BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NĂNG LƯỢNG
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ - 2010
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG
CỦA HỐ XÓI SAU TRÀN VẬN HÀNH ĐẾN ỔN
ĐỊNH ĐẬP BÊ TÔNG TRỌNG LỰC
MÃ SỐ ĐỀ TÀI: I170
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI VIỆN NĂNG LƯỢNG
Nguyễn Danh Oanh 8765
Hà nội 12- 2010
DANH SÁCH THAM GIA THỰC HIỆN
BÊ TÔNG TRỌNG LỰC THEO HAI HỆ THỐNG TIÊU
CHUẨN VIỆT-NGA VÀ MỸ
27
2.1 Khái quát 27
2.2 Phương pháp tính theo trạng thái giới hạn (Việt Nam-
Nga)
33
2.3 Phương pháp cân bằng giới hạn (Mỹ) 41
2.4 Phân tích ổn định đập bê tông trọng lực theo các tiêu
chuẩn thiết kế
46
Kết luận chương 2 48
Chương 3
XÂY DỰNG CÔNG NGHỆ TÍNH TOÁN ỔN ĐỊNH TRƯỢT
SÂU CỦA ĐẬP BÊ TÔNG TRỌNG LỰC KHI CÓ XÉT ĐẾN
ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN HỐ XÓI
49
3.1
Xây dựng công nghệ tính ổn định trượt sâu cho đập bê
tông trọng lực
49
3.2 Kết quả tính toán ổn định trượt sâu 51
3.3 Ứng dụng tính ổn định cho công trình tháo lũ Hua Na 55
Kết luận chương 3 68
Kết luận 69
Tài liệu tham khảo 70
Phụ lục chương 1, chương 3 72
Nếu dùng tiêu năng dòng phun cần phải nghiên cứu thận trong do dòng tia
văng xa tạ
o mù ảnh hưởng đến các hạng mục công trình đầu mối và vận hành an
toàn. Nếu gặp các trường hợp sau đây cần phải dùng biện pháp thỏa đáng để xử lý.
Trong nền móng tồn tại mặt tầng đá có đứt gãy kéo dài đến hạ lưu và cấu tạo địa
chất có khả năng bị đào xói cắt đứt, uy hiếp tới an toàn của đập và bộ phận công
trình khác.
− Bờ
dốc có khả năng bị xói đổ, uy hiếp tới ổn định vai đập, lấp đầy kênh dẫn
nước ra và dòng sông hạ lưu.
− Sóng dồn và nước vật hạ lưu uy hiếp an toàn của đập chính và các bộ phận
khác khác, uy hiếp tới vận hành bình thường.
2
− Đặc biệt sự nguy hiểm đối với ổn định của đập khi tràn vận hành được bố trí
ở thân đập bê tông trọng lực hay đập vòm, hố xói nằm ngay chân đập.
Đề tài này tiến hành phân tích sự ổn định của đập bê tông trọng lực khi xét
đến sự ảnh hưởng của việc hình thành hố xói dưới tác dụng của dòng phun. Kết
quả tính toán sẽ xác định được sự khác nhau cơ bản trong hai tr
ường hợp có xét
và không xét đến sự hình thành hố xói.
Việc tính toán thiết kế hiện nay trong nước được quy định bởi các tiêu chuẩn
“Công trình thuỷ lợi- các quy định chủ yếu về thiết kế TCVN -285-2002”, tiêu
chuẩn ngành 14TCN-56-88 “Thiết kế đập bê tông và bê tông cốt thép- tiêu chuẩn
thiết kế”, một số tiêu chuẩn, quy phạm và hướng dẫn khác…
Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu, phân tích, tính toán và đánh giá ảnh hưởng về hình dạng và
kích thước c
ủa hố xói hạ lưu tràn vận hành đến ổn định của đập bê tông trọng
lực. Kiến nghị phương pháp tính toán để có thể áp dụng thực tế ở các công trình
n, và cả những mặt trượt tính toán khác có thể
xảy ra, đi qua toàn bộ hay một phần thấp hơn đế móng đập và được xác định
bằng sự có mặt của các lớp kẹp yếu, các khe nứt nghiêng rỗng, các vùng xói lở
trong nền và sự bố trí các công trình nào đó ở hạ lưu đập. Sư ổn định của đập
phải được bảo đảm với tất cả các mặt trượt có th
ể có.
