Nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp tài nguyên nước lưu vực sông ba - Pdf 13

VIỆN KHOA HỌC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN VÀ MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA
CNĐT: HUỲNH THỊ LAN HƯƠNG

8358

3.1. Đánh giá hiện trạng tài nguyên nước 31
3.2. Đánh giá sự biến động của tài nguyên nước 35
3.3. Tình hình khai thác sử dụng nguồn nước trên lưu vực sông Ba 41
CHƯƠNG 4. ĐÁNH GIÁ MÂU THUẪN TRONG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC LƯU
VỰC SÔNG BA 46

4.1. Mức bảo đảm nước mặt trong tỉnh và các vùng 46
4.2. Nhu cầu dùng nước trong lưu vực sông Ba 51
4.3. Tính toán cân bằng nước – kịch bản hiện trạng 55
4.4. Tính toán cân bằng nước – kịch bản tương lai 70
4.5. Những mâu thuẫn có thể xảy ra trong sử dụng tài nguyên nước lưu vực sông Ba.79
4.6. Cơ chế giải quyết tranh chấp tài nguyên nước trên lưu vực sông Ba 89
CHƯƠNG 5. HỆ THỐNG HỖ TRỢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ TÀI NGUYÊN
NƯỚC LƯU VỰC SÔNG BA 91

5.1. Tổng quan về hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp 91
5.2. Hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước 99
5.3. Sử dụng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp cho các loại hình mâu thuẫn trong
sử dụng tài nguyên nước lưu vực sông Ba 109

KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
PHỤ LỤC 127

Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ iii
MỤC LỤC BẢNG BIỂU Bảng 1. 1. Thống kê số lượng lưu vực sông xuyên biên giới 6

Bảng 4. 7. Các nút tưới trong kịch bản hiện trạng 60
Bảng 4. 8. Thông số của các hồ chứa và nhà máy thủy điện - Kị
ch bản hiện trạng 62
Bảng 4. 9. Kết quả đánh giá dòng chảy mô phỏng và thực đo giai đoạn 1980-1999 63
Bảng 4. 10. Kết quả tính cân bằng nước tại các nút tưới giai đoạn 1980-1999 Kịch bản hiện
trạng 64
Bảng 4. 11. Kết quả đánh giá dòng chảy mô phỏng và thực đo giai đoạn 2000-2005 65
Bảng 4. 12. Kết quả tính cân bằng nước tại các nút tưới giai đoạn 2000-2005- Kị
ch bản hiện
trạng 66
Bảng 4. 13. Kết quả tính cân bằng nước tại các nút thủy điện giai đoạn 2000-2005 Kịch bản
hiện trạng 67
Bảng 4. 14. Kết quả tính toán cân bằng nước sơ bộ cho các vùng – Kịch bản hiện trạng 68
Bảng 4. 15. Các nút tưới trong kịch bản tương lai 72
Bảng 4. 16. Thông số của các hồ chứa và nhà máy thủy điệ
n - Kịch bản tương lai 73
Bảng 4. 17. Kết quả tính cân bằng nước tại các nút tưới - Kịch bản tương lai 75
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ iv
Bảng 4. 18. Kết quả tính cân bằng nước tại các nút cung cấp nước sinh hoạt, chăn nuôi,
công nghiệp, thủy sản - Kịch bản tương lai 76
Bảng 4. 19. Kết quả tính cân bằng nước tại các nút thủy điện - Kịch bản tương lai 76
Bảng 4. 20. Kết quả tính toán cân bằng nước sơ bộ cho các vùng - kịch bản giai đoạn năm
2020 77
Bảng 4. 21. Kết quả tính cân bằng nướ
c cho các khu tưới 80
Bảng 4. 22. Lưu lượng trung bình trong các tháng mùa cạn năm 1998 tại một số vị trí trên
sông Ba được tính toán theo mô hình MIKE BASIN (trong giai đoạn hiện tại,
năm 2005) 81
Bảng 4. 23. Lưu lượng trung bình trong các tháng mùa cạn năm 1998 tại một số vị trí trên
sông Ba được tính toán theo mô hình MIKE BASIN (trong giai đoạn từ sau năm

Hình 4. 9. Sơ đồ tính trong MIKEBASIN - Kịch bản tương lai 70
Hình 4. 10. Sơ đồ tính hệ thống - Kịch bản tương lai 71
Hình 5. 1. Mặt cắt ngang của hồ chứa 95

