B KHOA HC V CễNG NGH VIN CHN NUễI
CHNG TRèNH KHOA HC CễNG NGH CP THIT MI PHT
SINH A PHNG
BO CO TểM TT KT QU KHOA HC CễNG
NGH CA TI Tên đề tài: Nghiên cứu một số giải pháp khoa học và công
nghệ để phục hồi và phát triển đàn bò của đồng bào Mông
tại tỉnh Bắc Kạn
Chủ nhiệm đề tài Cơ quan chủ trì đề tài/ dự án
(Ký tên) (Ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Thoa Hoàng Văn Tiệu
Theo k hoch Thc t t c Ghi chỳ S
TT
Thỏng, nm Kớnh
phớ(tr.ng)
Thỏng, nm Kớnh
phớ(tr.ng)
S
ngh
quyt
toỏn
1 8/2008- 8/2009 700 8/2008- 8/2009 700 700
2 8/2009- 8/2010 500 8/2009- 8/2010 500 500
3 8/2010-9/2011 236 8/2010-9/2011 236 236
c) Kt qu s dng kinh phớ theo cỏc khon chi
Theo k hoch Thc t t c
S
TT
Ni dung cỏc
khon chi
Tng
(tr.ng)
SNKH
Ngun
khỏc
Tng
(tr.ng)
SNKH
Số
TT
Số, thời gian ban
hành văn bản
Tên văn bản Ghi
chú
1
Số 31/SCN-KHCN,
ngày 02/3/2007
Đề nghị thực hiện nhiệm vụ KH&CN trọng
điểm tại tỉnh Bắc Kạn.
2
Số 821/QĐ-
BKHCN, ngày
22/5/2007
Về việc phê duyệt Danh mục các nhiệm vụ
KH&CN trọng điểm thực hiện tại các tỉnh,
thành phố năm 2007
3 Ngày 11/5/2007 Đề cương thuyết minh đề tài
4
Ngày 05/6/2007 Lý lịch của cơ quan chủ trì, chủ nhiệm và
các thành viên thực hiện đề tài
5
Số 869/QĐ-
BKHCN, ngày
35/5/2007
Phụ lục 1:
Tài liệu giao nộp
TT
Hợp đồng Thực hiện TH/
H Đ%
1
Báo cáo định kỳ 6 tháng 1 lần Báo cáo định kỳ 6 tháng 1 lần 100
2
Báo cáo tổng kết khoa học kỹ
thuật của đề tài
Báo cáo tổng kết khoa học kỹ
thuật của đề tài
100
3
Báo cáo tóm tắt khoa học kỹ
thuật của đề tài
Báo cáo tóm tắt khoa học kỹ
thuật của đề tài
100
4
Báo cáo chuyên đề Báo cáo chuyên đề 100
3
Phụ lục 2:
Danh mục sản phẩm khoa học và công nghệ dạng kết quả 1,2
TT
Hîp ®ång Thùc hiÖn
TH/
H§
đã lựa
chọn
100 bê Phát triển
bình thường
112 bê
Phát triển
bình thường
112
3
Bê sinh ra
do CTP
20 bê Phát triển
bình thường
21 bê Phát triển
bình thường
105
Bê ra đời
do TTNT 30 bê Phát triển
bình thường
32 bê Phát triển
bình thường
106
4
Mông tại
bắc kan
3 huyện
điểm có
bò tập
trung
- Có được
đánh giá
chính xác về
số lượng sự
phân bố, đăc
điểm ngoại
hình, màu sắc
lông da đàn
bò của đồng
bào Mông
Bắc kan.
- Đánh giá về
tập quán chăn
nuôi, phương
3 huyện
điểm có
bò tập
trung
- Đã đánh giá
được chính
xác về số
lượng sự
phân bố, đăc
điểm ngoại
kg
100
7
Phân tích
đánh giá
chất lượng
thịt bò
Mông
3 chỉ tiêu
Protein thô ,
chất béo thô,
vật chất khô,
5 chỉ tiêu:
Protein thô
chiếm, chất
béo thô, tro
thô, vật chất
khô, ẩm tổng
số.