Bảng 1.1. Phân loại đập bê tông
4Hình 1.1. Phân loại đập bê tông và bê tông
a). Đập tràn mặt, b). Xả sâu, c). Kết hợp xả mặt và sâu
Hình 1.2. Các loại đập tràn bê tông chủ yếu trên nền không phải là đá
1.2. Tình hình xây dựng đập bê tông trọng lực
1.2.1. Tình hình xây dựng đập bê tông trọng lực trên thế giới
Đập trọng lực được cho là đầu tiên trên thế giới được xây dựng tại Jordan
tên là đập Jawa, xây vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên. Đập Jawa có
chiều cao 4,5m, dài 80m là đầu mối của một hồ chứa nước làm nhi
ệm vụ cung
cấp nước cho khoảng 2000 người.
Thể tích đập 415.000 m
3
. Dung tích hồ 51 triệu m
3
nước, lưu vực hồ rộng 220
km
2
trong vùng Alpes nơi có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp.
Đập bê tông trọng lực cao nhất là đập Grand Dixence được khởi công năm
1951 và hoàn thành vào năm 1962 tại Swiss Alps với chiều cao 285m.
Tốc độ xây dựng đập trên thế giới tăng nhanh vào những năm 1950 đến
1980, thời kỳ này có khoảng 5.000 đập lớn được xây dựng trên toàn thế giới. Tập
6
trung chủ yếu ở các nước phát triển ở khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu, nơi có nền
khoa học kỹ thuật tương đối phát triển.
Hình 1.6 Mặt cắt ngang đập Chambon
Hình 1.5. Đập Chambon, Pháp
7
Theo thống kê của hộ đập cao thế giới (ICOLD), tính đến năm 2000, trên
thế giới đã có khoảng 45.000 đập lớn phân bố ở 140 nước. Năm nước hàng đầu
về xây dựng đập trên thế giới bao gồm Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Tây Ban Nha và
Nhật Bản. Số lượng đập trong các nước này chiếm khoảng 80% tổng số các đập
lớn trên thế giới. Chỉ riêng Trung Quốc đã xây dựng kho
ảng 22.000 đập lớn
9%
Mü
14%
C¸c n−íc kh¸c
23%
NhËt
6%
Hình 1.9 Tỷ lệ % phân bố đập trên thế giới
Theo thống kê đến năm 1999 đã có 17.526
đập cao trong khoảng 15-30m, 4.578 đập
cao trên 30m, 32 đập cao trên 100m. Do số
đập cao ngày càng nhiều nên vật liệu bê
tông trở nên phổ biến. Đập Tam Hiệp trên
sông Dương Tử có thể tích gần 28 triệu m
3
bê tông, tạo hồ chứa có dung tích 39,3 tỷ
m
3
nước, tràn xả lũ 124.300 m
3
/s và nhà
máy thủy điện có công suất 18,2 GW lớn
nhất thế giới.
Hình 1.10 Đập Tam Hiệp, sông
Dương Tử
6 Sufengying 122 2005 Sông Ô,Quý Châu
7 Baise 130
Đang xây
dựng
Sông Thạch, Quảng Tây
8 Jinghong 110
Đang xây
dựng
Sông Lan Thương, Vân Nam
9 Pengshui 116.5
Đang xây
dựng
Sông Ô,Quý Châu
10 Longtan 216.5
Đang xây
dựng
Sông Hồng,Quảng Tây
11 Jinanqiau 161
Đang xây
dựng
Sông Kim Sa,Vân Nam
12 Gelantan 113
Đang xây
dựng
Sông Lý Tiên,Vân Nam
(theo Viện nghiên cứu khảo sát thiết kế Côn Minh KHIDI - Trung Quốc)
Mỹ hiện đang là nước thứ hai trên thế giới về số lượng đập (14%).
