xây dựng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất cây con thuốc lá theo phương pháp khay lỗ ở các tỉnh phía bắc - Pdf 13

CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN
VIỆN KINH TẾ KỸ THUẬT THUỐC LÁ

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN QUI TRÌNH
KỸ THUẬT SẢN XUẤT CÂY CON THUỐC LÁ
THEO PHƯƠNG PHÁP KHAY LỖ
Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC Chủ nhiệm đề tài: ThS. Đinh Văn Năng 7723
26/02/2010

CN. Mai Thu Hà
KS. Vũ Minh Tân HÀ NỘI, THÁNG 12 NĂM 2009

2

MỞ ĐẦU

Sản xuất cây con đóng vai trò tiền đề trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu,
ảnh hưởng quan trọng đến năng suất và chất lượng thuốc lá.
Tính chủ động cao, giảm thiểu công lao động, tạo ra cây con thuốc lá
khoẻ mạnh, sạch sâu bệnh và giá thành hạ luôn luôn là mục tiêu hướng tới của
người trồng thuốc lá.
Song hành cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp khay nổ
i ở
các nước phát triển (Mỹ, Canada, Úc, Nhật Bản, ), phương pháp khay lỗ với
ưu điểm chính là có tính chủ động tương đối cao và tốn ít công lao động hiện
đang được nhân rộng ở một số nước Châu Á như Malayxia, Indonesia, Thái Lan,
Ấn Độ, Nam Việt Nam, . Phương pháp khay lỗ được xem là giải pháp phù hợp
trong việc sản xuất cây con thuốc lá ở các nước đang phát triển và rất có triển
vọng thay thế phương pháp trồ
ng cây rễ trần hoặc cây bầu đất với nhược điểm ít

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 6
1.1. Ngoài nước 6
1.2. Trong nước 7
2. Cơ sở lí thuyết của đề tài 7
Chương 2. THỰC NGHIỆM 8
1. Nội dung và địa điểm nghiên cứu trong năm 2009 8
1.1. Nội dung nghiên cứu 8
1.2. Địa điểm nghiên cứu 8
2. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 8
3. Phương pháp nghiên cứu 8
4. Chỉ tiêu theo dõi 9
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN 10
1. Kết quả các thử nghiệm gieo ươm cây con thuốc lá 10
1.1. Khảo sát một số định mức hạt gieo ươm trên giá thể hữu cơ 10
1.2. Khảo sát một số định mức hạt gieo ươm trên luống đất truyền thống 11
1.3. Thử nghiệm phun phòng trừ bệnh cho cây con gieo ươm trên khay giá thể 13
2. Kết quả các thử nghiệm giâm cây con thuốc lá trên khay lỗ & giá thể 14
2.1. Kết quả thử nghiệm giâm cây con trên khay lỗ với tuổi cây khác nhau và kết
quả thử nghiệm trồng cây khay lỗ với tuổi cây khác nhau ở Cao Bằng 14

2.2. Kết quả thử nghiệm giâm cây con trên khay lỗ với tuổi cây khác nhau trong
điều kiện vụ Thu ở Ba Vì-Hà Nội 16

2.3. Kết quả thử nghiệm phòng trừ bệnh cho cây giâm trên khay lỗ tại Ba Vì - Hà
Nội 17

2.4. Thử nghiệm phương pháp khay lỗ so sánh với phương pháp bầu đất 17
3. Qui trình kỹ thuật sản xuất cây con thuốc lá theo phương pháp khay lỗ 19
3.1. Tóm tắt qui trình 19

5

TÓM TẮT NHIỆM VỤ

Mục tiêu chung của đề tài
Phát triển kỹ thuật sản xuất cây con thuốc lá theo phương pháp khay lỗ ở
một số vùng trồng thuốc lá phía Bắc.
Mục tiêu năm 2008
Tạo ra được 1-2 mẫu giá thể hữu cơ và 1-2 mẫu khay lỗ thích hợp cho sản
xuất cây con thuốc lá.
Mục tiêu năm 2009
Hoàn thiện qui trình kỹ thuật sản xuất cây con thuốc lá theo phương pháp
khay lỗ
trong điều kiện phía Bắc.