166
8 Số liệu, cơ
sở dữ liệu
Số liệu đầy
đủ, đáng tin
cậy
Đã có số liệu
đầy đủ, đáng
12 KTV Các học viên
làm chủ được
kỹ thuật
TTNT, kỹ
thuật chăn
nuôi và hiểu
được Công
nghệ CTP
12 KTV - Đã đào tạo
được 12 học
viên làm chủ
được kỹ thuật
TTNT, kỹ
thuật chăn
nuôi và hiểu
được Công
nghệ CTP.
- 1 kỹ sư chăn
nuôi
- 1 Th.s chu
bẩnị bảo vệ
100
5
tốt nghiệp
cuối năm
2011
11
Xây dựng
- Gây động
dục đồng pha
và cấy phôi
cho bò Mông.
100
MỤC LỤC BẢNG
Trang
Bảng 1: Bảng tổng hợp số lượng đàn bò của tỉnh Bắc Kạn…………………
42
Bảng 2: Phân bố dân tộc Mông sinh sống tại 3 huyện Pác Nặm, Ba Bể và
Chợ Đồn……………………………………………………………………………
43
Bảng 3: Số lượng bò Mông qua điều tra tại một số xã của 3 huyện……….
45
Bảng 4: Kết quả điều tra về cơ cấu giống bò Mông tại các xã được điều
tra………………………………………………………………………………….
46
Bảng 5: Kết quả điều tra về trọng lượng của bò Mông ở các lứa tuổi………
47
Bảng 6: Một số đặc điểm tinh dịch bò Mông…………………………………….
51
Bảng 7: Tỷ lệ các lần lấy tinh đạt tiêu chuẩn của bò đực Mông………….
53
Bảng 8: Kết quả sản xuất tinh cọng rạ của bò đực Mông…………………
53
Bảng 9: Kết quả phản ứng của buồng trứ
ng bò khi GRTN ………………
55
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU…………………………………………………………
2
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ…………………………………………………………
2
1.2. MỤC TIÊU……………………………………………………………
4
PHẦN II: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ……………
4
2.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG
NƯỚC
4
2.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ………………………………
4
2.1.2. Nghiên cứu trong nước……………………………………………
7
2.2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………………
11
2.2.1. Thực trạng giống Bò của đồng bào Mông tỉnh Bắc Kạ
n…………
11
2.2.2. Cơ sở khoa học của công nghệ Cấy truyền phôi bò………………
11
2.2.2.1. Kích thích noãn bao phát triển đồng loạt bằng sự tác động hormone
11
2.2.2.2. Gây động dục đồng pha và cấy phôi cho bò nhận…………………
20
2.2.2.3. Cơ chế đông lạnh phôi……………………………………………
25
2.2.2.4. Giải đông phôi………………………………………………………
3.2.2.1. Tuyển chọn bò cho cấy phôi, TTNT và phối giống trực tiếp ………
33
3.2.2.2. Phương pháp sản xu
ất tinh………………………………………….
34
3.2.2.3. Phương pháp sản xuất phôi……………………………………….
37
3.2.2.4. Phương pháp đông lạnh phôi………………………………………
38
3.2.2.5. Phương pháp Gây động dục đồng pha cho bò nhận phôi…………
3.2.3. Phương pháp xây dựng mô hình chăn nuôi nông hộ……………….
40
40
3.2.4. Phương pháp đào tạo tập huấn TTNT và hiểu được công nghệ CTP
41
PHẦN IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN………………………………
42
4.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………………………………………
4.1.1. Đánh giá thực trạng đàn bò của đồng bào Mông của tỉnh B
ắc kan
42
42
Cấy truyền phôi………………………………………….
65
4.1.3. Xây dựng mô hình chăn nuôi nông hộ……………………………….
69
4.1.4. Đào tạo tập huấn kỹ thuật viên thụ tinh nhân tạo…………………….