10
14 Trinity 183,4 1962 Trinity, California
15 Yellowtail 178,9 1966 Bighorn, Montana
16 Cougar 176,9 1964 S. Fork McKenzie, Oregon
17 Flaming Gorge 171,1 1964 Green, Utah
Hình 1.12. Phân bố đập theo thể loại
11
Hình 1.13.Phân bố đập theo chiều cao
Bảng 1.4. Một số đập cao nhất theo kiểu khác nhau đã xây dựng trên thế giới
Trên thế giới Ở Trung Quốc
Kiểu đập
Tên công
trình
Tên nước
Chiều
cao
Năm
hoàn
thành
Tên công
trình
Chiều
cao
Năm
hoàn
thành
Đập bê tông
trọng lực
an
335 Đang
xây
dựng
155 1999
Đập đá xây
trọng lực
Nagarjuna-
sagar
India 125 1974 Qunying 101 1962
Bảng 1.5. Các đập bê tông cao nhất thế giới
TT Tên công trình
Năm
hoàn
thành
Quốc gia Loại đập
Chiều
cao (m)
1 Grande Dixence 1961 Switzerland PG 285
2 Inguri 1980 CIS VA 272
3 Vajont 1961 Italy VA 262
4 Mauvoisin 1957 Switzerland VA 250,5
5 Sayano Shushensk 1989 CIS VA/PG 245
6 Ertan u/c China VA 240
12
7 Kishau 1995 India TE/ER 236
8 El Cajon 1985 Honduras VA 234
9 Chirkey 1978 CIS VA 233
10 Bhakra 1963 India PG 226
tông trọng lực lớn. Nếu có chủ yếu là các đập bê tông có chiều cao thấp (khoảng
5-10m) với kết cấu đơn giản, dễ thi công, thời điểm này hầu như công tác thiết
kế, nguyên vật liệu và chỉ đạo thi công là do các kỹ sư nướ
c ngoài thực hiện.
Các công trình bê tông xây dựng trong thời gian này hầu như bị hư hỏng
đáng kể sau một thời gian vận hành, nguyên nhân một phần do công tác khảo sát
chưa kỹ, một phần giải pháp công trình chưa hợp lý, công nghệ thi công chưa phù
hợp với điều kiện trong nước.
Trong giai đoạn từ 1930 đến 1945, một số đập bê tông trọng lực được xây
dựng như đập dâng Đô Lương, Nghệ
An làm nhiệm vụ cấp nước tưới, đập Đáy ở
Hà Tây với nhiệm vụ phân lũ, một số đập dâng nhỏ khác như đập dâng An Trạch
13
ở Quảng Nam, đập dâng Cẩm Ly ở Quảng Bình… do các kỹ sư người Pháp thực
hiện, lực lượng cán bộ kỹ thuật của Việt Nam hầu như không có.
Bảng 1.6. Một số đập bê tông lớn được xây dựng ở Việt Nam trước 1945
TT Tên
Chiều cao
đập (m)
Năm xây
dựng
Địa điểm xây dựng
1 Cầu Sơn - 1902
Sông Thương-Bắc
Giang
2 Liễn Sơn 16,35 1914-1917 Sông Phó Đáy
3 Bái Thượng 23,50 1920 Sông Chu-Thanh Hóa
4 Thác Huống 21,13 1922-1929
ậc. Tuy
nhiên, trong giai đoạn thiết kế, những nghiên cứu về ổn định công trình bê tông
trọng lực vẫn còn khá mới mẻ và không nhiều, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và
ban hành các tiêu chuẩn, quy phạm riêng vẫn chưa có. Vì vậy, rất cần có những
tổng kết kinh nghiệm và nghiên cứu về đập BTTL ngay từ những ngày đầu áp
dụng để có thể rút ra những kinh nghiệm, bài học thiết thực trong công tác thiết
kế
và thi công những công trình tiếp theo áp dụng công nghệ thiết kế đập BTTL
này.
14
Trong số các đập có chiều cao đập nhỏ hơn 60m thì đập vật liệu địa
phương chiếm tới hơn 80%, còn đối với đập có chiều cao lớn hơn 60m thì đập bê
tông nói chung và đập bê tông trọng lực nói riêng lại chiếm một tỷ lệ đáng kể.
