Dinh dưỡng cho bệnh nhân gan - Pdf 13

CHẾ ĐỘ ĂN- DINH DƯỠNG- TẬP LUYỆN CHO NGƯỜI BỆNH GAN
Sau khi được chẩn đoán bệnh gan, những câu hỏi đầu tiên mà người bệnh thường hỏi là
tập trung vào chế độ dinh dưỡng và tập luyện. Thông thường những câu hỏi được hỏi bao gồm:
thức ăn nào thì tốt cho gan? Có những thức ăn có hại cho gan không? Bổ sung vitamin thì hữu
ích không? Bao nhiêu protein tôi nên ăn cho bữa ăn của mình? Tập luyện có phải là một ý kiến
tốt? Những môn thể thao nào thì nên tránh ? Thật không may, nhiều bác sĩ thiếu những kiến
thức chuyên môn để cung cấp những câu trả lời cụ thể cho những câu hỏi này hay tương tự như
vậy. Một lý do cho điều này là vì hầu hết các trường y đã không dành đủ thời gian cho vấn đề
về chế độ ăn, dinh dưỡng và luyện tập.
Mọi thức ăn khi vào cơ thể đều phải đi qua gan để chuyển hóa. Chức năng gan như một cái
máy lọc để bảo vệ cơ thể khỏi những chất có hại, và chịu trách nhiệm cho việc sản xuất và sử
dụng các chất dinh dưỡng. Vì vậy mọi thứ được tiêu hoá đều có một ảnh hưởng đến gan: có tốt,
có xấu. Đó là lý do tại sao cần sự phù hợp cho mọi người ăn những thức ăn có lợi cho sức khỏe
của gan. Đó là sự thật quan trọng khi gan bị tổn thương. Hiểu những vấn đề cơ bản về dinh
dưỡng là cần thiết để có những chọn lựa thức ăn sáng suốt mà sẽ tốt cho gan. Vì vậy những quy
định của FDA là nhãn của những thức ăn bao gồm thông tin dinh dưỡng. Một người với bệnh
gan nên luôn đọc những nhãn này cẩn thận. Vì vậy, hầu hết mọi người với bệnh gan cần phải
hạn chế một vài thức ăn trong những chế độ ăn kiêng của họ. Điều này không nên xem như một
sự trừng phạt mà như một bước dẫn đến một gan khỏe mạnh. Việc tập luyện là một tiến hành
quan trọng trong việc chiến đấu chống lại bệnh gan. Việc tập luyện đều đặn sẽ tăng những mức
1
năng lượng, giảm stress đối với gan, và trong nhiều trường hợp thậm chí là chậm cả sự bùng
phát những biến chứng chắc chắn liên quan với bệnh gan.
Càng hiểu biết về dinh dưỡng và tập luyện, thì càng biết cách sống để cho sức khỏe tốt nhất
và bệnh tật ít nhất. Đấy là tại sao mà chương này thảo luận về những vấn đề quan trọng này. Nó
cung cấp những thông tin đúng tập trung vào protein, carbohydrate, mỡ, các vitamin, và những
khoáng chất và những yêu cầu dinh dưỡng khác nhau phụ thuộc vao bệnh gan cụ thể. Cuối
cùng, sự quan trọng của tập luyện, cả aerobic và tập nặng, cho những người bệnh gan được bàn
luận.
I.CÓ MỘT CHẾ ĐỘ TỐI ƯU CHO NHỮNG NGƯỜI BỆNH GAN KHÔNG?
Thật không may, một người không thể mong muốn đi bộ đến phòng khám bác sĩ và yêu cầu “

1000 đến 1500 miligram natri mỗi ngày
Tránh số lượng quá nhiều các vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin A, vitamin B3 và sắt.
Không rượu
Tránh những thực phẩm đã được chế biến
Sử dụng thoải mái những trái cây và rau tươi
Tránh sử dụng caffein quá mức - không nhiều hơn 1 đến 3 ly caffein - chứa trong những túi đồ
uống mỗi ngày.