70
PHẦN V: KẾT LUẬN và KIẾN NGHỊ…………………………………
5.1. KẾT LUẬN……………………………………………………………
70
70
5.2. KIẾN NGHỊ……………………………………………………………
73
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………
Tài liệu trong nước ………………………………………………………
Tài liệu nước ngoài………………………………………………………….
73
73
76 1
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
NĂM 2008-2011 THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp khoa học và công nghệ để phục hồi và
phát triển đàn bò của đồng bào Mông tỉnh Bắc kạn. 2
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới hiện có 1,3 tỷ con bò với hàng trăm giống khác nhau đã được
thuần hoá và chọn lọc, nhân thuần và lai tạo hàng trăm năm. Có nhiều giống bò
thuần địa phương nổi tiếng, như bò Red Sind (Pakistan), bò Sahiwal (Ấn độ). Các
giống bò nhiệt đới Châu á này là những nguồn gen quý để lai tạo với các giống bò
ôn đới của Châu Âu như Santagestrudis, Charolais, Limousin để tạo nên những
giống bò thịt nổi ti
ếng thế giới. Đồng thời chúng cũng được chọn lọc nâng cao
năng suất và tạo nên các dòng thuần bò khác nhau phù hợp với môi trường nuôi
dưỡng, điều kiện sinh thái của địa phương.
Việt Nam đã phát hiện 60 giống vật nuôi nội địa trong đó có những giống
khá nổi tiếng như: gà Đông Tảo, Lợn ỉ, gà Mông, bò Mèo, Bò U Đầu rìu, Bò rừng,
bò Cóc, bò Vàng, bò Bà Rịa, bò Mông Một số giống này đang được ph
ục hồi và
khai thác tích cực, hiệu quả nhằm đưa ra các sản phẩm mang tính cạnh tranh. Trong
Thông báo số 5769/TB-VP ngày 28 tháng 12 năm 2006 về ý kiến kết luận của Bộ
trưởng Bộ NN và PTNT tại Hội nghị tổng kết sản xuất nông, lâm nghiệp năm 2006
và triển khai kế hoạch sản xuất nông, lâm nghiệp năm 2007 các tỉnh miền núi phía
Bắc có nhấn mạnh: "Giống bò vùng cao nên tập trung chủ yếu phát triển gi
ống bò
có tầm vóc lớn, thịt có chất lượng cao. Tuy nhiên, phải có các giải pháp kèm theo
về giống, dinh dưỡng, trồng cỏ chế biến thức ăn và phòng trừ dịch bệnh …".
Bò Mông là giống bò mới được phát hiện ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ
điều kiện chăn nuôi, nghiên cứu phục hồi và phát triể
n đàn bò, chưa có các báo cáo
chuyên đề về khả năng sản xuất của giống bò này.
Vì vậy, việc điều tra khảo sát nghiên cứu về bò của đồng bào Mông ở Bắc
Kạn là điều cần thiết. Nghiên cứu này cho phép nhìn nhận một cách tổng thể về
hiện trạng, phân bố, tình hình khai thác và tiềm năng của giống bò này đối với chăn
nuôi của Bắc Kạn nói riêng và của Việ
t Nam nói chung trong tương lai. Đồng thời
kết quả thu được cho phép hệ thống lại những gì đã được nghiên cứu về bò của
đồng bào Mông ở địa phương khác để có định hướng trong công tác nghiên cứu
4
khoa học và chuyển giao công nghệ phục hồi, khai thác và phát triển giống bò
Mông một cách hợp lý có hiệu quả, góp phần trong việc phát triển một nền chăn
nuôi đa dạng sinh học và bền vững của Việt Nam.
Có thể nói, Ứng dụng công nghệ Thụ tinh nhân tạo và Cấy truyền phôi là
một trong những phương pháp có thể đem lại hiệu quả cao trong việc phục hồi,
phát triển, sử dụng và bảo t
ồn nguồn gen quý giống bò Mông của tỉnh Bắc Kạn.
