroc, …) và châu Á (Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Việt
Nam, Nhật Bản…).
Theo tài liệu của (Đoàn Xuân Trúc, (1999), Nghiên cứu tình hình chăn
nuôi trên thế giới, Nxb Nông nghiệp I) Pháp là một trong những nước nuôi
nhiều gà lông màu thả vườn chất lượng cao "Label Rouge" nhất thế giới và
cũng là nước đứng đầu thế giới về tiêu thụ thịt gà thả vườn. Năm 1996 số

như: Thịt nhão, bở, hương vị kém hấp dẫn, mỡ nhiều, tồn dư hàm lượng thuốc
trong thịt cao.
Trung Quốc là nước láng giềng kề cận với nước ta, có nhiều nét tương
đồng về phong tục tập quán, khí hậu, thời tiết, chế độ chính trị, … Theo tài
liệu của cục Khuyến Nông - Khuyến Lâm (199) thì Trung Quốc đã có chiến
lược phát triển gà thả vườn đi trước nước ta hơn chục năm nay, ngày nay
Trung Quốc cũng là một trong các quốc gia xuất khẩu nhiều thịt và trứng gà
của Châu Á. Trung Quốc cũng tạo ra được nhiều giống gà thả vườn chất
lượng cao như Tam Hoàng (dòng 882 và Jiangcun), Lương Phượng hoa, Phật
Sơn hoàng, …Gà Tam Hoàng có ưu điểm da vàng, lông vàng, chân vàng. Gà
Lương Phượng hoa có sắc lông phong phú rất giống đàn gà địa phương của ta
nhưng có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng cơ thể lớn hơn và khả
năng đẻ trứng cũng tốt hơn gà Ri của nước ta.
Giá bán thịt gà thả vườn ở Châu Âu thường cao hơn gấp 2 - 3 lần giá
bán thịt gà công nghiệp.
Ở Ethiopia, 99% tổng đàn gia gà của nước (56 triệu con) là gà địa
phương, được nuôi theo phương thức quảng canh, với quy mô đàn bình quân
6 con/1 hộ (Yami, 1995).
Ở Malaysia, gà thả vườn vẫn chiếm ưu thế, chỉ được nuôi theo phương
thức thâm canh, 15,4% nuôi bán thâm canh.
Thịt và trứng của gà địa phương ở Indonexia cũng gấp 58,5% trong
tổng số Protein động vật từ chăn nuôi của cả nước (Pambudy và Priatna,
1994). Ngày nay, một số nước dù có ngành chăn nuôi gà công nghiệp tiên
18
19
tiến, cũng hướng tới việc lai tạo những giống gà nuôi thả vườn như Sasso
của Pháp.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
2.3.2.1. Khái niệm về gà thả vườn
Cụm từ "Gà thả vườn" ngày nay càng trở lên quen thuộc với nhiều

hàng năm là 5,5%. Hiện nay gà thả vườn chiếm trên 70% vẫn là nguồn cung
cấp thịt, trứng cho xã hội.
Sản phẩm gia cầm cũng liên tục tăng cao, giai đoạn (1990 - 1999) thịt
gia cầm tăng từ 178,9 ngàn tấn lên 261,8 ngàn tấn, tốc độ tăng bình quân hàng
năm là 4,3%: trứng gia cầm 1,89 tỷ quả (1990) và 3,44 tỷ quả năm (1999) tốc
độ tăng bình quân hàng năm là 6,8%. Hiện nay gia cầm cung cấp 15 -16%
tổng thịt hơi các loại, tỉ lệ này cao hơn thịt trâu, bò và thấp hơn thịt lợn.
Mức tiêu thụ bình quân thịt và trứng gia cầm của mỗi người Việt Nam
hiện nay (1999) là 3,43kg thịt và 45,1 quả trứng, so với năm (1990) các mức
này là 2,52kg thịt và 2,86 quả trứng. Như vậy trong 10 năm chăn nuôi gia
cầm đã có bước tiến đáng kể trong đó phải kể đến chăn nuôi gà. Tuy nhiên
Việt Nam mới chỉ đứng hàng 47 trên thế giới và đứng thứ 5 ở ASIAN vè sản
xuất thịt và trứng gia cầm.
2.3.2.3. Kết quả nghiên cứu một số giống gà nội
Tập đoàn giống gà nội ở nước ta cũng rất phong phú, trong đó phải kể
đến các giống gà Ri (chiếm 70% đàn gà nội), gà Đông Tảo, gà Mía, gà Hồ, gà
Văn Phú, gà Ác, gà chọi… từ năm 1990 trở lại đây có nhiều công trình vè gà
thả vườn bao gồm các nghiên cứu bảo tồn quỹ gen vật nuôi và các nghiên cứu
khảo nghiệm, tạo các giống gà nhập nội.
- Gà Hồ có tầm vóc to, thể chất khỏe, hơi lùn, chân to, con trống có màu
lông đỏ tía, con mái lông vàng đậm, có cườm ở cổ, đầu lông cánh và lông đuôi
màu đen. Mào đơn, tích tai kém phát triển. Lúc trưởng thành gà trống nặng 3,8 -
4kg; gà mái 3,0 - 3,5kg, sản lượng trứng 40 - 50 quả/mái/năm, trứng 52 - 54 gam,
gà Hồ thích hợp với lối hăn thả vườn.
20
21
- Bùi Đứng Lũng, Trần Long, (1994) khi nghiên cứu về gà Mía cho biết
đây là giống gà nội, hướng thịt, tỉ lệ nuôi sống tương đối cao (do thích nghi
tốt). Khả năng sinh sản, cho thịt của gà Mía thấy rằng; Tốc độ tăng khối lượng
cơ thể lớn gấp 2 lần gà Ri. Năng suất thịt của gà Mía: khối lượng cơ thể sống

