ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VÂN KHÁNH
Tên đề tài:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG CỦA
VIỆC CHĂN NUÔI GÀ THẢ VƯỜN TẠI XÃ HÒA SƠN
HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCHệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế Nông nghiệp
Khoa : Kinh tế và PTNT
Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên, 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Thái Nguyên, 2014
1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, nông nghiệp được xác định là ngành mũi nhọn trong chiến lược
phát triển nền kinh tế của đất nước. Trong những năm qua, ngành nông nghiệp Việt
Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn, đóng góp một phần quan trọng vào sự tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Bên cạnh nhiều ngành hàng có giá trị sản xuất cao như: lúa
gạo, cà phê, cao su…thì chăn nuôi là ngành sản xuất quan trọng trong sản xuất nông
nghiệp. Ngành chăn nuôi đang từng bước vươn lên cải tiến cách thức sản xuất, nâng
cao chất lượng và tăng sức cạnh tranh.
Các sản phẩm từ chăn nuôi như thịt, trứng, sữa có vị trí quan trọng trong bữa
ăn hàng ngày của con người. Thịt cung cấp cho con người nhiều chất dinh dưỡng
như: Vitamin, khoáng chất, axit hữu cơ và nhiều chất bổ khác… Ngoài ra, phát triển
chăn nuôi còn có ý nghĩa trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
thực phẩm và là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị.
Chăn nuôi đã và đang đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất nông
nghiệp. Nó không chỉ có khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm mà còn
góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành chăn nuôi theo hướng chuyên môn hóa
kỹ thuật cao.
Trong bối cảnh đại dịch cúm đang lan rộng và gây nhiều ảnh hưởng tới nền
kinh tế nhiều nới ở nước ta. Trong đó, xã Hòa Sơn là một xã của huyện Hiệp Hòa-
tỉnh Bắc Giang cũng bị ảnh hưởng và chịu nhiều thiệt hại.
Ngành chăn nuôi gia cầm của xã Hòa Sơn được phát triển với quy mô tương
đối rộng, nhất là đối với chăn nuôi gà. Số lượng đàn gà ngày càng được tăng cao
Từ thực trạng và những khó khăn trên địa bàn, đề tài sẽ đưa ra một số giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và mở rộng thị trường tiêu thụ của việc chăn
nuôi gà thả vườn. Đồng thời phát huy những thế mạnh sẵn có của địa phương.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ bản và những
kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo
điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế.
Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức
đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến
thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này.
Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên
cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận
dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý
tưởng trong điều kiện thực tế.
3
Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vân dụng
kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc xuất phát
những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này.
1.3.2. Ý nghĩa của thực tiễn
Qua đề tài giúp cho người chăn nuôi hiểu biết thêm những hiệu quả kinh tế
và những hiệu quả khác từ việc chăn nuôi gà, từ đó họ có thể mạnh dạn đầu tư chăn
thả trên quy mô rộng hơn trên khắp địa bàn ở huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương, các nhà
đầu tư đưa ra những quyết định mới, hướng đi mới để xây dựng kế hoạch phát triển
hơn nữa quy mô chăn nuôi gà thả vườn,định hướng xây dựng thương hiệu cho địa bàn.
Bên cạnh đó, còn giúp mở rộng thị trường tiêu thụ cho việc chăn nuôi gà thả vườn.
Kết quả của đề tài cũng giúp cho các hộ gia đình nông dân hiểu hơn nữa hiệu quả
thức công nghiệp. Nhìn chung chăn nuôi gia cầm theo phương thức công nghiệp là
một hình thức chăn nuôi mới lạ với người dân, xuất hiện từ vài năm trở lại đây.
1.1.1.2. Nghề nuôi gà
Do đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài gà, nghề nuôi gà ngày nay mang
những nét đặc thù cơ bản sau:
- Chu kỳ sinh sản ngắn, vòng quay của vốn nhanh. Do vậy nhịp điệu sản xuất
là khẩn trương, mọi sai sót hầu như không có thời gian khắc phục [4].
- Quy trình công nghệ chính xác và nghiêm ngặt (đặc trưng của sản xuất
công nghiệp).