Được sự đồng ý của Ban công tác địa phương - Bộ KH và CN, chúng tôi tiến hành
đề tài nghiên cứu
″Nghiên cứu một số biện pháp khoa học và công nghệ để phục hồi và phát
triển đàn bò của đồng bào Mông tỉnh Bắc kạn”
1.2. MỤC TIÊU
1. Đánh giá được thực trạng đàn bò của đồng bào Mông tại tỉnh Bắc Kạn.
2. Khôi phục và phát tri
ển giống bò của đồng bào Mông tại tỉnh Bắc Kạn
3. Có được mô hình chăn nuôi bò nông hộ.
2
α
trên bò. Boland và cs. 1978; Chupin và Procureur, 1982;
Newcomd và cs. 1976 Elsden và cs. nghiên cứu GRTN bằng PMSG và PGF
2α
trên
bò. Boland và vs. 1978; Chupin và Procureur, 1982; Newcomb và cs. 1976 sử dụng
eCG để GRTN ở bò, Yadav và cs (1985), Ellington và cs (1987) việc sử dụng
Progesterone và PGF trong GRTN để khống chế thời điển, thời gian và mức độ
động dục có thể đem lại những cải tiến về số trứng rụng và chất lượng phôi.
Năm 1986, tác giả Kostov và cs, 1987 Dieleman và cs. nghiên cứu GRTN
bằng sử dụng PMSG, PGF
2α
và anti-PMSG.
Olivera-Angel và cs (1984) nghiên cứu và tỷ lệ thu phôi và chất lượng của
phôi sau khi GRTN bằng eCG (2000 IU) trên bò thịt tơ và bò thịt.
Qua kết quả nghiên cứu về ứng dông GRTN trong cấy truyền phôi của nhiều
tác giả, có thể đưa ra nhận xét rằng hầu hết các phương pháp GRTN được sử dụng,
phổ biến hiện nay đều được sử dụng các hoocmon sinh sản và ở mức độ các cơ chế
6
điều khiển nội tiết-thần kinh thể dịch.
Tuy nhiên, những năm 1970 do chưa nghiên cứu về đông lạnh và giải đông
phôi, số phôi thu được nhiều, số bò động dục đồng pha ít, số phôi cấy không hết sẽ
lãng phí, vì vậy đã phải duy trì một số lượng lớn bò nhận phôi để tất cả phôi ở ngày
thu phôi sẽ được cấy cho bò nhận. Sau khi triển khai có hiệu quả
các phương pháp
đông lạnh phôi, sử dụng dimethyl sulfoside hay glycerol làm chất bảo vệ lạnh, CTP
trở thành một công nghệ hiệu quả hơn, mà không còn phụ thuộc vào số bò nhận
phôi nữa. Thành công đầu tiên của việc đông lạnh phôi động vật có vú được báo
xcell-CSS® vv
V
ề thành phần hoá học của môi trường đông lạnh tinh dịch mỗi công ty đều
có bản quyền riêng về thành phần, công thức pha chế phù hợp với điều kiện của họ
và họ liên tục cải tiến nhằm càng ngày càng có những môi trường đông lạnh tinh
dịch bò hoàn thiện hơn. Tuy vậy những hoá chất cơ bản để thiết lập môi trường
đông lạnh tinh dịch bò trên thế giới th
ường có: chất cung cấp năng lượng (đường
sacharid), chất đệm (trihydroxymethylaminomethane), lòng đỏ trứng, chất chống
đóng băng (cryoprotectant) như glycerol.