Thực tế, phương pháp khay lỗ là một hình thức cải tiến của phương pháp khay
nổi (sản xuất cây con thuốc lá trong nhà kính) cho phù hợ
p với các vùng trồng
thuốc lá thuộc các nước đang phát triển. Phương pháp khay lỗ có tính chủ động
khá cao và tiết kiệm đáng kể công lao động.
- Phương pháp khay nổi: sản xuất cây con nhờ hệ thống bể dung dịch dinh
dưỡng và khay lỗ. Toàn bộ quá trình sản xuất cây con diễn ra trong điều kiện
nhà kính. Phương pháp khay nổi được bắt đầu nghiên cứu phát triển từ những
năm cuối thế kỉ 20
ở một số nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật Bản,
Phương pháp khay nổi có thể giúp các trang trại trồng thuốc lá hoàn toàn chủ
động khi sản xuất cây con và thuận tiện cơ giới hoá khâu trồng. Tuy nhiên,
phương pháp khay nổi có chi phí ban đầu lớn, tính kỹ thuật cao, phức tạp, khó
phát triển ở các nước trồng thuốc lá có nền kinh tế đang phát triển.

7
1.2. Trong nước
Tại các vùng trồng thuốc lá phía Nam, hiện nay sản xuất cây con theo
phương pháp rễ trần vẫn còn phổ biến. Với đặc thù qui mô diện tích trồng thuốc
lá mỗi hộ từ 1-2 ha, việc áp dụng phương pháp giâm bầu cây con rất khó phát
triển do chi phí công lao động của phương pháp này quá lớn. Phương pháp khay
nổi cũng đã được triển khai vào năm 2000, song do tính chất kĩ thuật phức tạp
nên phương pháp này cũng đã không phát triển
được. Bắt đầu từ năm 2002, Chi
nhánh Công ty Cổ phần Hòa Việt tại Ninh Thuận đã ứng dụng và phát triển
phương pháp khay lỗ. Tại Ninh Thuận, nguồn vật chất hữu cơ dùng để sản xuất
giá thể gieo ươm cây con là từ phân gia súc và nguồn than bùn khai thác tại chỗ.
Cho đến nay, hầu như toàn bộ diện tích thuốc lá ở Ninh Thuận đã được trồng
cây con sản xuất theo phương pháp khay lỗ và phương pháp này
đang có xu

lĩnh vực sinh học nông nghiệp đã hình thành các phương pháp khác nhau để
nuôi trồng, sản xuất thực vậ
t nói chung, cây trồng nói riêng như: phương pháp
nuôi cây mô thực vật, phương pháp thủy canh để sản xuất rau, quả, cây con,

8

Chương 2. THỰC NGHIỆM

1. Nội dung và địa điểm nghiên cứu trong năm 2009
1.1. Nội dung nghiên cứu
- Thử nghiệm một số khâu và định mức kỹ thuật sản xuất cây con thuốc lá
trong cả điều kiện vụ Đông Xuân và vụ Thu:
+ Khảo sát một số mật độ gieo (Định mức hạt gieo/m2) trên 2 nền gieo
ươm: luống đất và giá thể.
+ Khảo sát một số tuổi cây con (D
ựa vào số lá/cây) giâm vào khay lỗ để
xác định tiêu chuẩn cây giâm khay lỗ.
+ Khảo sát một số tuổi cây khay lỗ trồng ra ruộng và thử nghiệm số lần
xén lá cây giâm trên khay để xác định tiêu chuẩn cây khay lỗ trồng ra ruộng .
+ Bố trí một số thử nghiệm phun phòng trừ sâu bệnh cho cây gieo ươm và
cây giâm khay lỗ.
- Hoàn thiện qui trình kỹ thuật sản xuất cây con thuốc lá theo phương
pháp khay lỗ trong điều kiện ở phía Bắc.
1.2. Đị
a điểm nghiên cứu
- Xã Nam Tuấn - Huyện Hoà An - Tỉnh Cao Bằng
- Chi nhánh Công ty TNHH 1 TV Viện KTKT Thuốc lá tại Ba Vì - Hà
Nội
2. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