Bổ sung vitamin D và calcium
Vitamin C
Chất chống oxy hoá như vitamin E hay CoQ10
Glucosamin chondroitin
Khi con người ăn một chế độ ăn nhiều loại thức ăn, gan phải thường xuyên hoạt động để
chuyển hóa và cân bằng để đảm bảo rằng dinh dưỡng tốt đến các cơ quan thích hợp. Ở một
người khoẻ mạnh, hoạt động cân bằng này xảy ra một cách tự động. Nhưng khi gan đã bị yếu
hay suy yếu, nó sẽ có rắc rối trong việc sắp đặt lại những chất dinh dưỡng khác nhau. Đấy là nơi
mà chế độ ăn kiêng của một người có vấn đề về gan là cần thiết. Nếu cô ấy ăn những thức ăn
cân bằng một cách đúng đắn, thì gan của cô ấy sẽ không phải làm việc vất vả. Dinh dưỡng là
4
một mặt của bệnh tật nơi một người có nhiều mức độ điều khiển và có thể tham gia tích cựcvào
tốc độ hồi phục bệnh và thu nhỏ khả năng những tổn thương thêm vào. Những phần sau thảo
luận những chất dinh dưỡng khác nhau một cách chi tiết.
1/Protein
Những Protein là những khối xây dựng chính mà cơ thể dùng để tạo những thành phần cơ thể
như cơ, tóc, móng, da và máu. Các protein cũng tạo nên những thành phần quan trọng của hệ
miễn dịch được gọi là kháng thể, nó giúp chống lại bệnh tật. Các protein được tạo nên từ những
khối xây dựng nhỏ hơn được gọi là những amino acid. Việc ăn protein bình thường thì quan
trọng để xây dựng và duy trì khối cơ và chữa lành bệnh và tái tạo lại. Gan mang trách nhiệm
đầu tiên cho việc tạo ra một cách chắc chắn là những protein cũ đã bị phá huỷ và tái tạo lại và
những protein mới này thì luôn sẵn sàng. Những protein cũng có thể được dùng như một nguồn
năng lượng, mặc dù chúng không có hiệu quả như carbohydrate và mỡ. Chúng chỉ được dùng

giảm phần trăm đạm động vật ăn vào và cần ăn hầu hết là đạm có nguồn gốc thực vật. Một chế
độ ăn đạm động vật cao (nó chứa nhiều amoniac) có thể thúc đẩy một giai đoạn của bệnh não ở
những người này. Những nhà nghiên cứu thì không chắc chắn là đó là nguyên nhân gây ra bệnh
não, nhưng họ nghi ngờ là một lượng quá lớn anomiac trong cơ thể có thể là một trong những lý
do để bùng phát bệnh. Một vài chế độ ăn cho người sụt cân bao gồm việc ăn một lượng lớn thịt
đỏ (đạm động vật). Những người xơ gan được khuyên tránh bất kỳ những chế độ ăn như thế.