5
- Sự phân hóa chuyên môn sâu. Nếu trước đây người ta nuôi gà vừa để lấy thịt
vừa để lấy trứng, vừa để lấy gà giống… trong cùng một đàn thì ngày nay, gà công nghiệp
đã có sự phân hoá cụ thể cho từng lứa gà, đàn gà.
Thịt và trứng là hai sản phẩm từ gà, nhưng hai tính năng này hình như có sự
“tương kỵ” trên cùng một cơ thể: gà thịt tốt (chóng lớn nặng cân) thì thường để kém
và ngược lại. Vì vậy di truyền - giống, đã phải tạo ra những giống gà chuyên dụng
để chỉ dùng vào mục đích nhất định: lấy thịt hoặc lấy trứng. Ngoài ra, để phục vụ
cho tái sản xuất thì việc nuôi dưỡng, chăn sóc các đàn giống lại phải theo một cách
thức riêng biệt. Vì vậy, trên đại thể, nuôi gà lúc này chia ra làm 3 hình thức chính:
a,Nuôi lấy thịt:
Là hình thức phổ biến nhất vì dễ làm (quy trình kỹ thuật đỡ phức tạp nhất) chu
kì sản xuất ngắn thích hợp với mọi quy mô: từ vài con cho đến hàng nghìn con [3].
Khác với nếp nghĩ trước đây: “gà nào chả để ăn thịt” và gà thịt phải càng to
càng quý… Hiện nay nuôi gà thịt là nuôi gà từ lúc mới nở đến khoảng 2 tháng tuổi
(thường là 56 hoặc 49, thậm chí chỉ 42 ngày tuổi) gà nặng khoảng 1,5-2,0 kg. Để
đáp ứng yêu cầu đó, phải có các giống gà chuyên dụng thịt (gọi tắt là gà giống thịt).
Các giống này có đặc điểm chung là tầm vóc to (gà mái 2,5-3 kg, gà trống 3,5-4,0
kg) và lớn nhanh (đạt khối lượng 1.5 kg thịt trong lúc 56-45 ngày tuổi), hiệu xuất sử
thường xuyên trong cả một thời gian dài nên việc tiêu thụ (đầu ra) không bị căng thẳng,
dồn nén mà hoàn toàn có thể chủ động về kế hoạch.
c, Nuôi sinh sản:
Khác với “nuôi lấy thịt” và “nuôi lấy trứng”, sản phẩm của việc nuôi gà sinh
sản là quả trứng giống, nghĩa là quả trứng để đưa vào ấp ra những con gà giống, có
thể là giống thịt, giống gà cảnh… Do vậy hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn việc nuôi gà
thương phẩm (giá trứng giống thường bằng 2,5 đến 4 lần giá trứng thương phẩm)
Chu kỳ sản xuất của gà sinh sản thường là 18 tháng gồm 6 tháng nuôi gà con,
gà hậu bị và 12 tháng nuôi gà đẻ lấy trứng ấp giống.
Khác với nuôi láy thịt và lấy trứng, quy mô đàn của “nuôi sinh sản” không
thể nhớ, phải tính bằng trăm, bằng nghìn gà mái. Ngoài ra còn phải nuôi cả gà
trống, yêu cầu kỹ thuật (ăn, ở, chăn sóc, phòng bệnh…) đều phải cao hơn hẳn do vậy
đương nhiên là phải có một số vốn ban đầu đủ lớn (kể cả chuồng trại) so với quy mô
định nuôi thì hãy tính đến chuyện nuôi sinh sản [3].
Vậy đặc điểm nổi bật của ngành chăn nuôi gà là:
Gà cung cấp một số lượng lớn sản phẩm thịt, trứng giàu chất dinh dưỡng đáp
ứng cho nhu cầu ngày càng cao của con người.
Phát triển chăn nuôi gà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người
lao động ở những lơi có điều kiện thuận lợi để phát triển
Mức lợi nhuận còn phụ thuộc nhiều yếu tố nhưng nếu có biện pháp chăn nuôi
thích hợp (giống,thức ăn, thuốc thú y, cách và thời gian chăm sóc… thì khả năng lợi
nhuận sẽ cao hơn.