Hình 5. 2. Màn hình khởi động hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp 99
Hình 5. 3. Màn hình các chức năng người điều khiển có thể can thiệp 100
Hình 5. 4. Màn hình “Sửa đặc điểm hồ chứa” 102
Hình 5. 5. Màn hình “Sửa các tham số” 102
Hình 5. 6. Màn hình biểu diễn đồ thị lưu lượng dòng chảy đến theo tháng 103
Hình 5. 7. Màn hình cho phép sửa đổi dòng chảy vào hồ 103
Hình 5. 8. Màn hình cho phép sửa đổi nhu cầu sử dụng nước cho 1 đơn vị diện tích tưới. 104
Hình 5. 9. Đồ thị biểu thị nhu cầu sử dụng nước hàng tháng của các hộ sử dụng 105
Hình 5. 10. Đồ thị biểu thị so sánh giữa cung và cầu cho một hộ sử dụng 105
Hình 5. 11. Đồ thị biểu thị so sánh lượng thiếu hụt giữa hai hộ sử dụng 106
Hình 5. 12. Đồ thị biểu thị cao trình mực nước hồ từng thời đoạn 106
Hình 5. 13. Đồ thị biểu thị lượng nước trữ trong hồ từng thời đoạn 107
Hình 5. 14. Đồ thị biểu thị lưu lượng cấp cho môi trường sinh thái 107
Hình 5. 15. Kết quả mô phỏng của các phương án 108
Hình 5. 16. Kết quả lựa chọn phương án có lợi 109
Hình 5. 17. Bảng giới thiệu của các bên liên quan 110
Hình 5. 18. Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước của các bên 111
Hình 5. 19. Biểu đồ lưu lượng dòng chảy đến 111
Hình 5. 20. Kết quả mô phỏng thiếu hụt – Phương án 1 112
Hình 5. 21. Nhu cầu sử dụng nước năm 2020 113
Hình 5. 22. Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 1 113
Hình 5. 23. Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 2 114
Hình 5. 24. Thiếu hụt nước - phương án nhu cầu sử dụng năm 2020 - phương án 3 115
Hình 5. 25. Kết quả lựa chọn phương án có lợi nhất - Mâu thuẫn dạng 1 116
Hình 5. 26. Màn hình đăng nhập kiểu tranh chấp 2 117
Hình 5. 27. Biểu đồ nhu cầu sử dụng nước của các nhóm 118

nguyên nước. Tuy nhiên, không giống như các nguồn tài nguyên khác, nước được sử dụng
để làm năng lượng để phát triển cho tất cả các khía cạnh của xã hội. Do đó, không thể
quản lý tài nguyên n
ước theo cách xem xét một mục tiêu đơn lẻ mà phải xét theo các mục
tiêu tổng hợp và phải dựa trên các lợi ích của các ngành. Trong một quốc gia, các lợi ích
này bao gồm các lợi ích công cộng, các cộng đồng dân cư, các nhà sản xuất năng lượng và
các nhà môi trường. Chính vì vậy, quá trình giải quyết tranh chấp về nước đã được nghiên
cứu bởi nhiều chuyên gia như: luật, kinh tế, chính sách, địa lý học, và các lý thuyết về
hệ thống. Các hướng ti
ếp cận truyền thống như: hệ thống luật pháp, các hội đồng ở cấp
quốc gia thường đưa ra các giải pháp mà trong đó ngành này sẽ đạt lợi ích của ngành khác.
Ở Việt Nam hiện nay, quản lý tài nguyên nước hiệu quả là vấn đề rất quan trọng
trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững. Đến nay, nhiều công việc xây
dựng phương pháp tiếp cận quản lý t
ổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam đã được thực
hiện theo các nguyên tắc: hiệu quả về kinh tế, bền vững về môi trường và công bằng xã
hội. Các công việc tiếp theo cần thực hiện là xác định các thủ tục và hướng dẫn có thể áp
dụng nhằm hỗ trợ việc ra quyết định phân bổ và quản lý nguồn nước ở cấp lưu vực sông
hoặc tiểu lư
u vực. Tuy nhiên, rất cần có những công cụ mang tính khoa học cao để hỗ trợ,
giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về các phương án phân bổ nguồn nước, từ đó
ra các quyết định đúng đắn và chính xác.
Nhìn chung, nguồn tài nguyên nước là có hạn, tuy nhiên nhu cầu phát triển kinh tế
xã hội ngày càng cao dẫn tới nhu cầu về nước cũng ngày càng gia tăng, điều này dẫn đến
nảy sinh mâu thuẫn trong khai thác sử dụng tài nguyên nước. Các mâu thuẫn này là khác
nhau đối v
ới từng lưu vực sông. Chính vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng Hệ thống hỗ trợ
giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước mang ý nghĩa thực tiễn to lớn. Đây sẽ là một
công cụ hỗ trợ kỹ thuật đắc lực giúp cho các nhà xây dựng chính sách có được một cái
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ 3

