Báo cáo nhập môn kĩ thuật điện - Pdf 13

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội,các thiết bị điện-điện tử
trong gia đình ngày càng có nhiều cải tiến tích cực để phù hợp với nhu cầu của
cuộc sống và tình hình nguồn nhiên liệu ngày càng cạn kiệt hiện nay.
Chỉ đơn cử một vài thiết bị như: mạch điện cầu thang,quạt điện, đèn tuýp
hay bơm cánh quạt… cũng thấy rất nhiều lợi ích mà nó mang lại cho cuộc sống
chúng ta. Quạt điện hay Quạt máy là một thiết bị dẫn động bằng điện được dùng
để tạo ra các luồng gió nhằm phục vụ lợi ích cho con người (nhất là giảm sức
nóng của cơ thể, hạ nhiệt, giúp con người cảm thấy mát, thoải mái), thông gió,
thoát khí, làm mát, hoặc bất kỳ tác động liên quan đến không khí trong môi
trường sống.Tuy chỉ với những lợi ích tưởng chừng như đơn giản như thế này thôi
nhưng nếu không có nó thì hãy tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra?Hay với bóng
đèn tuýp,thử làm 1 so sánh nhỏ. Một bóng đèn huỳnh quang 40W nhìn sáng như
bóng đèn sợi đốt công suất 150W, nhưng điện năng tiêu hao lại ít hơn so với đèn
sợi đốt. Nói cách khác, hiệu suất phát sáng của đèn huỳnh quang cao hơn đèn sợi
đốt nhưng nó lại tiết kiệm điện hơn.Nếu trên thế giói tất cả bóng đèn sợi đốt được
thay bằng loại bóng đèn huỳnh quang thì việc tiết kiệm điện năng sẽ lớn như thế
nào?
Bơm cánh quạt do có tính kinh tế cao, an toàn, tiện lợi trong vận hành, kích
thước nhỏ và giá thành tương đối thấp, do vậy nó được sử dụng nhiều trong cuộc
sống của xã hội hiện đại nói chung và cho tưới tiêu, nói riêng.Nhu cầu sử dụng
máy bơm trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản khá đa
1
dạng: quản lý nước, giữ mực nước có chất lượng tốt và vừa đủ tùy từng đối tượng
cây trồng, vật nuôi theo từng giai đoạn của chúng; bơm cấp nước mùa hạn và
thoát nước mùa khô; tát nước để thu hoạch; tạo dòng chảy, phân phối hoặc giải
phóng các chất hữu cơ, chất lắng đọng và các loại khí trong thủy vực; sử dụng
như thiết bị đẩy đối với các phương tiện đường thủy; rửa mặn, rửa phèn cho ao,
ruộng; cứu hỏa.Ngoài ra ta cũng có thể kể đến tác dụng của mạch điện cầu
thang.Hiện nay có nhiều loại mạch điện cầu thang nhưng chúng đều có chung