Gà tận dụng thức ăn sẵn có trong thiên nhiên, thực phẩm dư thừa trong sinh hoạt.
7
Ngoài mục đích sản xuất thịt và trứng có hiệu quả, người chăn nuôi còn có
thể kết hợp nuôi chăn thả với việc bảo vệ mùa màng theo hệ sinh thái kết hợp. Phân
gà được dùng bón cho cây trồng giúp người dân tiết kiệm được tiền đầu tư mua
phân bón và bảo vệ được môi trường không bị ảnh hưởng độc hại do lạm dụng các
8
khác nhau. Từ đó so sánh được hiệu quả kinh tế của các quy mô sản xuất khác nhau,
nhưng nhược điểm của cách đánh gia này không thể hiện được quy mô của hiệu quả
nói chung.
Như vậy hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất
lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc trưng của nền sản xuất xã hội, quan
niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế khác nhau sẽ không giống nhau.
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, mục đích và yêu cầu của một đất nước, một
vùng, một ngành sản xuất cụ thể và được đánh giá theo những góc độ khác nhau.
b, Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, của bất kỳ
mô hình nào thì đó chính là khả năng tạo việc làm thường xuyên, tạo cơ hội để mọi
người dân trong vùng đều có việc làm và từ đó tăng nguồn thu nhập, không ngừng
nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần trên cơ sở đó thực hiện công bằng
dân chủ, công bằng xã hội [6].
c, Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo cho môi
trường sinh thái ngày càng được bảo vệ và cải thiện, phát triển nông nghiệp nông
thôn theo hướng phát triển bền vững. Có nghĩa là phát triển liên tục trên cơ sở khai
thác hợp lý các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho các thế
hệ tương lai [7].
Hiệu quả môi trường còn thể hiện là mô hình không có tác động gây ô
nhiễm môi trường vừa ít hoặc không sử dụng các loại thuốc kích thích cũng như các
loại thuốc hóa học, thuốc bảo vệ thực vật vì đây là nguyên nhân chính gây nên sự ô
nhiễm đối với môi trường sống hiện nay
* Khái niệm về thị trường
Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất
hàng hoá và được hình thành trong lĩnh vực lưu thông người có hàng hoá đem ra
+ Thông qua thị trường có thể nhận biết được sự phân phối của các nguồn
lực sản xuất, thông qua hệ thống giá cả.
+ Thị trường là môi trường kinh doanh, nó giúp các nhà sản xuất nhận biết
nhu cầu xã hội về thế mạnh kinh doanh của mình để có các phương án sản xuất kinh
doanh phù hợp với đòi hỏi của thị trường [7].
+ Thị trường là nơi cung cấp thông tin quan trọng trên cơ sở đó nhà sản xuất
kinh doanh đưa ra các quyết định riêng cho doanh nghiệp mình [7].
+ Thị trường có vai trò quan trọng trong quản lý kinh tế, đó là đối tượng căn
cứ để kế hoạch hóa. Thị trường là công cụ bổ sung cho các công cụ điều tiết vĩ mô
nền kinh tế của Nhà nước [8].
- Chức năng của thị trường
Thị trường là nơi diễn ra hoạt động mua bán do đó nó có các chức năng nhất
định và tầm quan trọng của từng chức năng được thể hiện như sau:
10
+ Chức năng thừa nhận: Thị trường là nơi gặp gỡ giữa nhà sản xuất và người
tiêu dùng trong quá trình trao đổi hàng hoá, thị trường với mong muốn chủ quan
bán được nhiều hàng hoá với giá cả sao cho bù đắp được mọi chi phí bỏ ra và có
lợi nhuận, còn người tiêu dùng tìm đến thị trường để mua những hàng hoá đúng
công dụng, hợp thị hiếu và có khả năng thanh toán theo mong muốn của mình.
Trong quá trình diễn ra sự trao đổi, mặc cả trên thị trường giữa đôi bên về một mặt
nào đó sẽ có 2 khả năng xẩy ra là thừa nhận hoặc không thừa nhận, tức là có thể loại
hàng hoá đó không phù hợp với quá trình tái sản xuất sẽ bị ách tắc, không thực hiện
được. Ngược lại trong trường hợp thị trường thực hiện chức năng chấp nhận tức là
đôi bên đã thuận mua vừa bán thì quá trình tái sản xuất được giải quyết [7].