Bảng 23.1. Số lượng protein của những thức ăn thông thường
Thức ăn Lượng Số lượng protein
Bánh mì (hoàn toàn lúa mì) 1 miếng 2,5 g
Bông cải xanh (luộc chín, rút nước) 4 ounce 3,4 g
Pho mát (cheddar) 1 ounce 7,1 g
Thịt gà (thịt sẫm màu, quay, không da) 4 ounce 31,0 g
Thịt gà (thịt trắng, quay, không da) 4 ounce 35,1 g
Trứng (được luộc chín) 1 cái lớn 6,0 g
Cá bơn (bỏ lò, nướng hay lò vi sóng) 4 ounce 27,4 g
Giăm bông (được quay) 4 ounce 28,4 g
Hamburger (nướng vừa vừa) 4 ounce 27,3 g
Cừu non (được nóng) 4 ounce 27,8 g
Sữa (hoàn toàn) 1 tách 8,0 g
Peas (đông lạnh, được nấu rồi) 4 ounce 4,0 g
Khoai tây (đã nướng, cả vỏ) 4 ounce 2,6 g
Tôm (hấp) 4 ounce 23,7 g
7
Gạo (trắng, đã nấu chín) 4 ounce 3,1 g
Mì spaghetti (đã nấu) 4 ounce 5,4 g
Thịt bò (thịt thăn, nướng) 4 ounce 34,4 g
Cá ngừ (khoanh mỏng với dầu thực vật, hấp)6 ounce 49,8 g
* 1 ounce= 28 g
Chế độ ăn chay, ở một mặt khác, có số lượng amoniac thấp và được xem thấp hơn chế độ ăn
đạm động vật để gây ra bệnh não. Chất xơ thực vật biểu hiện một nguyên tắc trong việc giúp

đã xảy ra một vài người như là kết quả của việc ăn vào L- tryptophan. Một vài những bổ sung
amino acid khác thì cao AAA (ví dụ: phenvalanin, tyrosine, và tryptophan), loại amino acid đã
được chứng minh là có hại đối với một số người bệnh gan. Một amino acid khác, methionine,
9
có thể gây bệnh não ở những người bệnh gan. Những rau quả chứa methionine rất ít nhưng có
hàm lượng cao những amino acid phân nhánh (BCAAs: branched chain amino acids, như
leucine, isoleucine, và valine). Một vài chuyên gia tin tưởng BCAAs thì tốt cho những người
bệnh não. Tuy nhiên, không một trường hợp nào nên bổ sung amino acid nào vào chế độ ăn của
một người bệnh gan.
4/Carbohydrate
Chức năng chính của carbohydrate cung cấp năng lượng cho cơ thể. Carbohydrate cung cấp
năng lượng này dưới dạng glucose (đường máu). Có hai loại carbohydrate. Loại đầu tiên được
biết là carbohydrate đơn (những đường có thể bẻ gẫy bằng tiêu hoá). Carbohydrate đơn có thể
bao gồm chỉ đường đơn, được gọi là monosaccharide và chúng gồm glucose, fructose (đường
trái cây), và galactose (một thành phần của những sản phẩm sữa). Hay chúng có thể gồm những
đường đôi, được gọi là disaccharide và chúng gồm maltose (được dùng lên men bia), sucrose
(đường mía và lactose (đường sữa).
Carbohydrate phức bao gồm những polysaccharide (hàng trăm những đường đơn được liên kết
với nhau) và thường được biết như những tinh bột và xơ. Carbohydrate phức không thể ngay
lập tức sử dụng cho cơ thể như năng lượng. Đầu tiên chúng phải bị bẻ gãy thành glucose bằng
cách nấu hay quá trình tiêu hoá. Ví dụ những carbohydrate phức như hạt ngũ cốc, quả hạch, hạt
giống, bánh mì, mì ống, gạo, thức ăn từ ngũ cốc, và khoai tây.
Bảng 23.2. số lượng carbohydrate của những thức ăn thông thường.
10
Thức ăn Kích thước Số lượng carbohydrate
Táo 1 medium 21,1 g
Chuối 1 medium 26,7 g
Bánh mì (bột lúa mạch đen chưa rây)1 khoanh 14,7 g
Bánh mì (lúa mì) 1 khoanh 10,6 g
Bánh mì (trắng) 1 khoanh 13,0 g

Những người có bệnh gan rượu (ALD) thường chịu sự chuyển hoá carbohydrate bất thường.
Gần 1/3 số họ bị tiểu đường. Một chế độ những thức ăn giầu chất xơ, carbohydrate phức có thể
cải thiện một vài điều gì đó tình trạng của họ.