Trong quy hoạch thủy điện năm 2002, ngành Điện đã đề xuất một hệ thống công
trình thủy điện bậc thang trên sông Ba, bao gồm 4 công trình thủy điện trên dòng chính:
(An Khê - Kanak, sông Ba Thượng, sông Ba Hạ) và 7 công trình thủy điện trên dòng
nhánh (Sông Hinh, EaKrong Hnăng, AYun thượng 1, AYun thượng 2, Daksrong, H’Chan,
H’Mun). Do đây là quy hoạch đơn ngành do ngành Điện lập mà không có sự phối hợ
p với
các ngành khác, nên quy hoạch này mới chú trọng hiệu quả phát điện của các công trình
mà chưa quan tâm đầy đủ tới nước cho hệ sinh thái cũng như sử dụng nước của các ngành
khác ở hạ lưu. Mặt khác, công trình An Khê còn có nhiệm vụ chuyển nước từ sông Ba
sang sông Côn nhằm giải quyết vấn đề thiếu nước trầm trọng trên lưu vực sông Côn, tuy
nhiên điều này cũng dẫn đến việc thi
ếu nước xảy ra trên sông Ba. Tương tự như vậy, các
hồ chứa phục vụ tưới hầu hết cũng được thiết kế cho phép lấy hết dòng chảy cơ bản của
sông trong mùa kiệt để tưới nên tạo nên tình trạng khô cạn nước cho đoạn sông hạ lưu đập
trong các tháng mùa khô.
Phương thức khai thác sử dụng nguồn nước trên lưu vực sông Ba hiện tại cũng còn
tồn t
ại những điều bất cập và những biểu hiện chưa bền vững. Để lấy nước tưới con người
đã sử dụng quá nhiều các đập dâng nhỏ ở trung và thượng lưu, việc xây dựng các đập
dâng lớn như đập Đồng Cam ở hạ lưu nhưng không có hồ điều tiết dòng chảy ở thượng
nguồn, là những bất cập và những biể
u hiện chưa bền vững trong phương thức khai thác
và sử dụng tài nguyên nước. Điều này đã làm suy giảm rất đáng kể dòng chảy các tháng
mùa cạn ở khu vực hạ lưu và gần cửa sông.
Hiện tại, dòng chính sông Ba ở khu vực hạ lưu từ sau đập Đồng Cam đến biển
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ 4
nguồn nước đang bị cạn kiệt và hệ sinh thái đã bị suy thoái tương đối nghiêm trọng. Đã
xuất hiện những thời gian trong mùa kiệt nguồn nước tự nhiên đến thượng lưu đập Đồng
Cam không đủ cho lấy nước của đập khiến cho mực nước thượng lưu đập thấp hơn
ngưỡng tràn. Đoạn sông khu vực hạ lưu đập ra đến biển không còn nướ

được thực hiện trong công tác điều tra cơ bản về hiện trạng, diễn biến tài nguyên
nước. Các số liệu, kết quả thu được qua phương pháp này là cơ sở thiết yếu để xác
định hiện trạng và dự báo diễn biến cũng như tình hình sử dụng tài nguyên nước
trên lưu vực sông Ba;
b) Phương pháp phân tích, đánh giá và tổ
ng hợp các thông tin, dữ liệu: Việc phân
tích đánh giá tài nguyên nước, thiết lập các mục tiêu từ các thông tin, dữ liệu thực
đo được thực hiện trên cơ sở ứng dụng các phương pháp thống kê thông dụng hiện
nay.
c) Phương pháp đánh giá tài nguyên: Sử dụng các công cụ phân tích, xác định, đánh
giá diễn thế của các điều kiện chung về tài nguyên nước, về sự phát triển kinh tế -
xã hội, về
dân số, của khu vực trong tương lai. Kết quả để phục vụ xây dựng các
kịch bản sử dụng nước ứng với các thời kỳ khác nhau.
d) Phương pháp mô hình: Ứng dụng, xây dựng các mô hình mô phỏng nhằm đưa ra
được bức tranh tổng thể về tài nguyên nước ở các tiểu vùng có liên quan. Đối với
mô hình mô phỏng các phần mềm chuyên dụng hiện nay trong nước cũng như nước
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ 5
ngoài sẽ được ứng dụng như mô hình thuỷ văn và tính toán dòng chảy (NAM), mô
hình quy hoạch và đánh giá nguồn nước (MIKE Basin);
e) Phương pháp phân tích tối ưu đa mục tiêu: Tiến hành phân tích tối ưu dựa trên cơ
sở tối ưu về nguồn nước nhằm đưa ra phương án phân bổ nguồn nước hiệu quả nhất
thỏa mãn tối đa nhu cầu của các ngành.
f) Phương pháp chuyên gia: Phương pháp chuyên gia thông qua các H
ội thảo khoa
học lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia trong và ngoài nước về cách tiếp cận,
thiết kế nghiên cứu.
g) Phương pháp tư vấn, tiếp xúc cộng đồng: Đảm bảo sự tham gia của các cộng đồng
dân cư sống trên lưu vực nhằm tăng cường nhận thức của cộng đồng.