thì các dây tóc trên các đầu điện cực nóng lên, phát xạ ra các hạt electron di
chuyển trong ống với vận tốc cao từ đầu này đến đầu kia. Trên đường vận
động, chúng va chạm vào các phân tử khí trơ làm phóng ra nhiều các hạt
ion hơn.
Sơ đồ đi dây của đèn huỳng quang là một mạch nối tiếp như sau:
Hình1
Trong đó gồm có:
Cầu chì (Fuse), Chuột(Starter,Tắcte, ), Chấn lưu (Tăng phô, tăng pô, cuộn tăng
áp), Đèn ống
Cách mắc dây:
Hai đầu dây điện từ ngoài vào ( tạm gọi là dây nguồn) thì 1 đầu sẽ qua Tăng-Phô
rồi từ Tăng-Phô đi lên 1 chân của đầu đèn huỳnh quang ( 1 đầu có 2 chân => có
tới 4 chân).
Đầu dây thứ 2 của dây nguồn từ ngoài vào sẽ vào trực tiếp 1 chân ở đầu bên kia
của đèn
Còn dư 2 chân ở 2 đầu đèn thì sẽ được nối với nhau thông qua con chuột ( con
mồi), Con mồi ở giữa 2 chân đèn.
Mạch điện của đèn huỳnh quang nói trên nói cụ thể là mạch mắc nối tiếp 3 phần
tử: tăng pô (cuộn tăng áp) - đèn ống - tắc te. Trình tự mắc như đã nói ở trên, tức là
mắc nối tiếp, nhưng tắc te xen giữa 2 sợi tóc đèn. Tắc te ở đây đóng vai trò cái
đóng ngắt điện tự động.
Nguyên lý hoạt động:
3
Khi đóng điện, có dòng chạy qua mạch nối tiếp trên (vì starter là một bóng
neon cho phép dòng điện chạy qua khi điện áp>160V) làm nóng starter. Lưỡng
kim trong starter nóng lên làm hở mạch điện, điện áp trên 2 đầu đèn sẽ tăng đột
ngột lên >400V(vì tăng phô là cuộn cảm sẽ tạo áp cao khi ngắt nguồn đột ngột).
Điện áp cao trên 2 đầu đèn làm phóng điện qua đèn. Dòng điện qua đèn tạo thành
ion tác động lên bột huỳnh quang làm đèn phát sáng. Sau khi đèn sáng, điện áp
trên 2 đầu đèn giảm còn khoảng 40 V, starter không hoạt động nữa. Dòng điện

cùng chiều với dòng điện của mạch trước lúc ngắt mạch. Điện cảm L càng lớn,
hiện tượng cắt mạch càng đột ngột thì SĐĐTC sinh ra càng lớn. Lúc này hình
thành một điện áp cao giữa 2 đầu bóng đèn neon. Tiếp sau đó khi tắc te ngắt ra, lá
tiếp điểm nguội đi và lại đóng lại, lúc này mạch nối tiếp lại được nối thông trở lại,
dòng điện qua tắc te làm nó nóng lên tiếp tục bị ngắt ra, SĐĐTC lại được sinh ra
giữa 2 đầu cực bóng neon. Sau một vài lần phóng điện hiện tượng ION hóa khí
kém trong ống neon đủ tạo ra dòng điện thác làm điện trở giữa 2 đầu ống neon
giảm xuống bằng 0 ôm, làm ngắn mạch 2 đầu tắc te (bạn nhớ lại mạch nối nhé).
Kết quả dòng điện qua tắc te = 0, tắc te không bị đốt nóng nữa do đó không còn
đóng cắt (mà ở trạng thái nguội, tiếp điểm tắc te đóng liên tục). Do trạng thái
đóng ngắt mất đi, dẫn tới SĐĐTC trên cuộn L không tạo ra nữa. Lúc này cuộn L
chỉ còn là một điện kháng thuần bình thường nối tiếp trong mạch điện. Quá trình
khởi động nói trên gọi nôm na là quá trình "mồi". Khi cắt công tắc nguồn thì dòng
điện qua ống neon mất, đèn tắt. Nếu muốn đèn sáng trở lại cần bật công tắc nguồn
và bắt đầu trở lại quá trình "mồi" như đã nói.
Mach điện nói trên là mạch điện cơ bản nhất. Sau này người ta đã tạo ra
các điện áp cao để mồi bằng các tăng pô điện tử. Các tăng pô này tạo ra các xung
kích phát biên độ cao bằng các bộ dao động tạo xung vuông. Bạn nắm nguyên lý
cơ bản hoạt động của đèn ống và có thêm một chút kiến thức kỹ thuật điện tử là
có thể nắm được nguyên lý và cách mắc các bộ đèn cải tiến nói trên thôi. Hơn
nữa, trên bộ tăng áp điện tử bao giờ cũng vẽ mạch nguyên lý đấu nối rất rõ ràng.
Một số ví dụ đấu sai mạch:
Hình 2
5
Hình 3
Trường hợp này khi tắt công tắc thì bóng vẫn nhá 1 đầu =>Bóng đèn sẽ bị cháy
Các loại đèn huỳnh quang nhiều màu sắc, kiểu dáng
Quá trình này tỏa nhiệt sẽ làm thủy ngân trong ống hóa hơi. Khi các
electron và ion di chuyển trong ống, chúng sẽ va chạm vào các nguyên tử khí
thủy ngân. Những va chạm này sẽ làm các nguyên tử thủy ngân phát xạ ra các