- Thời điểm và số lần xén lá cây giâm trên khay lỗ
- Tổng số lá/cây giâm trên khay lỗ
- Chiều cao cây giâm trên khay lỗ (cm)
- Đường kính gốc cây giâm trên khay lỗ (mm)
- Chiều dài rễ cây giâm trên khay lỗ (cm)
- Tỉ lệ cây chết khi giâm trên khay lỗ (%)
- Tỉ lệ cây bị bệnh lở cổ rễ khi giâm trên khay lỗ (%)
- Tỉ l
ệ % cây giâm xuất vườn (Đạt tiêu chuẩn trồng ra ruộng)
- Chi phí thời gian nạp giá thể (phút/1.000 lỗ khay) vào khay lỗ hoặc nhồi
đất vào bầu (phút/1.000 bầu đất)
- Chi phí thời gian chuyển cây giâm từ vị trí giâm cây ra ruộng trồng
(phút/1.000 m
2
ruộng trồng)
- Thời gian từ trồng đến khi cây bắt đầu ra nụ (ngày)
- Tổng số lá/cây trên ruộng trồng
- Số kinh tế/cây trên ruộng trồng
- Chiều cao cây trên ruộng trồng
- Năng suất lá tươi cộng gộp của 3 lựa hái đầu (%)
- Năng suất lá sấy thực thu (tạ/ha)
- Phẩm cấp lá sấy của mỗi lựa hái (g): cấp 1, cấp 2, cấp 3, cấp 4 và cấp tận
dụng 10
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN

1. Kết quả các thử nghiệm gieo ươm cây con thuốc lá
Việc xây dựng 4 định mức hạt gieo ươm trong các thử nghiệm được tiến

xuất
hiện
2
0,4 g 5,0 28,0 35,0 3.001 2.551 43 NSG
0,6 g 5,0 27,6 34,6 3.919 2.704 40 NSG
0,8 g 5,0 28,0 35,0 4.917 2.704 40 NSG
1,0 g 5,0 28,0 35,0 5.782 2.602 33 NSG
TB 5,0 27,9 34,9 4.405 2.640 -
NSG: ngày sau gieo;
1
Điều tra 43 NSG;
2
Phun Ridomil cho cả 4 công thức vào thời điểm 40 NSG

Kết quả của thử nghiệm ở vụ Xuân (Bảng 1) cho thấy:
- Không có sự khác biệt đáng kể về thời gian sinh trưởng của cây con giữa
4 định mức hạt gieo. Trong điều kiện thử nghiệm, hạt thuốc lá nứt nanh gieo trên
khay giá thể có thời gian từ gieo đến mọc là 5 ngày, thời gian từ gieo đến lá tai
chuột ≈ 28 ngày và thời gian từ gieo đến lá thật đầu tiên ≈ 35 ngày.
- Trong 4 định mức hạ
t gieo ươm, tăng mật độ hạt gieo dẫn đến tăng mật
độ cây con tổng cộng, song mật độ cây con 2-3 lá thật đạt mức cao nhất
(Khoảng 2.700 cây/m
2
) ở hai công thức 0,6 và 0,8 g/m
2
tại thời điểm sau gieo 45
ngày.
- Bệnh chết rạp xuất hiện muộn và đã xuất hiện trên cả 4 công thức tại các
thời điểm khác nhau trong điều kiện không phun thuốc bệnh định kì; Xuất hiện

thật
Bệnh
chết rạp
xuất
hiện
2
0,4 g 3,6 17,0 21,0 2.564 1.221 Không
0,6 g 4,0 17,0 21,0 3.186 1.450 Không
0,8 g 4,0 17,0 21,0 3.821 1.871 Không
1,0 g 3,6 17,0 21,0 4.450 979 17 NSG
TB 3,8 17,0 21,0 3.505 1.380 -
NSG: ngày sau gieo;
1
Điều tra 30 NSG;
2
Bắt đầu phun Ridomil vào thời điểm 10 NSG và sau đó định kì 5 ngày
phun lặp lại

Kết quả của thử nghiệm ở vụ Thu (Bảng 2) cho thấy:
- Không có sự khác biệt đáng kể về thời gian sinh trưởng của cây con giữa
4 định mức hạt gieo. Trong điều kiện vụ Thu, hạt thuốc lá nứt nanh gieo trên
khay giá thể có thời gian từ gieo đến mọc ≈ 4 ngày, thời gian từ gieo đến lá tai
chuột là 17 ngày và thời gian từ gieo đến lá thật đầu tiên là 21 ngày.
- Trong phạm vi 4 định mức hạt gieo
ươm, tăng mật độ hạt gieo dẫn đến
tăng mật độ cây con tổng cộng, song mật độ cây con 2-3 lá thật đạt mức cao nhất
(≈ 1.900 cây/m
2
) ở công thức 0,8 g/m
2