nước là vấn đề mang tính thời sự và ngày càng trở nên gay gắt.
Hiện nay trên toàn thế giới có 263 lưu vực sông xuyên quốc gia thuộc 145 nước,
chiếm gần nửa diện tích lục địa. Ở Châu Âu có 69 lưu vực sông xuyên biên giới chiến
62% diện tích lưu vực so với diện tích châu l
ục, Châu Phi có 59 lưu vực sông xuyên biên
giới chiến 62% diện tích lưu vực so với diện tích châu lục, Châu Á có 57 lưu vực sông
xuyên biên giới chiến 39% diện tích lưu vực so với diện tích châu lục, Bắc Mỹ có 40 lưu
vực sông xuyên biên giới chiến 55% diện tích lưu vực so với diện tích châu lục, Nam Mỹ
có 38 lưu vực sông xuyên biên giới chiến 60% diện tích lưu vực so với diện tích châu lục.
Ngoài ra, trên toàn thế giới hiện có khoảng 274 t
ầng chứa nước dưới đất chảy xuyên biên
giới giữa các quốc gia.
Bảng 1. 1. Thống kê số lượng lưu vực sông xuyên biên giới
Tên châu lục Số lưu vực sông xuyên
biên giới
Tỷ lệ % diện tích lưu vực
so với diện tích châu lục
Châu Âu 69 62
Châu Phi 59 62
Châu Á 57 39
Bác Mỹ 40 55
Nam Mỹ 38 60
Nước chảy qua ranh giới các vùng - do đó “chảy” qua cả các ngành kinh tế, luật
pháp, chia cắt nền văn hoá và biên giới quốc gia – chính vì thế nó gây ra các mâu thuẫn
gay gắt giữa các hộ dùng nước trong khi tìm cách đạt được nguồn nước phục vụ cho lợi
ích của mình, bên cạnh đó yêu cầu bảo vệ môi trường tự nhiên cũng là một vấn đề quan
trọng. Trong khi đó, nguồn nước lại được khai thác trên tinh thần “giành giật” là chính,
không có một chiế
n lược nào được đề cập đến nhằm hòa giải sự cạnh tranh giữa các
ngành, điều này gây ra tranh chấp về tài nguyên nước ngày càng trở nên gay gắt ở Tây

Riêng 2 thập niên 1980 và 1990, nhu cầu về nước đã tăng gấp 2 lần. Vì vậy nếu dân số thế
giới tăng đến 45% vào năm 2025 thì nhu cầu về nước sẽ tăng đến 50% so với hiện nay,
phần lớ
n được sử dụng trong nông nghiệp để sản xuất lương thực phục vụ 8,3 tỉ dân trên
thế giới.
Tất cả công cụ hệ thống quản lý được thiết lập nhằm điều phối việc khai thác các
con sông châu Á sao cho tất cả các bên đều không bị lợi dụng, chèn ép và không bị thiệt,
đến nay, đều không hiệu quả, từ Ủy ban Mê Công (1957); các hiệp ước Sarada (1920),
Kosi (1954), Gandak (1959) giữa Ấn Độ và Nepal; Hiệp
ước nguồn nước Indus giữa Ấn
Độ và Pakistan (1960); Hiệp ước sông Hằng giữa Ấn Độ và Bangladesh (1977); đến Thỏa
thuận sử dụng nước và năng lượng lưu vực Syr Darya giữa Kazakhstan và Uzbekistan
1.1.2. Mâu thuẫn ở cấp độ địa phương
Nước đang là vấn đề gây ra nhiều cuộc xung đột trên thế giới. Cho đến nay, đã có
khá nhiều cuộc đàm phán, thương lượng diễn ra nhằm mụ
c đích tìm lời giải cho các cuộc
tranh chấp nước quốc tế. Song, thực tế lại cho thấy các cuộc tranh chấp nguồn nước xảy ra
trong phạm vi quốc gia phổ biến hơn là những cuộc xung đột nước quốc tế.
Trong thập kỷ qua, những cuộc tranh luận về mặt chính sách đang ngày càng tăng
lên cùng với vấn đề khan hiếm nước và tranh chấp nguồn nước. Ở mức độ qu
ốc tế, đó là
các cuộc xung đột hay chiến tranh giữa các quốc gia cùng chia sẻ một nguồn nước. Còn ở
cấp quốc gia và địa phương, xung đột hay tranh chấp chủ yếu là do sự bất bình đẳng về
quyền sử dụng giữa các ngành khác nhau trên cùng lưu vực. Tuy nhiên, xung đột về nước
không chỉ là do vấn đề khan hiếm nước mà còn là do vấn đề quản lý và quyền sử dụng
nguồn nước đó.
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ 8
Những cuộc xung đột liên quan đến nước ở địa phương xảy ra ngày càng nhiều hơn
những cuộc xung đột nước ở cấp quốc gia. Sự thiếu hụt các quy định pháp lý trong quyền
sử dụng và cấp nước địa phương là nguyên nhân chính về mặt thể chế và chính sách. Bên