Tính năng vượt trội của quạt điện đã làm cả thế giới phải ngã phục, và có
một số đại văn hào, nhà văn đương thời đã trích dẫn quạt điện. Họ ca ngợi các
mẫu thiết kế của những chiếc quạt đương thời và có cả một sự thay đổi lớn trong
tính an toàn, bảo vệ người sử dụng như chiếc lồng quạt của loại thông gió do nhà
thiết kế người Thụy Sĩ Carlo Borer phát minh.
II.2. Cấu tạo và nguyên lý hoạt động.
II.2.1. Cấu tạo.
Trục động cơ
Cánh quạt
Công tắc quạt
Vỏ quạt
Động cơ điện
- Stato: Phần cố định cấu tạo bởi các lá sắt từ mỏng ghép lại với nhau tạo
thành mạch từ có các rãnh thẳng. Trên Stato có cuộn chạy và cuộn đề đặc lệch
nhau một góc điện 90 độ, tức là cuộn dây của cuộn đề đặt giữa hai cuộn dây kế
cận cuộn chạy và cuộn đề mắc nối tiếp với tụ điện.
- Roto: Phần quay.
7
II.2.2. Nguyên lý hoạt động:
Khi cho dòng điện vào quạt thì từ trường tạo bởi hai cuộn chạy và cuộn đề
hợp thành từ trường quay nhờ sự lệch pha gữa hai dòng điện trong hai cuộn. Từ
trường quay này tác động lên roto làm phát sinh dòng điện ứng chạy trong roto.
Dòng điện ứng dưới tác dụng của từ trường quay tao ra moment quay làm
quay roto theo chiều từ trường quay.
Tốc độ quay của quạt được xác định:
Trong đó: n=60f/p
f: tần số dòng điện của nguồn điện. p: Số cặp cực từ.
II. 2.3. Sơ đồ đấu dây quấn của quạt.
a. Đấu các cuộn tạo thành từ cực thật
Trong cách đấu này các cuộn dây được mắc nối tiếp với nhau theo trật tự

ta dùng cuộn cảm kháng. Khoảng sụt áp trên cuộn cảm kháng không quá 30%
điện áp nguồn. Nếu cao hơn, sẽ làm quạt chạy quá chậm và phát nhiệt.
*.Quạt bàn:
3 2 1
Về nguyên tắt đấu dây, quạt bàn thông thường đấu cực thật và thường có 4 từ cực.
Cuộn tốc độ quấn chung với cuộn đề và được phân bố đề trên các cuộn đề.
II.3 Sử dụng
II.3.1. Pan về cơ.
- Bạc bị mòn, cốt trụ bị mòn là nguyên nhân quạt gây tiến ồn và phát nhiệt.
Nếu bạc mòn quá thì quạt không chạy.
- Sự chuồi roto do cốt trục lỏng làm quạt chạy mau nóng dễ cháy bộ quấn dây.
- Quạt không xoay qua lại được, do bánh răng bộ phận xoay bị mòn, khuyết.
- Quạt không chạy do roto bi kẹt cúng, bụi bẫn và dầu mỡ kẹt gữa roto và
stato làm quạt quay chậm lại.
- Có tiếng khua lạ, cánh quạt gió cọ vào lồng bảo vệ.
II.3.2 Pan về điện.
a) Chạm masse.
Thường gây hiện tượng giật cho người sử dụng.
- Dây quấn chạm vào mạch từ stato.
- Dây dẫn điện vào chạm vào phần kim loại của quạt. Lưu ý nơi dây di xuyên
qua.
- Lớp cách điện bị ẩm hoặc bị lão hoá do bị nóng lâu ngày làm hoa mòn thanh
than.
Phải quấn lại toàn bộ.
b) Quạt không chạy hoặc lúc chạy lúc không.
- Dòng điện vào quạt bị gián đoạn, xem lại từ nguồn điện, hở mạch trên
đường dây dẫn vào.
- Hở mạch trong dây quấn, có thể do sự kéo căng dây nối làm đứt dây.
- Tụ điện sắp hỏng hoặc hỏng do bị khô, bị nối tắt thì phải thay tụ mới.
c) Quạt quay ngược chiều.