2 Thác Bà Yên Bái 108 Đất đá 45
3 Trị An Đồng Nai 420 Đất 45
4 Thác Mơ Bình Phước 150 Đất đá 46
5 Vĩnh Sơn Quảng Ngãi 66 Đất 37
6 Sông Hinh Phú Yên 70 Đất đá 42
7 Đa Nhim Ninh Thuận 160 Đất 38
8 Ialy Gia Lai 720 Đá đổ 69
9 Hàm Thuận Lâm Đồng 300 Đá đổ 94
10 Đa Mi Lâm Đồng 175 Đá đổ 69
11 Tuyên Quang Tuyên Quang 342 Bê tông bản mặt 93
12 Sơn La Sơn La 2400 RCC 138
13 Huội Quảng Sơn La 520 CVC 130
14 Bản Chát Lai Châu 220 RCC 104
15 Bản Vẽ Nghệ An 320 RCC 136
16 Quảng Trị Quảng Trị 64 Bê tông bản mặt 75
17 Sông Tranh 2 Quảng Nam 190 RCC 95
18 Sông Ba Hạ Phú yên 220 Đập đất 60
19 An Khe-Kanak Gia Lai 173 Bê tông bản mặt 64
20 A Vương Quảng Nam 210 RCC 82
21 Đồng Nai 3 Lâm Đồng 240 RCC 108
22 Đồng Nai 4 Lâm Đồng 270 RCC 128
23 Đại Ninh Lâm Đồng 300 Đập đá đổ 50
24 Bắc Bình Bình Thuận 33 Đập đất 14
25 Buôn Tou Sarh Đắc Lắc 86 Đập đá đổ 85
26 Buôn Kuop Đắc Lắc 280 Đập đất 30
28 Srêpok 3 Đắc Lắc 220 Đập đá đổ 60
29 Pleikrông Kontum 110 RCC 71
30 Sê San 4 Gia Lai 330 RCC 74
31 Sê San 4a Gia Lai 63 CVC 20
32 Khe bố Nghệ An 90 CVC 35
/s, tháo lưu lượng tổng cộng
khoảng 36.000m
3
/s ứng với lũ thiết kế.
- Đập tràn thuỷ điện hồ chứa Tả Trạch gồm 5 cửa tràn mặt có thể xả được lưu
lượng Q≈5700m
3
/s và 5 lỗ xả đáy có thể xả được lưu lượng Q≈1250m
3
/s, tháo
lưu lượng tổng cộng khoảng 7.000m
3
/s ứng với lũ kiểm tra .
Bảng 1.8. Các đặc điểm chính về thiết kế các đập tràn
Loại bố trí Dạng Tên công trình
Đập tràn bố trí ở
lòng sông
Thác Bà, Trị An, An Khê, Sông Ba
Hạ, Bình Điền, Sông Tranh 2, Đăm
Bri, Sê San 3, Sê San 4,
Bố trí tổng
thể
Đập tràn bố trí ở
bên bờ
Hoà Bình, Ialy, Tuyên Quang, Cửa
Đạt, Sơn La, Tả Trạch, KanaK, Sông
Hinh, Quảng Trị, v.v.
Tiêu năng đáy (bể,
bể tường)
Thác Bà, Trị An, An Khê, Sông Ba
17
1.3. Nối tiếp tiêu năng hạ lưu và tính toán xói nền đá dưới tác dụng dòng
phun
1.3.1. Tiêu năng
Tiêu năng phía hạ lưu công trình xả lũ thường dùng kiểu tiêu năng dòng
phun hoặc chảy đáy. Hình thức mũi phóng –dòng phun có thể cùng với việc tạo
hố xói tự tạo hoàn toàn hoặc phải đào trước.Thông thường thì tiêu năng đáy là
đảm bảo tin tưởng hơn cả, tuy nhiên giá thành cao. Song không phải lúc nào cũng
có thể phóng tự do để không ph
ải xây dựng bộ phận công trình tiêu năng.Vấn đề
thuỷ lực nối tiếp giữa công trình xả với hạ lưu cho đến đoạn sông thiên nhiên là
một vấn đề phức tạp mà về mặt lý thuyết khó phản ánh hết các điều kiện muôn
màu muôn vẻ của nối tiếp dòng chảy đã do công trình tạo nên với thiên nhiên về
địa hình, địa chất, thuỷ văn… của lòng dẫn và cả hai b
ờ của hạ lưu.
Để chọn hình thức tiêu năng có thể căn cứ vào chiều cao đập và chiều dài
tương đối của tuyến tràn.