Đối với tranh chấp trong sử dụng tài nguyên nước trong một quốc gia. Để giải
quyết vấn đề này đòi hỏi chính phủ ở mỗi quốc gia phải có ch
ế tài, cơ chế nhằm đảm bảo
mọi thành phần kinh tế, mỗi người dân đều được tiếp cận nguồn nước sạch, đảm bảo lợi
ích quốc gia là lớn nhất. Mặt khác các ngành sử dụng nước, các địa phương phải hợp tác
cùng nhau chia sẻ nguồn nước nhằm sử dụng nguồn nước có hiệu quả nhất.
Trước những nguy cơ thiếu hụt về
nước, chiến tranh xảy ra giữa các nước trong lưu
vực nhằm kiểm soát nguồn nước vv, cần có giải pháp để đảm bảo lợi ích của các bên. Xu
hướng đối thoại là giải pháp tối ưu để giải quyết các vấn đề này.
1.2.1. Trên lưu vực sông Nile
Lưu vực sông Nile là một lưu vực rộng lớn với chiều dài vào khoảng 6695 km,
nguồn nước của sông được cung cấp phầ
n lớn từ các con sông của Ethiopia, Ai Cập và
một số nước khác thuộc Châu Phi. Do kết quả của một loạt các thỏa thuận thời thuộc địa,
mục tiêu hàng đầu của Anh ở Đông Phi là bảo vệ Ai cập, do đó, Cairo có quyền hợp pháp
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ 9
được khai thác 55,5 tỷ m
3
nước hàng năm từ sông Nile, trong khi Sudan được quyền có
18,5 tỷ m
3
còn lại. Tuy nhiên, tám nước còn lại trong lưu vực sông Nile là Ethiopia,
Eritrea, Uganda, Kenya, Tanzania, Uganda, Burundi và Cộng hòa dân chủ Congo đều nằm
ở thượng lưu tính từ Ai Cập. Hầu hết các nước này đã có ý kiến về khuôn khổ pháp lý hiện
tại không cho phép họ can thiệp vào dòng chảy của sông Nile, ít nhất về mặt lý thuyết.
Hiện nay, Uganda và Ethiopia đang dự kiến phát triển một loạt các dự án thủy điện mới.
Ban đầu, Ai Cập phản ứng quyết li
ệt những dự án đó, nhưng hiện nay đã bắt tay vào quá
trình xúc tiến hợp tác giữa mười nước lưu vực sông Nile. Có vẻ như Cairo nhận ra rằng

2
, qua các bang Wyoming, Colorado, Utah, New Mexico,
Arizona, Nevada và California.
Mức tăng dân số ở 3 tiểu bang Arizona, California, và Nevada trong vùng hạ lưu
sông Colorado thuộc hàng cao nhất ở Hoa Kỳ. Theo đà tăng dân số như hiện nay, tính đến
năm 2020, số dân cư trong vùng tùy thuộc vào nguồn nước do con sông cung cấp sẽ lên
đến 38 triệu người. Số dân sử dụng nguồn nước sống ở New Mexico theo dự đoán cũng sẽ
tăng khoảng 91% trong cùng khoảng thời gian. Để giải quyết mâu thu
ẫn trong sử dụng
nước của các bang trong lưu vực sông, Hiệp định Colorado hình thành với những điều
khoản về sử dụng nước. Tuy nhiên, nếu nhu cầu về nước dùng trong khu vực thượng lưu
con sông và lượng nước sử dụng cấp cho bang Arizona theo Hiệp Định Colorado tăng cao,
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ 10
California sẽ mất đi cơ hội được sử dụng nguồn nước dành cho bang. Một vấn đề khác là
Hiệp Định Colorado được viết vào thời điểm mà các điều kiện về khí tượng, thủy văn là
không tiêu biểu cho vùng, và mực nước trung bình tính toán trong Hiệp Định là cao hơn
những con số khảo sát của các nghiên cứu mới đây. Vào năm 1945, New Mexico giành
được quyền sử dụng 42,5.10
3
m
3
nước mỗi năm từ sông Colorado - khoảng 10% lưu lượng
nước của con sông, con số này hiện nay là chủ đề chính của bản Hiệp Ước. Vào những
thời kỳ khô hạn, Hiệp Định cho phép cắt giảm lượng nước cấp cho cho New Mexico,
nhưng Hiệp Ước lại không định nghĩa rõ cụm từ "khô hạn". Tất cả các yếu tố này là điềm
báo về những xung đột trên vấn đề s
ử dụng nước trên lưu vực sông Colorado.
1.2.4. Trên lưu vực sông Tigre và Euphrate
Hai sông Tigre và Euphrate chảy qua ba quốc gia Syria, Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ. Việc
phân chia nguồn nước của 2 con sông này luôn gây căng thẳng về quan hệ giữa 3 nước,