6/Carbohydrate và gan
Gan thực hiện một nhiệm vụ chủ chốt là chuyển hoá carbohydrate. Trước khi đường có khả
năng để cung cấp năng lượng cho cơ thể, chúng phải qua gan, nơi quyết định vận mệnh của
12
chúng. Gan phải lam việc rất vất vả mới khôi phục bất kỳ những bất cân bằng dinh dưỡng có
thể có đối với những thói quen ăn uống xấu. Vì vậy, nó có thể gửi lập tức đường (trong cấu trúc
của đường) vào trong máu để cung cấp một năng lượng hằng định cho một người cần nó. Hay
gan có thể gửi đường đến não hay cơ, phụ thuộc vào những hoạt động nào được thực hiện tại
thời điểm . Hay nó có thể quyết định tích lũy glucose (trong cấu trúc của glycogen) để dùng sau
đó khi cơ thể yêu cầu năng lượng nhiều hơn. Nếu carbohydrate quá nhiều được ăn vào thì gan
chuyển nó thành mỡ (trong cấu trúc của triglyceride). Trong trường hợp này, những tích lũy mỡ
quá mức trong cơ thể - thường ở những vị trí nơi mà nó ít được mong muốn nhất. Mỡ quá mức
có thể được ký thác trực tiếp ở trong gan, kết quả là gan nhiễm mỡ hay NAFLD .
Chuyển những thức ăn khác carbohydrate thành năng lượng thì cũng căng thẳng ngay cả đối với
một gan bình thường. Do việc ăn một chế độ không cân bằng có ít carbohydrate phức một
người bệnh gan sẽ có thêm căng thẳng mà bệnh này sẽ gây ra cho gan của người bệnh. Trong
thực tế, đấy là một nguyên nhân tại sao nhiều người bệnh gan như vậy cảm thấy mệt. Đơn giản,
những chế độ ăn của họ đang chống lại bản thân họ. Một chế độ ăn cân bằng tốt có thể giúp
chống lại sự mệt mỏi liên quan đến bệnh gan. Ăn những bữa ăn nhỏ trong suốt ngày thay vì ba
bữa lớn được đề nghị. Mỗi bữa nên tập trung vào những carbohydrate phức như khoai tây
nướng lát hay bánh mì làm từ ngũ cốc. Bằng việc sử dụng một kế hoạch ăn uống, nguồn năng
lượng tốt sẽ được cung cấp đều đặn cho cơ thể. Một chế độ ăn giàu carbohydrate phức như là
đối chọi với việc tập trung vào những được đơn sẽ cung cấp trong một người một khả năng duy
trì nhiều hơn. Ví dụ, ăn một thanh kẹo cung cấp năng lượng nhanh chóng bởi vì cơ thể dễ dàng
13
chuyển các đường đơn này thành glucose. Nhưng thuốc bổ thì không kéo dài và thường theo
sau bởi một lượng năng lượng nhanh khi gan phải cố gắng điều chỉnh mức năng lượng. Một đĩa

gây nên sự thất bại trong việc bài tiết muối mật là sự cần thiết để hấp thu mỡ. Đấy có thể là gây
nên triệu chứng phân có mỡ, một tình trạng không hấp thu mỡ. Vì vậy, những người với PBC
nên phát huy một chế độ ăn mỡ thấp .
8/Những lời khuyên về chế độ ăn đối với mỡ
Như một quy luật chung, không nhiều hơn 30% lượng calori của con người đưa vào từ mỡ.
Đấy là vịệc hấp thu tối đa. Lý tưởng, một người nên nhắm vào khoảng 10 đến 20%. Những
người thừa cân thì vào khoảng 10%. Trong khi việc quan trọng là ăn mỡ ít như có thể thì việc
ăn một lượng nhỏ những mỡ tốt cho sức khỏe hơn thì có một vài thuận lợi. Mỡ cung cấp cho cơ
thể như một nguồn năng lượng dự trữ. Trong những tình huống khẩn cấp, mỡ dự trữ của cơ thể
15
được chuyển thành năng lượng. Mỡ dự trữ này giữ cho cơ thể ấm trong những này đông lạnh
lẽo. Vì vậy, acid béo thật sự cần thiết cho chức năng bình thường của những chuyển hoá cơ thể.