1

(Cây/m
2
)
Định
mức hạt
gieo/m
2

Mọc Tai
chuột
Lá thật
đầu
Tổng cộng Cây 2-3 lá
thật
Bệnh
chết rạp
xuất
hiện
2
0,4 g 5,0 22,0 29,0 2.560 2.177 Không
0,6 g 5,0 22,0 29,0 3.490 2.393 Không
0,8 g 5,0 22,0 29,0 4.363 2.260 Không
1,0 g 5,0 22,0 29,0 5.263 1.981 Không
TB 5,0 22,0 29,0 3.919 2.203 -
1
Điều tra sau gieo 38 ngày;
2
Không xử lí đất luống ươm và không phun phòng trừ bệnh cho cây con

0,8 g 3,0 15,0 19,0 3.102 1.163 15 NSG
1,0 g 3,0 15,0 19,0 3.366 956 15 NSG
TB 3,0 15,0 19,0 2.884 1.032 -
NSG: ngày sau gieo;
1
Điều tra 27 NSG;
2
Khử trùng đất luống ươm và bắt từ thời điểm 10 NSG định kì 5 ngày
phun Ridomil để phòng trừ bệnh cho cây con

Kết quả của thử nghiệm ở vụ Thu (Bảng 4) cho thấy:
- Không có sự khác biệt đáng kể về thời gian sinh trưởng của cây con giữa
4 định mức hạt gieo. Trong điều kiện vụ Thu, hạt thuốc lá nứt nanh gieo trên

13
luống đất có thời gian từ gieo đến mọc là 3 ngày, thời gian từ gieo đến lá tai
chuột là 15 ngày và thời gian từ gieo đến lá thật đầu tiên là 19 ngày.
- Trong phạm vi 4 định mức hạt gieo ươm, tăng mật độ hạt gieo dẫn đến
tăng mật độ cây con tổng cộng, song mật độ cây con 2-3 lá thật đạt mức cao nhất
(≈ 1.200 cây/m
2
) ở công thức 0,8 g/m
2
tại thời điểm sau gieo 27 ngày.
- Bệnh chết rạp xuất hiện sớm (15 NSG) và đã cùng xuất hiện trên cả 4
công thức thử nghiệm trong điều kiện phun thuốc bệnh định kì.
1.3. Thử nghiệm phun phòng trừ bệnh cho cây con gieo ươm trên khay giá
thể
Bệnh hại phổ biến trên cây con thuốc lá ở các tỉnh phía Bắc là bệnh chết
rạp (Lở cổ rễ) do một số loài nấm hại nh

2
) Định mức hạt
gieo/m
2

Phun
Ridomil
Bệnh chết rạp
xuất hiện
1

Tổng Cây 2-3 lá thật
Không 17 NSG 1.580 625
0,8 g
Định kì Không 2.633 1.133
Không 15 NSG 984 389
1,6 g
Định kì 17 NSG 5.164 1.342
NSG: ngày sau gieo;
1
Bắt đầu phun Ridomil vào thời điểm 10 NSG và sau đó định kì 5 ngày phun lặp lại để
phòng trừ bệnh chết rạp cho cây con;
2
Điều tra 33 NSG 14
2. Kết quả các thử nghiệm giâm cây con thuốc lá trên khay lỗ & giá thể
2.1. Kết quả thử nghiệm giâm cây con trên khay lỗ với tuổi cây khác nhau và
kết quả thử nghiệm trồng cây khay lỗ với tuổi cây khác nhau ở Cao Bằng

(cm)
Bệnh lở
cổ rễ
*

Giâm khay
lỗ 1 lá
6,0
Khôn
g
4,1
a
1,3
a
1,4
a
9,0
a
Không
Giâm khay
lỗ 2 lá
6,0 1 5,2
b
1,7
ab
2,4
b
10,0
ab
Không