tưới tiêu không hiệu quả
đã làm thất thoát một lượng nước ngọt lớn từ biển Aral khiến cho
diện tích của biển nước ngọt lớn nhất thế giới này bị giảm hơn một nửa (diện tích bề mặt
từ 67.000km
2
xuống còn 30.000km
2
). Không những bị giảm diện tích trữ nước, nước của
biển Aral còn bị ô nhiễm nặng nề khiến dân chúng không thể sử dụng được. Nguyên nhân
chính gây nên thảm họa sinh thái này là do 4 quốc gia Trung Á là Ouzbékistan,
Kazakhstan, Turkménistan và Kirghzistan đã thay nhau chuyển dịch nguồn nước của 2
con sông Amor Daria và Syr Daria, vốn là nguồn cung cấp nước chính cho biển Aral, để
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ 11
tưới tiêu cho các cánh đồng trồng bông của mình. Trước tình trạng ngày càng bị khan
hiếm nước trầm trọng, cả 4 quốc gia này đều đổ lỗi cho nhau mà không đề ra được bất cứ
chương trình nào để cải tạo lại nguồn cung cấp nước cho biển Aral.
1.2.7. Trên lưu vực sông Lerma-Chapala
Lưu vực sông Lerma-Chapala ở Mexico nằm ở tây nam cao nguyên Altiplano, đây
là một vùng bán khô hạn nhưng nông nghiệp trong vùng là một ngành kinh tế quan trọng
đối với nề
n kinh tế của đất nước. Mặt khác, đây cũng là một vùng đô thị phát triển.
Theo hiến pháp của Mexico, Chính phủ đã tiến hành thu phí đối với tất cả các
ngành dùng nước trên toàn quốc. Do đó, tính công bằng đã trở thành "chìa khoá" cho sự
thành công của việc chia sẻ nguồn nước trên lưu vực sông Lerma-Chapala. Giải pháp quan
trọng là giao cho từng hộ sử dụng nước một "quyền được hưởng sự công bằ
ng" có thể
thoả mãn họ khi có mâu thuẫn xảy ra. Nói cách khác, giải pháp "thắng - thắng" là nhân
tố quan trọng để có thể giải quyết được các mâu thuẫn một cách lâu dài.
Từ các vấn đề nảy sinh trên lưu vực, Hội đồng Lưu vực sông đã xây dựng một mô
hình động lực học hệ thống. Mô hình có khả năng:

dựng một hệ thống hỗ trợ giải quyết về mặt kỹ thuật các tranh chấp về sử dụng tài nguyên
nước trên lưu vực sông.
Các mâu thuẫn được xem xét trong quá trình xây dựng hệ thống hỗ trợ này bao
gồm các mâu thuẫn giữa các ngành. Hiệ
n nay, cách tiếp cận nhằm giải quyết mâu thuẫn là
làm thế nào để tất cả các bên đều cùng có lợi và đều thấy thỏa mãn với yêu cầu của mình.
Do đó, hệ thống sẽ hỗ trợ dưới dạng để hai bên có thể cùng ngồi thảo luận, bên cạnh đó,
họ có thể xem xét lượng nước đến, khả năng đáp ứng nhu cầu của mình cũng như của hộ
đ
ang có tranh chấp với mình. Từ đó, mới dễ dàng đạt được thỏa hiệp từ phía các hộ sử
dụng nước.
1.3. Giải quyết mâu thuẫn tài nguyên nước ở Việt Nam
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đã nảy sinh một số
tranh chấp, mâu thuẫn tài nguyên nước của một số hệ thống xuyên quốc gia và một số hệ
thố
ng trong lãnh thổ Việt Nam.
Lưu vực sông Mê Công: Trên lưu vực sông Mê Công việc Trung Quốc xây dựng
hàng loạt con đập ở trên đầu nguồn sông Mê Công là hiểm họa lớn nhất đối với tương lai
của sông Mê Công - một trong những con sông lớn trên thế giới và là nguồn nước quan
trọng đối với khu vực. Hiện Trung Quốc đang xây 8 đập nước khổng lồ trên dòng chính
của sông Lan Thương - tên Trung Quốc của sông Mê Công. Dân cư các nước hạ ngu
ồn
trong đó có Việt Nam bị ảnh hưởng tức thời như lượng cá tôm giảm sút, nhiều đoạn sông
cạn nước, tàu thuyền không lưu thông được.
Việc xây dựng các con đập sẽ làm gia tăng sức ép đối với sông Mê Công và mạng
lưới nhánh phụ khổng lồ của con sông này - vốn đang phải đối mặt với những hiễm họa do
ô nhiễm, biến đổi khí hậu. Những thay đổi v
ề lưu lượng và thời gian dòng chảy làm giảm
chất lượng nước và mất đi tính đa dạng sinh học.
Đối với đồng bằng sông Cửu Long, các đập thủy điện của Trung Quốc chặn dòng