+ Chức năng thực hiện: Khi mà thị trường đã thừa nhân sự có mặt của hàng hoá
nào đó trên thị trường thì chức năng thực hiện được hình thành và hàng hoá đó sẽ được
lưu thông (bán) như mọi hàng hoá khác trên thị trường [7].
+ Chức năng điều tiết, kích thích: Như chúng ta đã biết lợi nhuận là mục đích
- Phân khúc thị trường
Khi quyết định tham gia vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh nhà sản
xuất kinh doanh phải xác định được thị trường. Cụ thể là xác định nhu cầu của
khách hàng mà mình có khả năng cung ứng. Hướng vào thị trường là hướng vào
khách hàng chính, đó là mục tiêu hàng đầu của các nhà sản xuất kinh doanh. Do vậy
mà trong hoạt động sản xuất kinh doanh thường phân thị trường thành những khúc,
những đoạn riêng biệt nhằm có những biện pháp, chính sách cụ thể đối với những
khúc thị trường đó [2].
+ Căn cứ và thu nhập của người tiêu dùng chia thành thị trường dành cho
những người có thu nhập cao, thị trường dành cho những người có thu nhập trung
bình, và thị trường dành cho những người có thu nhập thấp [2].
+ Căn cứ vào khu vực có thể chia thành, thị trường thành thị, thị trường nông
thôn, thị trường vùng đồng bằng, thị trường vùng cao[2].
+Căn cứ vào số lượng dân cư có thể chia thành thị trường dành cho những
vùng đông dân, thị trường dành cho những vùng ít dân[2].
+ Căn cứ vào trình độ văn hoá có thể chia thành thị trường dành cho những
người có trình độ văn hoá cao và thị trường cho những có trình độ văn hoá thấp.Tuỳ
theo loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau mà các phương thức phân khúc thị trường
khác nhau [2].
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vai trò của ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng
+ Đối với nền kinh tế quốc dân
Trong nền kinh tế quốc dân, chăn nuôi đóng vai trò khá quan trọng, nó góp
phần làm tăng trưởng nền kinh tế và góp một lượng hàng hoá cho xuất khẩu. Tuỳ
theo lợi thế so sánh của mình, mỗi nước có thể xuất khẩu các sản phẩm nông
nghiệp mà trong đó có một phần là sản phẩm chăn nuôi để thu ngoại tệ hay trao đổi
để lấy các sản phẩm công nghiệp đầu tư lại cho ngành nông nghiệp và các ngành
12
lớn không chỉ trong nông nghiệp mà còn kể cả trong nền kinh tế quốc dân cũng
như trong đời sống xã hội. Nó không ngừng đóng góp một phần đáng kể vào tổng
thu nhập quốc dân mà nó còn sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên
13
và nhân lực, từ đó làm tăng thu nhập cho người lao động góp phần ổn định và cải
thiện đời sống cho các hộ nông dân nói riêng và xã hội nói chung.
1.2.2. Vai trò của chăn nuôi gà trong phát triển kinh tế
Ngành chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chính của sản xuất
nông nghiệp. Phát triển mạnh ngành chăn nuôi gà có ý nghĩa quan trọng:
+ Chăn nuôi gà cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, rất cần thiết cho
nhu cầu của con người, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Chăn nuôi phát
triển tạo điều kiện cho trồng trọt phát triển cân đối và toàn diện, có tác dụng thúc đẩy
nền kinh tế phát triển, và cải thiện đời sống cho nhân dân.
+ Gà là giống gia cầm tương đối dễ nuôi so với các loại gia cầm vòng đời
ngắn, quay vòng nhanh nên có thể áp dụng nuôi ở các hộ gia đình, các trang trại
và cả các xí nghiệp doanh nghiệp, nhằm góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình, cải
thiện đời sống nhân dân, đồng thời phát triển nền kinh tế quốc dân.