Những mỡ này được biết như những acid béo chủ yếu thực hiện những nhiệm vụ khác nhau mà
chủ yếu là chức năng cơ bản của cơ thể. Tuy nhiên, nên chỉ rõ là một muỗng súp mỡ không bão
hoà nhỏ một ngày có thể cung cấp tất cả các acid béo cần thiết mà cơ thể cần. Thêm vào đó, con
người cần chất béo để dễ dàng 4 vitamin tan trong chất béo _ A, D, E, và K. không có chất béo,
những vitamin này có thể trở nên thiếu trong cơ thể, thậm chí cả khi chúng được trong thành
phần bổ sung. Thỉnh thoảng sự thiếu vitamin loại này xảy ra ở những người bệnh ứ mật, như xơ
gan tắc mật nguyên phát. Cuối cùng, mỡ giúp mùi vị thức ăn ngon hơn. Đấy là điều quan trọng
ở những người có khẩu vị kém bởi bệnh gan mãn tính.
Hầu hết mọi người đều có vấn đề là mỡ bão hoà thì không tốt cho sức khoẻ so với hơn mỡ
không bão hoà. Cái gì đánh giá cho việc này? Hầu hết những mỡ bão hòa có khuynh hướng là
đặc hay sệt ở nhiệt độ phòng. Vì vậy, chúng có khả năng bít động mạch và tăng mức
cholesterol. Những mỡ chuỗi dài không bão hòa là dung dịch ở nhiệt độ phòng. Vì thế tốt nhất
cho chế độ ăn kiêng là thấp lượng mỡ bão hoà. (giữ quan niện này là mỡ cá thì lỏng hơn mỡ
gàvà lỏng hơn mỡ của thịt bò.)
9/Cholesterol và gan
Cholesterol thì có liên hệ nhưng không đồng nghĩa với mỡ. Cholesterol được tìm thấy ở những
sản phẩm động vật không phải tất cả đều xấu. Trong thực tế, ở một vài khía cạnh thì nó rất cần
thiết để duy trì cuộc sống. Cholesterol cần thiết để tạo ra hormon giới tính và muối mật. Ơ dưới

vitamin và những khoáng chất.
Nếu một người ăn một chế độ cân bằng, tốt cho sức khỏe thì tất cả những vitamin và khoáng
chất được yêu cầu cho nhu cầu cơ bản và hoạt động hàng ngày được cung cấp đầy đủ. Mặc dù
vậy, nhiều người cảm thấy rằng họ nên ăn bổ sung vitamin và khoáng chất để cho chắc chắn.
Trong khi điều này có thể tốt đối với một người khỏe mạnh hoàn tòan thì nó có thể nguy hiểm
thật sự cho một vài người có bệnh gan. Vì vậy, những lượng bổ sung quá nhiều vitamin và
khoáng chất có thể có hại nhiều hơn là tốt đối với một cái gan đã tổn thương thật sự.
Tuy nhiên, có những ngoại lệ đối với quy luật này: đầu tiên là không một ai ăn được chế độ ăn
cân bằng, tốt cho sức khỏe. Vì thế, một số người theo chế độ ăn chay nghiêm ngặt. Ơ những
tình huống này, việc bổ sung vitamin và khoáng chất là cần thiết. Những người với bệnh gan
chắc chắn, đặc biệt những bệnh ư mật như xơ gan tắc mật nguyên phát, hấp thu một số vitamin
nghèo nàn. Những người này cũng có thể yêu cầu sự bổ sung. Những người với bệnh gan rượu
18
cần sự bổ sung vitamin bởi vì những ảnh hưởng làm tiêu hao chất dinh dưỡng của rượu đối với
cơ thể. Ơ mặt khác, một vài bệnh gan kết quả thật sự là một sự thừa một vitamin hay khoáng
chất xác định. Ví dụ bệnh hemochromatosis , đó là một bệnh gan thừa sắt. Như tiếp theo, một
vài bệnh gan có liên quan đến khiếm khuyết sắt từ việc chảy máu đường ruột, ví dụ nó có thể
xảy ra ở những người có dãn tĩnh mạch thực quản chảy máu bởi xơ gan mất bù. Vì vậy, những
yêu cầu vitamin và khóang chất trong chế độ ăn của một người với bệnh gan phải được đánh giá
trên nền tảng của từng cá thể. Cuối cùng, việc quan trọng là phải cân nhắc khi bổ sung vitamin
và những khoáng chất.