Thực tế phát triển hệ thống nhân giống bò bằng công nghệ sinh sản và di
truyền trên thế giới trong những năm gần đây cho thấy với các tiến bộ, thành công
mới về áp dụng các kĩ thuật siêu âm khai thác trứng, sản xuất phôi in vitro công
nghệ sản xuất phôi invivo, công nghệ đ
ông lạnh tinh, phôi đông lạnh và cấy truyền
phôi đang thể hiện vai trò trung tâm; ngoài việc nâng cao hiệu quả công tác chọn
lọc nhân giống, các công nghệ này góp phần cải tiến tình trạng mang thai và sinh
sản của bò thông qua việc ứng dụng liên hoàn các phương thức quản lý và kĩ thuật
khác (Arlotto vcs, 2001; Hansnen vcs, 2006).
2.1.2. Nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây việc nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ vào việc
bảo tồn và phát triển nguồn gen v
ật nuôi địa phương và những động vật quý hiếm
đã và đang được nhà nước quan tâm.
Ở Hà Giang có giống bò Mèo được dân tộc thiểu số nuôi tại các tỉnh vùng
8
núi phía bắc Việt Nam, đặc biệt tập trung tại các huyện vùng cao Hà Giang. Giống
bò này có khả năng sản xuất cao, tầm vóc lớn, phẩm chất thịt thơm ngon. Nhận
thấy được đặc điểm quý của giống bò này, những năm 90 của thế kỷ trước một số
chăn nuôi, đặc điểm phân bò, thực trạng khai thác từ đó đề ra một số giải pháp khôi
phục, phục hồi và phát triển giống bò của đồng bào Mông tại tỉnh Bắc Kạn.
Công nghệ sinh học sinh sản hiện đại đã nghiên cứu và ứng dụng vào sản
xuất một số công nghệ với mục đích phục hồi và nhân nhanh các giống vật nuôi
quý hiếm.
Năm 1978 đã có mộ
t số tác giả tại Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công
nghệ Quốc gia bắt đầu nghiên cứu cấy truyền phôi trên thỏ (Bùi Xuân Nguyên và
Nguyễn Thị Ước). Từ năm 1980, các tác này cũng đã bắt đầu nghiên cứu cấy
truyền phôi trên bò. Từ năm 1989, tại Viện Chăn nuôi, Bộ môn Cấy truyền phôi đã
được thành lập. Với sự kết hợp của Viện công nghệ sinh học và sự tham gia của
Trường ĐH Nông nghi
ệp I, Viện Quân Y 103, Viện Chăn nuôi và một số cơ quan
khác. Đề tài KC -04-11 giai đoạn 2001-2004 (nghiên cứu ứng dụng công nghệ cấy
truyền phôi bò) đã được thực hiện với sự chủ trì của Viện Chăn nuôi và sự tham
gia của trường ĐH Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh, ĐH Nông Lâm TP Hồ Chí
Minh, ĐH Thái Nguyên, Trung tâm công nghệ phôi - Viện Quân Y và nhiều cơ
quan khác Năm 1986, con bê đầu tiên ở nước ta được ra đời từ công nghệ này.
Năm 1994, bò sinh đôi trong đó có một bê do trứng rụng tự nhiên trong chu kỳ
động dục và một bê do cấy truyền phôi đã được thực hiện tại Viện Chăn nuôi. Ngày
3/3/2002, cặp bê cái sinh đôi từ một phôi cắt thành 2 phôi đã ra đời. Đây là thành
công đầu tiên ở Việt Nam về công nghệ cloning từ tế bào phôi. Ngày 14/1/2004,
con bê đầu tiên từ phôi thụ tinh ống nghiệm do cán bộ nghiên cứu Viện Chăn nuôi
quốc gia thực hiện
đã sinh ra. Trong những năm qua công nghệ phôi đã đạt được
một số kết quả sau: Số phôi thu được đạt 5,75 phôi/bò/lần thu phôi và 46
phôi/bò/năm; tỷ lệ có chửa đạt 38%-41,83% và tỷ lệ đẻ đạt 28,11-30% ( Nguyễn
Thị thoa và cs 2007-2010). Những kết quả trên đây chứng tỏ rằng chúng ta đã tiếp
cận thành công Công nghệ sinh học sinh sản hiện đại của động vật. Những kết quả
này khẳng
nghiệm đạt 54,14% và tỷ lệ tạo phôi trong ống nghiệm đạt 30,78%.