dùng máy bơm này chủ yếu trong công tác hút nước hố thấm, tiêu nước, cứu
hỏa
Bơm tia: Dùng một dòng tia chất lỏng hoặc dòng khí bên ngoài có động
năng lớn phun vào buồng công tác của bơm nhờ vậy hút và đẩy chất lỏng. Loại
bơm này bơm được lưu lượng nhỏ, thường được dùng để hút nước giếng và
dùng trong thi công
Bơm rung: Cơ cấu công tác của bơm này là pít tông-van giao động qua
lại với tầng số cao gây nên tác động rung cơ học lên dòng chất lỏng để hút đẩy
chất lỏng. Loại bơm này có lưu lượng nhỏ, thường được dùng bơm nước giếng
và giếng mỏ
Bơm khí ép: Loại bơm này nhờ tạo hỗn hợp khí và nước có trọng lượng
riêng nhỏ hơn trọng lượng riêng của nước để dâng nước cần bơm lên cao. Loại
bơm này thường dùng để hút nước bẩn hoặc nước giếng
Bơm nước va ( bơm Taran ): Lợi dụng hiện tượng nước va thủy lực để
đưa nước lên cao. Loại bơm này bơm được lưu lượng nhỏ, thường được dùng
cấp nưóc cho vùng nông thôn miền núi.
- Bơm thể tích:
Nguyên lý làm việc của loại bơm này là thay đổi có chu kỳ thể tích của buồng
công tác truyền áp lực hút đẩy chất lỏng. Máy bơm nước thể tích có những loại
sau:
Bơm pít tông: Pít tông chuyển động tịnh tiến qua lại có chu kỳ trong
buồng công tác để hút và đẩy chất lỏng. Loại bơm này tạo được cột áp cao, lưu
lượng nhỏ nên trong nông nghiệp ít dùng, thường được dùng trong máy móc
công nghiệp
Bơm rô to: Dùng cơ cấu bánh răng hoặc bánh vít, cánh trượt đặt ở chu vi
phần quay của bơm để đẩy chất lỏng. Bơm này gồm có: bơm răng khía, bơm pít
tông quay, bơm tấm trượt, bơm vít, bơm pít tông quay, bơm chân không vòng
nước Bơm rô to có lưu lương nhỏ thường được dùng trong công nghiệp
Ngoài ra còn có rất nhiều loại bơm động học và bơm thể tích khác được sử dụng
trong thực tế sản xuất và đời sống