A. CÁC VITAMIN
Các vitamin là những chất hữu cơ được đến từ những động vật và thực vật. Chúng là thành
phần cơ bản để phát triển, lớn lên và hoạt động của con người. Các vitamin được biết như
những chất dinh dưỡng vi lượng bởi vì chúng được yêu cầu bởi cơ thể chỉ một số lượng nhỏ (so
với protein hay nước làm ví dụ) để duy trì sức khoẻ. Bình thường số lượng được yêu cầu được
cung cấp bằng một chế độ ăn đầy đủ.
Cũng giống như thức ăn, và dược phẩm, các vitamin cũng phải đi qua gan để được chuyển hóa.
Nếu ăn vào quá nhiều, bất kỳ vitamin nào cũng có khả năng gây nên những vấn đề sức khoẻ
nghiêm trọng. Đấy là sự thật thậm chí đối với những người có chức năng gan bình thường. Tuy

nơi nào vitamin A được cần nhất trong cơ thể.
Đối với những người không mắc bệnh gan, 1000 mcg mỗi ngày (3333 IU mỗi ngày) cho đàn
ông và 800 mcg (2667 IU/ ngày) đối với phụ nữ là khối lượng tối đa của vitamin A nên ăn vào.
Điều này có thể dễ dàng được chứa trong một chế độ ăn cân bằng. Mặc dù vậy, xấp xỉ ¼ những
người trưởng thành ở Mỹ ăn bổ sung những thứ có chứa vitamin A. Đây là vitamin được thấy
nhiều ở những thức ăn sau: gan, lòng đỏ trứng, sữa , những sản phẩm bơ khác, bơ thực vật, dầu
gan, và dầu cá. Một người với bệnh gan tiến triển không bao giờ nên bổ sung vitamin A và
không nên ăn số lượng quá nhiều những thức ăn được nên ở trên.
Những cấu tạo thực vật của vitamin A được biết như các carotenoid (cũng được gọi là
carotene). Carotene được coi như là một tiền vitamin A, bởi vì cơ thể phải chuyển chất này
thành vitamin A trước khi nó có thể được cơ thể sử dụng như một vitamin A hoạt động. Hầu hết
các carotenoid thông thường được tìm thấy trong thức ăn là beta- carotenoid. Những thức ăn có
nhiều beta- carotenoid gồm dưa đỏ , cà rốt, khoai tây ngọt, và rau xanh Ăn quá nhiều
21
vitamin A (liều xấp xỉ 25.000 đến 50.000 IU mỗi ngày) là rất nguy hiểm cho gan vì nó có thể
gây nên bệnh gan được biết như thừa vitamin A, Trong thực tế, tình trang này có thể dẫn đến xơ
gan. Thừa vitamin A có thể là kết quả của việc bổ sung vitamin quá nhiều hay những thói quen
ăn uống khác thường. Những người với bệnh gan nên tránh ăn gan vì nó chứa một lượng lớn
vitamin A, hơn hẳn bất kỳ cơ quan nội tạng nào khác. Thật thú vị, hàng trăm năm trước, các bác
sĩ tin rằng một vài những rối loạn về mắt có thể chữa bằng cách áp dụng một miếng gan để trực
tiếp lên mắt bệnh nhân, bởi vì việc chứa vitamin A cao của nó. Các thuốc như Accutance
(isoretinoin) và Retin- A (tretinoin), cả hai được điều trị trong mụn trứng cá (acne), chúng có
nguồn gốc từ vitamin A. Vì thế không nên dùng cho những người bệnh gan tiến triển. Thuốc
ngừa thai uống có thể tăng việc hấp thu vitamin A, do đó dẫn đến những giới hạn cao nguy
hiểm.