giống gà Ri của nước ta. Lông màu vàng tuyền, vàng đốm hoa hoặc đen đốm
hoa, có nhiều màu sắc lông khác nhau như một vườn hoa nên còn gọi là gà
hoa Lương Phượng. Gà có mào, yếm, mặt, tích tai màu đỏ. Gà trống mào đơn
ngực nở lưng thẳng, lông đuôi vươn cong, chân cao vừa phải; gà mái đầu nhỏ,
thân hình chắc, chân thấp, da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm
ngon. Gà Lương Phượng có tỉ lệ sống cao đạt 91 - 95% trong điều kiện chăn
nuôi nông hộ, thích hợp với các phương thức chăn nuôi khác nhau ở điều kiện
khí hậu Việt Nam. Sản lượng trứng đạt 158,63 quả/48 tuần đẻ. Gà nuôi sinh
sản tại 20 tuần tuổi khối lượng bình quân gà mái đạt 2145 gam; gà trống đạt
3079 gam.
Theo tài liệu của Nguyễn Duy Hoan, Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh
Sơn, Đoàn Xuân Trúc, (1999), cho biết tháng 7/1999 lần đầu tiên giống gà
Kabir của Israsel được nhập vào Việt Nam với 5000 mái dòng mẹ và 600
trống dòng bố. Số gà này được nuôi ở Xí nghiệp gà giống Châu Thành thuộc
Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam với mục đích tạo ra loại gà siêu thịt lông
trắng và gà mái lông màu (Label Rouge) nuôi tại trang trại. Qua 1 năm theo
dõi, gà Kabri thả vườn thích hợp với điều kiện khí hậu nuôi dưỡng ở nước ta
và được người chăn nuôi ưa chuộng. Kết quả nuôi thử nghiệm gà Kabri bố mẹ
ở Việt Nam cho thấy chúng có khả năng sinh sản tốt, các chỉ tiêu về sinh sản
đều hơn hẳn các giống gà lông màu khác nhập vào Việt Nam. Gà Kabri
thương phẩm thích hợp với phương thức nuôi công nghiệp, nuôi trang trại bán
chăn thả và nuôi chăn thả vườn. Nuôi chưn thả khối lượng thấp hơn khoảng
15% so với nuôi nhốt xong thịt chức, thơm ngon, giá thành thấp do giảm được
chi phí thức ăn. Thịt gà Kabri hấp dẫn vì da vàng, thịt mịn, thơm ngon có
hương vị gần giống như gà Ri. Gà Sasso của Pháp nuôi thử nghiệm tại Thái
Nguyên cho kết quả tốt cụ thể ở 9 tuần tuổi, khối lượng bình quân cơ thể đạt
1954,28 gam; tỉ lệ nuôi sống đạt 92,5%; tiêu tốn thức ăn 2,55kg thức ăn/kg
trọng lượng.
22
23

- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình chăn nuôi gà thả vườn.
- Phạm vi nghiên cứu: Các thôn có mô hình trên địa bàn xã Bàn Đạt,
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn xã Bàn Đạt, huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ 10/02/2012 đến 19/05/2012
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Bàn Đạt, huyện
Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
* Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
* Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội
* Nhận xét ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội
của xã tới việc phát triển mô hình.
- Thuận lợi
- Khó khăn
3.3.2. Đánh giá thực trạng các mô hình chăn nuôi gà thả vườn trên địa bàn
xã nghiên cứu
- Tổng số hộ tham gia thực hiện mô hình trong xã giai đoạn 2009 đến
đầu tháng 5 năm 2012.
- Diện tích chăn nuôi của toàn xã giai đoạn 2009 đến đầu tháng 5
năm 2012.
- Hiệu quả thu được của mô hình trong giai đoạn 2009 đến đầu tháng 5
năm 2012.
24
25
3.3.3. Đánh giá hiệu quả của mô hình chăn nuôi gà thả vườn
3.3.3.1. Hiệu quả kinh tế
* Các chỉ tiêu theo dõi
- Diện tích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status