Tuyên Quang (và cả lượng nước về Việt Nam theo sông Thao) bị ảnh hưởng lớn.
Thực tế, số liệu quan trắc tại các trạm thủy văn Mường Tè, vùng thượng lưu sông
Đà và trên sông Lô tại Hà Giang về mùa cạn những năm gần đây c
ũng thể hiện các dấu
hiệu cho thấy mức độ khai thác mạnh mẽ TNN vùng thượng lưu sông Hồng hiện nay trong
phần lãnh thổ Trung Quốc.
Việc tích nước từ các hồ chứa thủy điện ở thượng nguồn dẫn đến nguồn nước ở hạ
lưu sông Hồng đang bị cạn kiệt quá mức,dù không phải năm hạn. Lần đầu tiên trong lịch
sử, hi
ện tượng sông Hồng gần như trơ đáy đã xuất hiện.
Lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn: Lưu vực sông Vu Gia là một trong những lưu vực
sông liên tỉnh lớn của VN. Từ 2005, Bộ Công nghiệp đã quy hoạch xây dựng trên hệ
thống sông Vu Gia đến 7 thuỷ điện bậc thang, đều nằm trên địa bàn Quảng Nam. Trong
đó, 6 thuỷ điện thiết kế theo nguyên tắc trả nước về
dòng cũ. Riêng thuỷ điện Đăk Mi4 -
tại huyện Phước Sơn chuyển nước từ sông Vu Gia sang sông Thu Bồn. Với thiết kế này,
hơn 1.850km2 diện tích của lưu vực sông Vu Gia (kể từ đầu nguồn đến Ái Nghĩa, huyện
Đại Lộc, Quảng Nam) chịu ảnh hưởng. Trên 40.000 người dân cùng hàng chục nghìn
hécta lúa, hoa màu thuộc các huyện Đại Lộc, Điện Bàn của Quảng Nam và Hoà Vang của
Đà Nẵng sẽ bị
thiếu nước, trong đó có Nhà máy nước Cầu Đỏ - cấp nước chính cho TP.
Đà Nẵng sẽ phải ngừng vận hành do bị nhiễm mặn.
Lưu vực sông Ba: Vấn đề chuyển nước sông Ba sang sông khác đã gây những tác
động đáng kể đến dòng chảy xuống hạ du. Ngoài ra vấn đề vận hành các nhà máy thủy
điện trong mùa lũ cũng gây tác động không nhỏ, làm gia tăng thiệt hại do lũ cho các khu
dân cư ở h
ạ du. Ngày 2 tháng 11 năm 2009, khi bão Mirinae đổ bộ vào Phú Yên gây mưa
rất to thì hồ thủy điện Sông Ba Hạ xả với lượng nước lớn. Mưa gây lũ lớn, kết hợp với
việc xả lũ tại thuỷ điện sông Ba Hạ đã nhấn chìm thị xã Sông Cầu và nhiều vùng ở huyện
Tuy An. Việc xả lũ của thuỷ điện sông Ba Hạ khi nước lũ dâng cao là do chưa có quy chế

phải có biện pháp giải quyết.
Năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hoàn thành giai đoạn 1 dự án xây
dựng “Quy hoạch tài nguyên nước lưu vực sông Ba”. Hiện nay, Bộ đang tiến hành các thủ
tục cần thiết để phê duyệt Quy hoạch tài nguyên nước lư
u vực sông Ba, trong đó có nội
dung quy hoạch chia sẻ, phân bổ tài nguyên nước. Khi Quy hoạch chính thức phê duyệt,
chính phủ sẽ có một công cụ về mặt pháp lý để thực hiện quản lý lưu vực sông. Bên cạnh
đó, cũng cần có những công cụ về mặt kỹ thuật. Trước tiên, cần có công cụ hỗ trợ ra quyết
định bao gồm hệ thống các mô hình phục vụ công tác quản lý. Một công cụ khác, nhằm hỗ
trợ cho việc giải quyết mâu thuẫn đó chính là hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài
nguyên nước. Hệ thống này phải được vận hành dựa trên những ràng buộc chặt chẽ về mặt
pháp lý bởi cơ chế chia sẻ, phân bổ nguồn nước. Mặc dù những ràng buộc về mặt pháp lý
này chính là cơ sở chắc chắn buộc các ngành dùng nước phải tuân thủ, nhằm tránh đượ
c
những tác động xấu đến tài nguyên nước. Tuy nhiên, không phải lúc nào người dân cũng
tuân thủ theo những quy định này, cần thiết phải có công cụ hỗ trợ đàm phán giữa các hộ
sử dụng nước, nhằm đi đến thỏa thuận về chia sẻ nguồn nước trong trường hợp dòng chảy
đến không đáp ứng được các nhu cầu. Trên cơ sở này, nhóm thực hiện đề tài đã tiến hành
xây dựng h
ệ thống hỗ trợ về mặt kỹ thuật nhằm trợ giúp cho các nhà quản lý có thể giải
quyết các mâu thuẫn tiềm tàng có thể xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên
nước, đặc biệt chú trọng mâu thuẫn giữa các hộ sử dụng. Công cụ cũng chỉ xác định hỗ trợ
về mặt kỹ thuật, do vậy, các phân tích tối ưu, chỉ đánh giá trên cơ sở phân tích về nguồn
nướ
c. Để có thể sử dụng hiệu quả, cần có sự kết hợp với các phân tích về kinh tế, để kiến
nghị được phương án sử dụng có lợi nhất về mọi mặt.
Việc nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước
lưu vực sông ở Việt Nam còn là một vấn đề mới. Hiện nay, chưa có một nghiên cứ
u nào
xây dựng hệ thống này. Cho đến nay, mới chỉ có một số nghiên cứu liên quan đến sử dụng