Điều tra các chỉ tiêu thân, lá và rễ tại thời điểm 23 ngày sau giâm; ĐK: đường kính;
*
Không phun phòng trừ
bệnh cho cây con trên cả 4 công thức giâm cây

Kết quả của thử nghiệm giâm cây con ở vụ Đông Xuân 2009 cho thấy
(Bảng 6):
- Giâm cây tuổi 1-2 lá thật có biểu hiện hồi xanh sớm hơn so với giâm cây
con tuổi 3 lá thật.
- Với qui định tiến hành xén lá khi cây trên khay giâm che phủ lẫn nhau,
công thức giâm cây con tuổi 1 lá thật không cần xén lá, giâm cây con tuổi 2 lá
thật cần xén lá 1 lần và giâm cây con tuổi 3 lá thật cần xén lá 2 lần trong khoảng
thời gian 23 ngày.
- Có sự khác biệt rõ rệt về số lá/cây giữa 3 công thức giâm cây trên khay
lỗ; Trong đó, công thức giâm cây con tuổi 1 lá thật đạt số lá/cây thấp nhất; Công
thức giâm cây con tuổi 3 lá thật đạt số lá/cây cao nhất, tương đương với công
thức giâm bầu đất.

15
- Cây con giâm khay lỗ tuổi 2-3 lá thật sau giâm 23 ngày có chiều cao
cây, đường kính gốc và độ dài rễ có biểu hiện cao hơn đáng kể so với cây giâm
khay lỗ tuổi 1 lá thật, nhưng thấp hơn đáng kể so với cây giâm bầu đất.
- Không quan sát thấy bệnh lở cổ rễ (Chết rạp) xuất hiện trên cả 4 công
thức giâm cây mặc dù trong thử nghiệm không phun thuốc bệnh định kì.
Cây khay lỗ và cây bầu đất của thử nghiệ
m giâm cây nêu trên được sử
dụng để bố trí thử nghiệm trồng cây khay lỗ với tuổi cây khác nhau. Kết quả của
thử nghiệm được thể hiện ở bảng 7.
Bảng 7. Kết quả thử nghiệm trồng cây khay lỗ với tuổi cây khác nhau so
sánh với trồng cây bầu đất tại Cao Bằng, vụ Xuân 2009

Cây khay 5

67,3
ab
19,3 32,3
b
25,7

27,40

22,7

Cây khay 6

67,0
ab
21,1 31,3
ab
26,4

28,09

22,4

Cây bầu đất 66,3
a
23,2 30,9
a
25,6


trong điều kiện vụ Thu ở Ba Vì-Hà Nội
Trong thực tế gieo ươm cây con thuốc lá, cây thường mọc thành 2-3 đợt
và tạo ra quần thể cây con với tuổi cây
đan xen nhau, nên việc phân định chính
xác tuổi cây con khi dựa vào số lá thật trên cây là không phù hợp. Do vậy, trong
điều kiện vụ Thu 2009 đề tài bố trí một thử nghiệm giâm cây con trên khay lỗ
với 2 nhóm tuổi cây: 1-2 lá thật/cây và 2-3 lá thật/cây.
Bảng 8. Kết quả thử nghiệm giâm cây con thuốc lá trên khay lỗ & giá thể
với tuổi cây khác nhau trong điều kiện vụ Thu 2009 tại Ba Vì - Hà Nội

Công thức
giâm cây
Hồi
xanh
(ngày)
Xén

(lần)
Số
lá/cây
(lá)
Cao
cây
(cm)
ĐK gốc
(mm)
Dài rễ
(cm)
Bệnh
lở cổ

*
Phun Ridomil cho
cả 2 công thức giâm cây vào các thời điểm 7 , 12 và 17 POT; NS: không có ý nghĩa