Bảng 1.9. Chọn sơ đồ nối tiếp thượng hạ lưu
Chiều dài tương
đối của tuyến tràn
Chiều cao đập Sơ đồ nối tiếp thượng hạ lưu
Tới 40m
− Nước nhảy đáy
− Nước nhảy mặt không ngập(*)
L/H>3
Trên 40m
− Hất dòng chảy bằng mũi phun
L/H<3 Bất kỳ
− Nước nhảy đáy
thuyền hoạt động bình thường.
Thực tế chế độ làm việc của các công trình xả thuộc các công trình thủy điện
Việt Nam, cho thấy mặc dù vận hành chưa đạt lưu lượng thiết kế (khoảng 40-50%),
nhưng ở hạ lưu công trình xả và đập dâng nước đã có những ảnh hưởng xấu làm sạt
lở chân đập hạ lưu và bờ sông (Thác Bà, Hoà Bình, Ialy v.v…)
điều đó cho thấy
việc tính toán và nghiên cứu về tiêu năng sau chưa thật sự hoàn chỉnh.Vấn đề đặt ra
là nếu vận hành đầy đủ 100% công suất xả thiết kế thì điều gì sẽ sảy ra đối với hạ
lưu.
Việc tạo ra hố xói “ nhân tạo” hoặc “thiên nhiên” cần được tính toán kỹ
lưỡng cùng với việc nghiên cứu mô hình thuỷ lực (mô hình không xói và mô hình
xói được) với nhiề
u cấp lưu lượng và nhiều chế độ mực nước thượng hạ lưu. Một số
điểm hạn chế khi áp dụng nối tiếp hình thức tiêu năng dòng phun, cần có biện pháp
xử lý thoả đáng và khi thiết kế tiêu năng cần chú ý đầy đủ các yếu tố bất lợi
Hiện nay trong TCVN chưa quy định về tần suất lũ cho thiết kế tiêu năng
phòng xói. Vấn đề
chọn lưu lượng thiết kế tiêu năng phòng xói cũng cần đươc quy
định rõ ràng theo mức độ ảnh hưởng đến an toàn công trình chính và hạ lưu. Đây là
vấn đề có ý nghĩa về cả kỹ thuật và kinh tế. Theo chúng tôi có thể tham khảo các
kinh nghiệm của Trung Quốc để áp dụng.
Thực tế vận hành các công trình tràn mới chỉ khoảng 1/2 đến 1/3 khả năng xả
theo thiết kế cho thấy, nhìn chung các thiết kế n
ối tiếp tiêu hạ lưu và tiêu năng
tương đối phù hợp. Công trình tràn vận hành an toàn, có một số sự cố nhỏ nhưng
chưa có ảnh hưởng lớn đến tuyến áp lực và hạ lưu. Trong các công trình đã xây
dựng, các thuỷ điện Trị An, Thác Mơ, Vĩnh Sơn, Đrâyhlinh, phía hạ lưu cận công
trình không có những nguy hiểm đe dọa. Hai công trình Trị An và Thác Mơ có công
19
khiển dòng xiết để bố trí kết cấu dốc nước có độ dốc 2 chiều, phân tán lưu lượng
đơn vị từ 380m
3
/s/m tại đầu dốc thành 268m
3
/s/m ở mặt cắt cuối dốc. Trong điều
kiện cụ thể này nếu không áp dụng giải pháp trên thì tình hình nối tiếp còn gặp
nhiều phức tạp hơn.
Công trình Yali có tuyến xả ở đập tràn gần như thẳng góc với sông, làm giảm
khối lượng đào hố xói và do hiệu quả tiêu năng là tối đa ở vùng dòng phóng ra giữa
sông, sẽ làm cho công trình chuyển tiếp làm việc ổn định hơn, ít uy hiế
p đến chân
dốc nước và phía bên kia bờ (có đường ở cao độ cao) cũng như đất đá “ lấp lại” ở
kênh ra của nhà máy thuỷ điện Yali nằm ở hạ lưu. Đây cũng là vấn đề phức tạp, cần
rút kinh nghiệm về tầm quan trọng của công trình nối tiếp thuỷ lực thượng hạ lưu.
Nhưng quá trình thi công đã bị sạt lở phần chân khay cuối tràn do n
ền bị xói.