1.2.3. Tình hình chăn nuôi gà trên thế giới
Chăn nuôi gia cầm tên thế giới được phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và
chất lượng, đặc biệt từ thập kỷ 40 trở lại đây. Tính đến nay tổng đàn gia cầm trên
thế giới đã lên tới 40 tỷ con, trong đó trên 95% là gà.
Do đặc điển địa lý, khí hậu, truyền thống dân tộc, khả năng đầu tư và trình
độ công nghiệp hóa, hiện đại hoá trong chăn nuôi gia cầm cùng với thói quen tiêu
dùng… mà đàn gà phân bố không đều. Hơn 50% đàn gà được nuôi ở châu Mỹ, Hoa Kỳ
là nước nuôi nhiều gà công nghiệp nhất (trên 40%), rồi đến một số nước Tây Âu, trong
khi đó gà lông màu, gà địa phương nuôi trang trại và chăn thả lại tập trung nhiều nhất ở
Trung Quốc và một số nước ở Châu Á.
1.2.3.1 Phương thức nuôi trên thế giới
ĐVT: 1000 con
Vùng Số lượng
Thế giới 59.860.826
Châu Á 24.723.353
Châu Phi 3.938.764
Châu Mỹ 20.743.221
Châu Âu 9.784.701
Châu Úc 670.787
(Nguồn: Tình hình chăn nuôi thế giới theo FAO- 2012)
(Nguồn: Tình hình chăn nuôi thế giới theo FAO- 2012)
Hình 1.1: Cơ cấu số lượng gà trên thế giới năm 2012
Theo bảng phân bố số lượng gà trên thế giới năm 2012 ta thấy số lượng gà
tại các châu lục rất nhiều, nhiều nhất là số lượng gà tại Châu Á có số lượng gà nhiều
nhất thế giới chiếm 41 % số lượng gà trên thế giới, Đứng thứ hai là châu Mỹ chiếm
35%. Châu Úc là nước có số lượng gà ít nhất chỉ chiếm 1 % số lượng gà trên thế giới.
15
Bảng 1.2: Số lượng gà của một số nước chăn nuôi gà nhiều nhất
thế giới năm 2012
ĐVT: 1000 con
STT Nước Số lượng
1 Trung Quốc 9178430
2 Chủng Quốc Hoa Kỳ 8650779
3
Brazil 5267815
4 Indonesia 2089855
5 Liên bang Nga 2046565
6
tăng lên, ở một số nước nuôi nhiều gà trên thế như Trung Quốc tình hình tiêu thụ
cũng tăng nên năm 2009 sản lượng tiêu thụ là 11,4 triệu tấn, năm 2010 là 11,8 triệu
tấn tăng 3,5%, Indonesia sản lượng tiêu thụ năm 2009 là 1,4 triệu năm 2010 là 1,6
triệu tăng 14.2 %. Vậy tình hình tiêu thụ thịt gà ở các nước hầu hết đều tăng nên.
1.2.4. Tình hình chăn nuôi gà ở Việt Nam
1.2.4.1. Tình hình chung
Chăn nuôi gà là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng
thứ hai (sau chăn nuôi lợn) trong toàn ngành chăn nuôi của Việt Nam. Hàng năm,
chăn nuôi gà cung cấp khoảng 350 - 450 nghìn tấn thịt và hơn 2,5 - 3,5 tỷ quả
trứng. Tuy nhiên, chăn nuôi gà ở nước ta vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân
tán, lạc hậu, năng suất thấp, dịch bệnh nhiều, sản phẩm hàng hoá còn nhỏ bé.
Sản xuất chưa tương ứng với tiềm năng, sản phẩm chưa đáp ứng đủ nhu cầu
xã hội. Một lượng sản phẩm chăn nuôi gà nhập khẩu từ nước ngoài về rất lớn dù
thuế suất cao nhưng các sản phẩm nhập khẩu vẫn từng bước chiếm lĩnh một phần
thị trường Việt Nam. Như vậy, chăn nuôi gà sẽ là thị trường rộng lớn ở trong nước
trong nhiều năm tới mà chúng ta cần chủ động chiếm lĩnh, nhất là hiện nay Việt
Nam đã gia nhập tổ chức WTO.