Nguyễn Thị Thoa và cs (năm 2007,2008,2009,2010) sản xuất phôi invitro từ
tế bào trứng thu trên bò sữa bằng phương pháp siêu âm, lệ thụ tinh đạt 76,16% và
tỷ lệ tạo phôi trong ống nghiệm đạt 44,77%.
Từ năm 1972, nước ta đã có trung tâm Moncada được Cu Ba giúp đỡ để sản
xuất tinh bò đông lạ
nh. Từ những năm 1997 trở về trước, Trung tâm tinh đông lạnh
11
Moncada chủ yếu sản xuất tinh đông lạnh dạng viên bằng môi trường đông lạnh
theo quy trình và hoá chất do Cuba cung cấp. Sau giải đông sức hoạt động của tinh
trùng thường đạt 30%. Từ năm 1998, nhờ những tiến bộ kỹ thuật và do nhu cầu của
sản xuất, Trung tâm đông lạnh Moncada đã chuyển sang sản xuất tinh đông lạnh
dạng cọng bằng môi trường đông lạnh tinh bò nhập t
ừ hãng Minitub của Đức là
Triladil. Từ năm 2001 đến nay, với sự giúp đỡ của tổ chức JICA Nhật Bản, Trung
tâm đông lạnh Moncada đã tự phối chế được môi trường đông lạnh tinh trùng theo
công thức của Nhật Bản LIAJ1. Sau đông lạnh -giải đông, sức hoạt động của tinh
trùng đạt 40%.
2.2. CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG VIỆC PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN BÒ
MÔNG TỈNH BẮC KẠN
2.2.1. Th
ực trạng giống Bò của đồng bào Mông tỉnh Bắc Kạn
Hiện nay giống bò của đồng bào Mông tỉnh Bắc Kạn đang có nguy cơ bị
thoái hoá về giống do phương thức chăn nuôi vẫn mang nặng tính truyền thống,
chăn thả theo tự do theo bầy đàn, vì vậy không kiểm soát được sự nhân giống(con,
bố, mẹ, anh chị em phối giống lẫn nhau), dẫn đến vấn đề cận huy
ết kéo dài gây
thoái thóa đàn bò. Hơn thế nữa những con bò có trọng lượng lớn người dân thường
bán đi để thu được nhiều tiền, những con nhỏ hơn giữ lại để nuôi. Việc giữ lại số bò
ủa chu kì, đợt hai vào
ngày 11-17, đợt ba là ngày 18-0. Mỗi đợt sóng nang có thể huy động tới 15 nang
kích thước từ 5-7 mm phát triển, sau này có một nang phát triển mạnh hơn gọi là
nang trội (nang khống chế). Kích thước của nang khống chế ở đợt 1, 2, 3 có thể đạt
12-15 mm và các đỉnh kích thước nang tương ứng quan sát thấy vào các ngày 6, 13,
21 (Dalin 1987, Monget 1993). Đặc điểm trong các đợt phát triển nang là sự phát
triển có tính tự điều khiển và cạnh tranh giữa các nang. Mỗi đợt có 1-2 nang tr
ội,
vài nang lớn phát triển và sự phát triển của các nang còn lại bị kìm hãm. Tuy vậy
trong khi thể vàng còn tồn tại, nang khống chế và nang lớn sẽ bị thoái hoá, chỉ có
đợt cuối cùng khi thể vàng không còn thì nang khống chế mới phát triển tới chín và
rụng. Đây là lý do giải thích tại sao mỗi chu kì động dục của bò chỉ có một trứng
chín và rụng (cá biệt có 2 trứng). Do đặc điểm này các đợt phát triển nang còn được
gọi là các sóng nang phát triển. Trong m
ỗi đợt sóng như vậy sự tồn tại của các nang
13
không phải nang khống chế dao động từ 5-6 ngày (Ireland 1987, Fortune và cs.