20
1.3.2. Dự báo chiều sâu xói
Sự an toàn của đập khi xảy ra lũ phải được bảo đảm bởi khả năng tháo của
các công trình. Công trình tháo lũ được thiết kế cho trận lũ theo tiêu chuẩn khác
nhau của từng nước; hơn nữa, đập phải không bị nguy hiểm khi gặp các trận lũ
cao hơn, gọi là lũ kiểm tra, có thể là lũ nằm giữa 10000 năm và PMF. Tại vùng
ảnh hưởng của dòng phun năng l
ượng dư thừa lớn, lòng sông sẽ bị xói, có thể đạt
đến một độ
sâu lớn đe
doạ sự ổn
định của các
o
α
θ
s
h
H
k
t
T
H'
h
l
Quan hệ độ sâu xói Y=f(q,Z)
30.0
40.0
50.0
60.0
70.0
80.0
90.0
20.00 25.00 30.00 35.00 40.00 45.00 50.00
Trị số q
0.5
H
0.25
Y(m)
Tính toán
Các giá trị thực nghiệm
Hình 1.16. Kết quả tính và thí nghiệm độ sâu xói
k
(m). Hầu hết
các công thức được viết dưới dạng:
z
m
v
wxy
hk
dg
hqH
KhtY =+=
(1.1)
Hiện nay, có thể thống kê được khoảng 40 công thức tính toán xói hiện
hành. Số lượng các công thức tương đối nhiều; các yếu tố ảnh hưởng được các
học giả xem xét, điều kiện thực nghiệm và áp dụng thực tế cũng rất khác nhau.
Với số lượng công thức nhiều như trên đã nêu, việc chọn công thức dự tính xói là
khó khăn và cần có sự lựa chọn rất cẩ
n thận các phương trình thích hợp được áp
dụng cho mỗi một công trình.
Để tránh phá hoại do xói, hai phương pháp sau đây là có thể: Một là tránh
hình thành xói một cách toàn diện lan rộng, hai là giới hạn vị trí và phạm vi xói.
Do các công trình kiểm soát xói là khá đắt, thường chỉ phương pháp thứ hai là
thường khả thi về kinh tế. Phạm vi xói bị chi phối bởi các biện pháp sau: Giới
hạn lưu lượng đơn vị qua tràn, hoà khí và làm phân tán dòng phun, tăng độ sâu
mực nước hạ lư
u bằng cách xây đập ở hạ lưu, đào trước hố xói, gia cố hố xói
bằng bê tông
Nghiên cứu mô hình thủy lực vẫn là phương pháp tiếp cận tốt nhất cho xói
nền đá. Có thể có một vài phương pháp mô hình hoá nền đá sau đây: Một là mô
cứu, sai số của mô hình, sai số đo và kích cỡ vật liệu, điều kiện thí nghiệm,…,
mặt khác công thức (1.2) cũng là gần đúng được xây dựng từ kết quả thực
nghiệ
m.
Công thức dự tính xói là khá nhiều, kết quả tính toán của các công thức
thông thường lại rất sai khác nhau. Nên lựa chọn các công thức đơn giản, dễ tính
toán và tránh phải xác định các yếu tố trung gian mà nó đôi khi khó xác định và
gặp phải sai số lớn. Lựa chọn cẩn thận công thức thích hợp áp dụng cho mỗi một
công trình cụ thể để phản ánh được các yếu tố cơ bản về thuỷ lực cũ
ng như đặc
điểm của nền đá, và những ảnh hưởng đến xói nền đá. Có thể so sánh kết quả tính
toán của một vài công thức khác nhau để quyết định. Theo nghiên cứu, cho thấy
việc sử dụng công thức (1.2)[3], để tính toán dự báo chiều sâu hố xói là có thể
chấp nhận được. Đôi khi các phép đo chiều sâu xói nguyên mẫu của một đập
đang tồn tại với điề
u kiện địa chất tương tự và dự đoán cho công trình cần tính là
rất hiệu quả.
Để kiểm tra và dò tìm thông số cho các mô hình xói phức tạp, các dữ liệu
quan trắc xói nguyên mẫu chi tiết về sự phát triển xói với đầy đủ dữ liệu về lưu