Việc phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm được xã hội quan
tâm bởi loài vật nuôi này có nhiều ưu thế hơn các loài vật nuôi khác: vòng đời
nhanh, vốn đầu tư ban đầu thấp. Hơn nữa, Việt Nam là một trong những cái nôi đầu
tiên thuần hóa gà, có sự đa dạng rất lớn về các giống gà. Tuy nhiên, Việt Nam đang
phải đối mặt với nhiều thách thức: dịch bệnh,thiếu thức ăn( ngô, đỗ tương) và việc
nhập khẩu thịt trứng gia cầm từ các nước như Mỹ, Brasil…với giá rẻ hơn so với thị
trường trong nước, đã và đang làm cho ngành chăn nuôi gia cầm Việt Nam gặp
nhiều khó khăn hơn.
Hiện nay 80% chăn nuôi gà ở nước ta là sử dụng các giống địa phương. Chăn
nuôi gà chăn thả với các giống truyền thống địa phương cũng không ngừng phát
triển và hiệu quả ngày càng tăng bởi các giống địa phương đã được đầu tư để bảo
tồn quỹ gen nhằm chọn lọc để nâng cao năng xuất [7]. Nhiều giống gà thả vườn,
lông màu, dễ nuôi, khả năng cho thịt cao, khả năng sinh sản tốt thịt thơm ngon đã
1/7/2011
Vùng Tổng
Hộ có chăn nuôi gà
(1000 con)
Cơ cấu của hộ theo quy
mô nuôi trong từng
nhóm(%)
Chia theo quy mô số con gà
Dưới
20 con
20-49
con
50-99
con
Từ
100
con
trở
lên
Dưới
20
con
20-
49
con
50 -99
con
Từ
100
ĐBSCL 1183,2
796,5 315,2 46,5 25,0 18,5 11,5 8,3 9,8
(Nguồn: Tổng cục thông kê)
Như hình 1.3 mô tả cơ cấu các nhóm chăn thả gà theo vùng. Tính chung cả
nước nhóm nuôi lẻ (1- 19 con) chiếm 54,7% tổng số hộ nuôi gà. Nhóm có quy mô
vừa từ (20-49 con) cũng chiếm đến gần 34,9%. Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và
nhóm quy mô lớn lần lượt là 7,16 và 3,2%.
ĐBSH đứng thứ hai về số lượng chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19 con)
chiếm 46,48% tổng số hộ nuôi gà. Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) cũng chiếm đến
gần 40,42%. Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là 8,41% và
4,69%. Là vùng có số lượng các hộ nuôi gà lớn hơn 100 nghìn con trên cả nước.
TDMNPB đứng thứ ba về số lượng chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19 con)
chiếm 49,37% tổng số hộ nuôi gà. Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) chiếm đến
gần 37,32%. Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là
1,07% và 4,14%.
BTBDHM dẫn đầu về số lượng chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19 con) chiếm
57,45 tổng số hộ nuôi gà. Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) chiếm đến gần
34,02%. Nhóm quy mô khá từ (50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là 6,38%
và 2,15%.
19
TN chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19 con) chiếm 62,15 tổng số hộ nuôi gà.
Nhóm có quy mô vừa từ (20-49 con) chiếm đến gần 21,84%. Nhóm quy mô khá từ
(50-99 con) và nhóm quy mô lớn lần lượt là 8,32% và 2,46%.
Hình 1.3: Cơ cấu hộ nuôi gà theo quy mô trong từng vùng KT – XH thời
điểm 01/10/2011
ĐNB có số lượng gà thấp nhất cả nước, chăn nuôi gà nhóm nuôi lẻ (1- 19
đạt khoảng 260 triệu con, trong đó đàn gà
nuôi công nghiệp chiếm khoảng 30%
1.2.4.2 Tình hình tiêu thụ gà ở Việt Nam
Với dân số khoảng 90 triệu người, và tốc độ tăng dân số nhanh, Việt Nam
đang thực sự đối mặt với sự thiếu hụt về lương thực, thực phẩm, và có thể xem là
thiếu hụt nghiêm trọng nếu so với mức tăng trưởng của thế giới và tiêu chí nâng cao
đời sống cho người dân mà Chính phủ Việt Nam đặt ra.