Khả năng của vitamin A gây nên ngộ độc gan có thể tăng bởi việc uống rượu hay dùng quá
nhiều những vitamin tan trong dầu khác (như vitamin E) hay việc thiếu vitamin C. Ngộ độc
vitamin A có thể biểu hiện chỉ một vài giờ sau khi một người dùng một liều quá lớn. Tuy nhiên,
quá liều vitamin A có thể cũng diễn tiến chậm ở một người mà dùng những lượng trung bình
vitamin A qua một thời gian dài. Triệu chứng của quá liều vitamin A có thể bao gồm buồn nôn,

cấp thường xuyên vitamin D, hầu hết mọi người chỉ cần được để lộ mình dưới ánh sáng mặt trời
trong khoảng 15 phút vài lần mỗi tuần. Vitamin D thì quan trọng trong việc hấp thu và chuyển
hóa calcium. Vitamin này cho phép calcium có khả năng vào xương. Vitamin D thì quan trọng
đặc biệt đối với những người mắc bệnh gan mãn tính, những người có khuynh hướng bị hũy
xương hay loãng xương. Những người có khuynh hướng bị tình trạng này bao gồm những
người bị xơ gan tắc mật nguyên phát, những người xơ gan bởi bất kỳ bệnh gan nào đặc biệt khi
có biến chứng ứ mật, và những người dùng thuốc ức chế miễn dịch như prednisone. Những
người này được khuyên dùng vitamin D bổ sung hay ăn những thức ăn chứa nhiều vitamin D.
Điều này đặc biệt quan trọng nếu việc phơi nắng của một người bị giới hạn bởi điều kiện thời
tiết hay vị trí địa lý. Nó có thể là ý kiến hay đối với tất cả những người mắc bệnh gan mạn tính
là bổ sung những chế độ ăn của họ với calcium và vitamin D.
Những thức ăn chứa dồi dào lượng vitamin D bao gồm sữa (nó được bổ sung vitamin D), cá ở
xứ lạnh, dầu cá, dầu gan cá moruy, và lòng đỏ trứng. Chế độ ăn mỗi ngày được chính phủ Mỹ
đề nghị về vitamin D là 5mcg (200IU). Những người có bệnh gan được xem là khuyếm khuyết
vitamin D nên được ăn bổ sung khoảng 400 và 800 IU mỗi ngày. Hãy nhớ là việc bổ sung quá
24
nhiều vitamin D có thể dẫn đến việc lắng đọng nguy hiểm calcium ở thận, tim và những mạch
máu. Sự cần thiết bổ sung vitamin D nên được quyết định dựa trên nhu cầu cơ bản của từng
bệnh nhân bằng cách theo dõi mức độ 25- hydroxy vitamin D trong máu và mức độ calcium
trong máu và trong nước tiểu. Cấu trúc tan trong nước của vitamin D – vitamin D2
(ergocalciferol) – nên được dùng khi có thể.
Vitamin E
Vitamin E được biết như tocopherol, hoạt động như một chất chống oxy hóa trong cơ thể. Nó
bảo vệ tế bào hồng cầu và những cơ quan trong cơ thể chống lại tổn thương. Một vài nghiên cứu
cho thấy rằng việc bổ sung vitamin E có thể bảo vệ gan khỏi gốc cơ bản – chất làm tổn hại
trung gian được sinh ra từ việc dùng rượu quá nhiều. Vì vậy, những người uống rượu thường
xuyên, và đặc biệt những người bị bệnh gan do rượu, có thể có lợi từ việc bổ sung vitamin E.
Do vitamin E yêu cầu có mật để hấp thu, nên những người bị tắc mật có thể bị thiếu. Thiếu
vitamin E thì nhìn thấy thường xuyên nhất ở những người mà bilirubin đã tăng trên 3 mg/dl và
alkaline phosphatase (AP) trên 1.000 IU/l. Vì vậy, những người ứ mật (như những người xơ gan


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status