1988). Riêng nang khống chế có thể phát triển nhanh sau ngày 18 của chu kì, tốc độ
phát triển của nang khống chế vào thời điểm này có thể đạt 1,6mm một ngày
(Fortune và cs.1988, Savio và cs. 1988).
Trên cơ sở nghiên cứu về về quy luật phát triển của nang trên buồng trứng và
những hiểu biết hormone điều khiển sinh sản, nhiều cac nhà khoa học đã tạo cho
trứng rụng đồng loạ
t trong một chu kì và tạo được nhiều phôi có chất lượng vào
điểm được xác định bằng kỹ thuật gây rụng trứng nhiều. Kỹ thuật gây rụng trứng
nhiều đã thu được nhiều kết quả khả quan. Gây rụng trứng nhiều (GRTN) lần đầu
tiên được nghiên cứu trên chuột của Engle (1927); trên bò và cừu của Col và Miller
(1933); Parker và Hammond (1940) và Casida và cs. (1944). Các phương pháp
GRTN trong giai đoạn này bước đầu nghiên cứu chủ yế
LH (Dieleman 1993). Vào thời điểm sắp rụng trứng, sự tăng các thể tiếp nhận LH
được quan sát thấy trong các nang khống chế sẽ dẫn tới tăng tổng hợp Progesterone
và PGF. Các hocmon này có tác động gây sự vỡ nang thông qua sự kích thích hoạt
động co các cơ trơn nằm ở lớp màng ngoài buồng trứng (Akamura và cs. 1972;
Virutamanen 1972, Chaning và cs. 1980) hoặ
c tăng sự tổng hợp các enzym gây tan
màng nang như plasmin, hyaluronidaza (Beer 1975; Espey 1974). Những nghiên
cứu này góp phần đưa ra các chỉ dẫn về vai trò và phương thức sử dụng LH hoặc
hCG trong gây rụng trứng nhiều. Ngoài ra, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về
các phương pháp và sử dụng các loại hocmôn khác nhau để GRTN ở bò cho phôi.
Theo Elsden và cs. (1974), gây rụng trứng nhiều bằng PMSG và PGF
2α
trên
bò cho kết quả rất tốt. Bò được tiêm PMSG vào giữa chu kì động dục với liều 1500
–2000 UI, sau 48h tiêm 2 liều 1,9mg PGF
2α
cách nhau 12h. Trong tổng số 24 bò
được tiến hành gây rụng trứng nhiều có 18 bò động dục trong vòng 5 ngày kể từ
khi tiêm PGF
2α
. Trong số đó có 14 bò động dục vào ngày thứ 2 và 4. Bằng phương
pháp phẫu thuật để đánh giá kết quả cho thấy rằng cả 24 bò đều có phản ứng mạnh
và có số trứng rụng bình quân là 13,2±19, trong đó có 20 bò có noãn bao không
rụng bình quân là 3,3. Thí nghiệm khác trên 35 bò với liều 2000 UI, PMSG tác
dụng vào ngày thứ 16 của chu kì động dục, kết quả chỉ có 24 bò phát hiện có phản
ứng với PMSG bằng phương pháp khám lâm sàng qua trực tràng. Khi mổ khám có
15
7 bò trong số 29 bò không rụng trứng và có u nang buồng trứng. Trên 17 bò bình
quân trứng rụng là 8,0±1,5 có 4 bò vẫn còn noãn bao không rụng. Một nghiên cứu
thông báo kết quả gây rụng trứng nhiều trên 30 bò
cái tơ với liều 2500UI PMSG tiêm vào ngày thứ 9-12 của chu kì động dục. Sau khi
tiêm PMSG 48h, mỗi bò được tiêm 1mg Fenprostalene và đã có 27 bò đã động dục
sau khi tiêm Fenprotalen từ 2-5 ngày. Trung bình số trứng rụng là 11,5 (từ 1-25
trong đó có 17 bò có số trứng rụng lớn hơn 10). Trong số trứng phôi thu được có