Thịt gà là thực phẩm không thể thiếu.Tại Việt Nam trong các bữa ăn, vào
thời điểm không có dịch, mỗi ngày có hàng trăm tấn gia cầm được tiêu thụ. Tuy
nhiên kể từ khi dịch cúm bùng phát đã tác động không nhỏ tới giá cả và thị trường
tiêu thụ. Trước đây, bình quân mỗi ngày có khoảng 50 tấn gia cầm được chuyển đến
chợ, nhưng khi có dịch số lượng đã giảm đi một nửa.
Trước tình trạng người tiêu dùng “quay lưng” với thịt gà, kể cả ở những
vùng không có dịch, nhiều chuyên gia nông nghiệp đã lên tiếng kêu gọi người tiêu
dùng nên cân nhắc lựa chọn thịt gia cầm ở các cơ sở lớn và yên tâm sử dụng khi gia
cầm có nguồn gốc rõ ràng, được cơ quan kiểm dịch đóng dấu xác nhận.
Nhiều người lo ngại, sau đại dịch, nguồn thịt gà sẽ khan hiếm do nhu cầu
tăng, giá cả cũng tăng, nếu không kiểm soát tốt, sẽ dẫn đến tình trạng nhập khẩu lậu
và tiêu thụ những sản phẩm không rõ nguồn gốc từ ngoài vào, lúc đó thị trường thịt
gà sẽ càng khó kiểm soát hơn và phần thiệt thòi vẫn tiếp tục đến với những hộ chăn
nuôi gà trong nước.
Sang đến hết quý 1 năm 2014, thị trường tiêu thụ thịt gà đã có những biến
chuyển theo hướng tích cực hơn. Ghi nhận tại một số chợ đầu mối và các địa
21
phương có đàn gia cầm lớn trên địa bàn cả nước như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí
Minh, Vĩnh Phúc … giá các sản phẩm thịt gia cầm đã tăng trở lại.
Bảng 1.4 : Giá bán các sản phẩm gà tại một số chợ
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hộ nông dân chăn nuôi gà trên địa bàn xã Hòa Sơn, huyện Hiệp Hòa,
tỉnh Bắc Giang.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
2.1.2.1. Phạm vi về thời gian
Đề tài được thực hiện từ 1/1/2014 đến 20/05/ 2014. Số liệu nghiên cứu là số liệu
của 3 năm 2011- 2013, số liệu điều tra là số liệu hộ thể hiện năm 2014.
2.1.2.2. Phạm vi về không gian
Địa bàn xã Hòa Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
2.1.2.3. Phạm vi về đối tượng nghiên cứu
Trên địa bàn xã có nhiều phương thức chăn nuôi gả thả vườn, hầu hết là gà
ta. Do điều kiện hạn hẹp về thời gian nên tôi xin chỉ nghiên cứu gà thả vườn thương
phẩm (gà thịt).
2.1.2.4. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Hòa Sơn, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc
Giang.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Sơ lược về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã Hòa Sơn, huyện Hiệp
Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Nghiên cứu thị trường sản phẩm gà thả vườn trên địa bàn xã.
- Điều tra thực trạng và hiệu quả kinh tế của của việc chăn nuôi gà thả vườn
tại địa bàn xã.
- So sánh hiệu quả chăn nuôi với gà công nghiệp
- Đề xuất số giải pháp nhằm giúp các hộ nông dân nâng cao hiệu quả chăn
nuôi gà thả vườn, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.
Trong phạm vi đề tài này, để thu thập được các thông tin sơ cấp phục vụ cho
kết quả nghiên cứu, tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp nông dân nuôi gà thả vườn
bằng bảng hỏi, với bộ câu hỏi này, số liệu thu thập trong quá trình điều tra được
tổng hợp bằng bảng biểu.
2.3.2.2. Thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp là phương pháp thu thập các thông tin,
số liệu có sẵn hoặc từ các số liệu đã được công bố. Các thông tin này thường được
thu thập từ các cơ quan, tổ chức, văn phòng, dự án, các tài liệu trên Internet…
Trong phạm vi đề tài này, phương pháp thu thập thông tin thứ cấp sử dụng để
có được các số liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của xã Hòa Sơn, tình