Kết quả của thử nghiệm giâm cây con ở vụ Thu 2009 cho thấy (Bảng 8):
- Giâm cây tuổi 1-2 lá thật có biểu hiện hồi xanh sớm hơn so với giâm cây
tuổi 2-3 lá thật.
- Số lần xén lá cần thiết trong khoảng thời gian 23 ngày giâm đối với cây
giâm tuổi 1 -2 lá thật là 2 lần và đối với cây giâm tuổi 2-3 lá thật là 3 lần.
- Có sự khác biệt rõ rệt về số lá/cây giữa 2 công thức giâm cây trong
khoảng thời gian 23 ngày giâm; Trong đó, công thức giâm cây con tuổi 2-3 lá
thật đạt mức 6,1 lá/cây, cao hơn hẳn so với công thức cây giâm tuổi 1-2 lá thật
(Đạt mức 4,3 lá/cây).
- Cây con giâm khay lỗ tuổi 2-3 lá thật sau giâm 23 ngày có chiều cao cây
và độ dài rễ cao hơn hẳn so với cây giâm khay lỗ tuổi 1 -2 lá thật.
- Bệnh lở cổ rễ xuất hiện trên cả 2 công thức giâm cây tại thời điểm 21
ngày sau giâm mặc dù trong thử nghiệm tiến hành phun thuốc bệnh định kì. 17
2.3. Kết quả thử nghiệm phòng trừ bệnh cho cây giâm trên khay lỗ tại Ba Vì -
Hà Nội
Ở phía Bắc, cây con thuốc lá thường được giâm từ đầu tháng 01 đến đầu
tháng 02. Trong điều kiện vụ Xuân, thời tiết bắt đầu ấm và ẩm hơn, bệnh chết
rạp có thể phát sinh tăng lên so với thời kì gieo ươm, đặc biệt là ở các vùng
trung du. Do vậy, đề tài tiến hành thử nghiệm phòng trừ bệnh hại cho cây giâm
khay lỗ trong cả điều kiện vụ Xuân và vụ Thu, năm 2009 tại Ba Vì - Hà Nội.
Bảng 9. Kết quả thử nghiệm phun thuốc Ridomil phòng trừ bệnh cho cây
giâm trên khay ở điều kiện thời vụ khác nhau tại Ba Vì-Hà Nội, năm 2009


công thức phun định kì và đối chứng; Việc tiến hành phun
định kì bằng thuốc
Ridomil có tác dụng hạn chế tới 15% số cây bị nhiễm bệnh lở cổ rễ so với không
phun định kì. Trong khi đó, bệnh lở cổ rễ không xuất hiện trên cả 4 công thức
giâm cây trong điều kiện vụ Xuân tại Cao Bằng (Bảng 6).
- Trong điều kiện vụ Thu: bệnh lở cổ rễ xuất hiện sớm hơn ở công thức
không phun định kì (7 POT) và sau giâm 15 ngày bệnh m
ới phát sinh ở công
thức phun định kì. Việc tiến hành phun định kì bằng thuốc Ridomil có tác dụng
hạn chế khoảng 40% số cây bị nhiễm bệnh lở cổ rễ so với không phun định kì.
2.4. Thử nghiệm phương pháp khay lỗ so sánh với phương pháp bầu đất
Trong điều kiện vụ Xuân 2009 tại Ba Vì - Hà Nội, đề tài đã tiến hành thử
nghiệm qui trình kỹ thuật sản xuất cây con thuốc lá theo phương pháp khay lỗ so
sánh với phương pháp bầu đất.

18
Khâu gieo ươm cây con thuốc lá để cấy chuyển sang bầu đất hoặc khay lỗ
đều được tiến hành trên luống đất (Giống gieo: C9-1; Diện tích mặt luống: 10
m
2
; Định mức hạt gieo: 7 g).
Số lượng bầu đất đã được tạo ra để tính công nạp bầu là: 15.000 bầu (5
công nhân kỹ thuật hoàn thành trong 3 ngày).
Số lượng khay xốp T113 được nạp giá thể và được giâm cây con có từ 2-3
lá thật, khỏe mạnh là: 30 cái (Xấp xỉ 3.400 cây).
Diện tích trồng thử nghiệm cây khay lỗ là 1.000 m
2
được ghép cặp với
1.000 m
2

khay (phút)
TG chuyển và
rải cây con/
1.000 m
2

ruộng

(phút)
Tỉ lệ cây
xuất
vườn
(%)
Nụ 10
%
(ngày)
Tổng
lá/cây
(lá)
Cao
cây
(cm)
Bầu đất 480