1
4
3
3
8
8
2
9 - lỗ mồi nước;
10 - van điều tiết đặt trên ống đẩy để
điều chỉnh lưu lượng và ngắt máy bơm
khỏi tuyến ống đẩy.
Ngoài ra trên ống đẩy thường đặt van
ngược để tự động ngăn không cho
nước chảy ngược từ ống đẩy về lại
bơm
Hình 4-26. Máy bơm nước dùng động cơ rôto lồng sóc
III.2.2. Nguyên lý làm việc:
• Trước khi khởi động bơm li tâm, cần đổ đầy nước trong ống hút và buồng công
tác (mồi nước).
• Sau khi toàn bộ máy bơm, bao gồm ống hút đã tích đầy nước (hoặc chất lỏng) ta
mở máy động cơ để truyền mô men quay cho BXCT. Các phần tử chất lỏng dưới
tác dụng của lực li tâm sẽ được dịch chuyển từ cửa vào đến cửa ra của bơm và
theo ống đẩy lên bể trên (bể tháo), còn trong ống hút nước được hút vào BXCT
nhờ tạo chân không.
• Trục của động cơ bơm được nối cùng trục rôto máy bơm. Động cơ máy bơm
thường là loại động cơ điện một pha rôto lồng sóc có tụ khởi động vì nó có cấu tạo
đơn giản, làm việc chắc chắn, bền và ít hư hỏng.
• Trường hợp máy bơm có yêu cầu mômen mở máy lớn cũng như khả năng quá tải
tốt, người ta sử dụng động cơ điện một pha có vành góp, hay còn gọi là động cơ
điện vạn năng (máy Kama-8. Kama-10 của Nga). Động cơ vạn năng có chổi than

thường gắn thêm một khóa để tiện việc điều chỉnh hoặc sửa chữa máy.
- Các đường ống dẫn vào và ra phải thật kín, mọi sự rò rỉ đều có thể làm hại
cho máy khi vận hành.
- Điện thế nối vào máy phải đúng, nên lắp một cầu dao tự động, công suất dây
điện phải đúng với công suất tải của máy và máy nối đất tốt
III.3.2. Những lưu ý khi mua một loại bơm
- Độ cao giữa hai bể chứa, tính từ mặt nước bể chứa ở dưới đến mặt nước bể
chứa ở trên.
- Thể tích của mỗi bể chứa.
- Nơi đặt máy bơm.
Sau khi có được những yếu tố đó, bạn hãy chọn loại bơm ly tâm có độ cao tổng
cộng, độ cao hút và độ cao xả thích hợp. Thường chọn bơm có trị số cao hơn 1,5
trị số thực tế là thích hợp. Ngoài việc nắm biết loại bơm đó hoạt động như thế nào
thì cần phải biết thêm các tính năng kỹ thuật quan trọng sau:
- Điện áp sử dụng:
- Lưu lượng bơm: Là lượng nước mà máy bơm vận chuyển trong một đơn vị thời
gian - tính bằng m3/giờ hoặc lít/phút v.v Trong máy thường ghi là Qmax, đó là
lưu lượng tối đa, vì lưu lượng nước còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như độ
cao, tốc độ, công suất máy v.v
- Độ cao: Độ cao của mực nước thường ghi là H, có máy ghi là Hmax, Total H,
tức là độ cao mà máy có thể hút từ mặt nước, giếng, hồ, bể chứa Đây là độ cao
tối đa nào đó mà máy vận chuyển nước lên bể chứa phía trên cao, tính theo chiều
thẳng đứng. Thông thường, máy bơm không đưa nước đạt được đến độ cao như
ghi ở máy mà chỉ đạt được khoảng 70%.
- Độ cao hút nước: là độ cao mà máy bơm hút được, tính từ mặt nước hồ, ao,
giếng đến tâm cánh quạt của bơm. Thông thường thì độ cao sử dụng thực tế nhỏ
hơn ghi trong máy, vì vậy khi lắp đặt máy càng gần mặt nước càng tốt.
- Độ cao xả nước: là độ cao mà máy bơm có thể đưa nước lên tới được.
- Tốc độ quay của bơm: là số vòng quay trên phút, được ghi là r.m.p .
- Công suất bơm: được ghi bằng Watt hoặc bằng H.P.

IV.2 Sơ đồ nguyên lí của mạch điện cầu thang.
IV.2.1 Sơ đồ mạch
-Có 2 dạng sơ đồ mạch
+ Sơ đồ 1L
CC
CT1
CT2
§
1
3
5
4
2
6
N
+Sơ đồ 2:
L
N
CC1
CC2
CT1
CT2
L
N
§
1
5
3
2
4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status