620 83,5 64,2 36,8 114,4
Khay lỗ 20

80 89,7 63,8 38,2 133,5
TG; thời gian; Cự li từ nơi giâm cây đến ruộng trồng: 500 m


trong và ngoài nước [1], [2], [3], [4], [5], [6], [7].
3.1. Tóm tắt qui trình 3.2. Chi tiết qui trình
CÔNG ĐOẠN GIEO ƯƠM:

* Tiến hành trên khay ươm, giàn ươm hoặc
luống đất; Cần đủ ánh sáng, ấm áp vào mùa,
rét, thông thoáng vào mùa nóng, tiện lợi chăm
sóc và quản lí,
* Định lượng hạt gieo: 0,7 g/ m
2
ML hoặc khay
* Diện tích mặt luống hoặc mặt khay:
- Luống đất: vụ Đông Xuân: 15 m
2
;

2
/ ha đất
* Phun thuốc phòng trừ bệnh hại
- Vụ Đông Xuân: khi bệnh phát sinh, phun 1-2 lần
- Vụ Hè Thu: từ hồi xanh, phun định kì 5-7 ngày/lần

* Thời gian giâm cây: 25 - 30 ngày
* Tiêu chuẩn cây giâm xuất vườn:
Cây đạt 5 - 7 lá thật, khỏe mạnh, không có
vết bệnh trên thân và gốc, lá không có biểu
hiện dị dạng

20
A. CÔNG ĐOẠN ƯƠM CÂY CON
* Công đoạn này có thể tiến hành trên luống đất hoặc khay ươm (Tính từ khi
chuẩn bị gieo hạt đến khi cấy chuyển cây con đạt tiêu chuẩn sang khay lỗ).
* Định mức hạt gieo: 7 g/ 10 m
2
mặt luống (ML) hoặc khay ươm (KƯ)
* Định mức diện tích ươm cây con cho 1 ha ruộng trồng:
- Luống đất: vụ Đông Xuân: 15 m
2
ML; Vụ Hè Thu: 20 m
2
ML
- Khay giá thể: vụ Đông Xuân: 10 m
2
KƯ; Vụ Hè Thu: 15 m
2


đất mặt.

21
+ Xử lí hoá chất: phương pháp này nên tiến hành ngay sau khi bón lót;
Cách tiến hành là tưới 30 lít dung dịch thuốc trừ bệnh Ridomil nồng độ 0,3 %
hoặc 30 lít dung dịch đồng sun phát nồng độ 1 % cho 10 m
2
ML.
p
Bón phân lót
- Sau khi đất luống đã sẵn sàng tiến hành bón lót các loại phân cần thiết
với định lượng tính cho 10 m
2
ML như sau:
+ Phân hữu cơ hoai mục: 60-80 kg (Không bón phân gia cầm)
+ Phân vô cơ: 1-2 kg Supe lân; 100-200 g Nitrát amôn; 100-200 g Kali
sun phát
- Trước tiên rải đều phân hữu cơ lên mặt luống, sau đó rải đều hỗn hợp 3
loại phân vô cơ (Đã được trộn đều) lên trên lớp phân hữu cơ, cuối cùng trộn đều
phân lót với lớp đất mặt sâu 7-8 cm và làm phẳng mặt luống (Sau khi bón lót có
thể khử trùng luống ươm bằng dung dịch Ridomil hoặc Đồng sun phát).
q
Hạt gieo và cách gieo:
- Tình trạng hạt gieo:
+ Vụ Hè Thu: nên gieo hạt trương nước (Ngâm hạt trong nước sạch
khoảng 24 giờ) hoặc có thể gieo hạt khô.
+ Vụ Đông Xuân: nên gieo hạt nứt nanh (Ngâm hạt trong nước ấm
khoảng 24 giờ, rồi giữ ấm và ẩm cho hạt cho đến khi mầm rễ bắt đầu xuất hiện;
Khoảng 5-6 ngày) hoặc hạt trương nước.
- Cách gieo:

s
Làm mái che và điều khiển tấm phủ
* Nguyên tắc: thông thoáng vào mùa Thu, ấm áp vào mùa Đông Xuân và
tuyệt đối tránh được mưa (Ngoại trừ mưa phùn).
- Vật liệu làm khung mái che là tre, vầu, sẵn có tại địa phương; Tấm
phủ là màng nilon trắng trong.
- Thời điểm làm mái che và kiểu mái che:
+ Vụ Đông Xuân: cần hoàn thành trong khoảng thời gian từ khi gieo đến
khi cây bắt đầu mọc; Kiểu mái che: mái vòm (Mui thuyền) là thích hợp và dựng
mái đảm bảo nguyên tắ
c che kín vào ban đêm, dễ dàng thu gọn tấm phủ vào
những ngày ấm áp (Tránh tích nhiệt và độ ẩm cao) hoặc để chăm sóc cây con.
+ Vụ Hè Thu: cần tiến hành ngay sau khi tủ rơm rạ; Kiểu mái che: có thể
làm mái vòm nhưng đảm bảo nguyên tắc che phủ hở chân (Mép tấm phủ cách
mặt luống 30-40 cm) hoặc tạo kiểu mái xiên.
- Điều khiển tấm phủ:
+ Từ gieo đến mọc: không cần dỡ tấm phủ, ngoại tr
ừ khi tưới nước.
+ Giai đoạn sau khi cây mọc:
c Vụ Đông Xuân: che kín mặt luống cây con vào ban đêm và khoảng
thời gian giá rét vào ban ngày, thời gian còn lại để cây tiếp xúc hoàn toàn với tự
nhiên.
d Vụ Thu: che phủ cây con vào ban đêm và thời gian trong ngày có mưa
(Hạn chế tối đa nước mưa xâm nhập mặt luống), thời gian còn lại để cây tiếp
xúc hoàn toàn với tự nhiên (Cần che mát cho luống ươm vào những trưa nắng
gắ
t).
t
Chăm sóc luống cây con
- Khi cây bắt đầu mọc, dỡ dần lớp rơm rạ che tủ (Giữ ẩm cho mặt luống

ết thúc nhổ cây con.
- Sâu hại: cần phát hiện sớm sâu xanh, sâu khoang, rệp, gây hại trên
luống cây con và diệt trừ bằng thuốc Selecron (Hoặc thuốc có tác dụng tương
tự).
- Nồng độ và cách phun thuốc phòng trừ sâu bệnh hại theo hướng dẫn ghi
trên bao bì sản phẩm nông dược sử dụng hoặc hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật.
II. Ươm cây con trên khay giá thể
n
Khay ươm và giá thể
- Khay ươm hoặc giàn ươm:
+ Có thể tạo khay ươm bằng một số chất liệu như gỗ, tre nứa hoặc tận
dụng khay xốp đựng hoa quả, với kích thước dễ dàng cho sự di chuyển: dài 50
- 55 cm, rộng 30 - 40 cm, cao 8-10 cm hoặc tạo giàn ươm với thành cao 8-10
cm.
+ Số lượng khay hoặc diện tích giàn ươm được xác định dựa vào định
mức kỹ thuật diện tích ươm cây con (Di
ện tích mặt khay ươm ở vụ Đông Xuân
là: 10 m
2
, vụ Hè Thu là 15 m
2
tính cho 1 ha ruộng trồng)
- Giá thể và định lượng:
+ Giá thể: dùng một số sản phẩm giá thể hữu cơ chuyên dụng hoặc giá thể
tự tạo từ phân giun, phân trâu bò ủ hoai, …(Cần thêm phân vô cơ và khử trùng).

24
+ Định lượng giá thể/ ha ruộng trồng: 300 kg ở vụ Đông Xuân (Đủ lượng
để tạo được 10 m
2

ươm hoặc giàn ươm:
c Giai đoạn từ gieo đến mọc: không cần thu gọn tấm phủ, ngoại
trừ khi tưới nước.
d Giai đoạn sau khi cây mọc:
* Vụ Đông Xuân: cần che kín khay ươm vào ban đêm và khoảng
thời gian giá rét vào ban ngày, thời gian còn lại để cây con tiếp xúc hoàn
toàn với tự nhiên.
* Vụ Hè Thu: cần che phủ cây con vào ban đêm và thời gian trong
ngày có mưa (Tuyệt đối tránh nước mưa xâm nhập khay ươm, giàn ươm),
th
ời gian còn lại để cây con tiếp xúc hoàn toàn với tự nhiên (Cần che mát
cho khay ươm, giàn ươm vào những trưa nắng gắt).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status