Vị trí địa lý của lưu vực ở vào khoảng 12
o
55’ đến 14
o
58’ vĩ độ Bắc và 108
o
00’ đến
109
o
55’ kinh độ Đông, phía bắc giáp với lưu vực sông Sê San và sông Trà Khúc, phía nam
giáp với lưu vực sông Cái (Nha Trang) và sông Srêpôk, phía tây giáp với lưu vực sông Sê
San và sông Srêpôk, phía đông giáp với lưu vực sông Kôn, sông Kỳ Lộ và biển Đông.
2.2 . Đặc điểm địa hình
Nhìn tổng quan lưu vực sông Ba với đại bộ phận diện tích nằm ở phía Đông Nam
dãy Trường Sơn, nhưng ảnh hưởng của dãy đến khu vực này đã yếu d
ần và được thay thế
bằng phông chung của nền cấu trúc khối tảng cao nguyên.
Phần thượng lưu của lưu vực sông, chủ yếu là các nhánh núi bị chia cắt mạnh bởi
các dòng chảy thường xuyên và tạm thời với hướng địa hình chính kéo dài theo hướng á
kinh tuyến. Chiều dài phần trung lưu của lưu vực sông rất ngắn và có xu hướng như là
thực thể địa hình đồi núi trung bình, thấp phân cắt với phần h
ạ lưu dưới dạng chuyển tiếp
các bậc địa hình. Điều này làm cho sông gần như không có phần trung lưu, nước từ
thượng lưu đổ thẳng xuống vùng đồng bằng ven biển. Trên bề mặt đồng bằng này được
cấu thành bởi những gò đồi sót của các bề mặt địa hình cổ hơn bị bóc mòn, cùng với
những bậc thềm, bãi bồi, đụn cát, cồn cát nguồn gố
c biển, gió biển, sông-biển và sông.
Ngoài ra do tính định hướng của các nhánh núi đâm ngang ra biển, đặc biệt là ở phía Tây,
Tây Nam lưu vực nên dòng sông bị đổi hướng khá nhanh, từ chảy gần như hướng á vĩ
tuyến, qua sang gần như á kinh tuyến tại đoạn sông đi qua Ea Ba đến cửa Đà Rằng.

− Bậc II (có độ cao dao động từ 800 ÷ 1200 m): Đây là bậc địa hình khá phổ biến
ở thượng nguồn và phần đỉnh của một số nhánh núi phân thủy đâm ngang ra
biể
n. Chúng tạo nên một mực địa hình rộng với độ cao 800 ÷ 900 m ở phần cuối
của thượng lưu lưu vực và cao dần lên thành bậc chuyển tiếp với bậc I kể trên.
− Bậc III (có độ cao dao động từ 400 ÷ 700 m): Phân bố rộng rãi nhất dưới dạng
bề mặt trũng trước núi bằng thoải ở khu vực chi lưu Ea Krông Hnăng, còn ở Ya
Hleo, Ayun Pa chúng thể hiện dưới dạng bề m
ặt bazan bằng rộng. Ngoài ra mực
địa hình này còn quan sát thấy ở dạng các bề mặt đỉnh không liên tục thành
vành đai kéo dài dọc thung lũng sông Ba và sông Ayun.
− Bậc IV (có độ cao phổ biến từ 200 ÷ 250 m): Phân bố ở phần trung lưu của lưu
vực. Trong địa hình hiện tại chúng là những bề mặt san bằng của địa hình đồi
cao, hoặc bề mặt chia nước của các lưu vực cấp II, cấp III; liên hệ vớ
i nhày
bằng chuỗi các chỏm đồi hoặc dãy đồi ngăn cách nhau bởi các yên ngựa uốn
lượn mềm mại.
− Bậc V (có độ cao trung bình từ 100 ÷ 150 m): Trong địa hình hiện tại là bề mặt
của các đồi và dãy đồi.
− Bậc VI (có độ cao từ 10 ÷ 30 m): Đóng vai trò chuyển tiếp từ địa hình đồng
bằng lên vùng đồi núi và chúng chính là các bề mặt thềm sông, thềm biển phân
bố khá rộng rãi.
− Bậc VII (có
độ cao < 10 m): Bao gồm toàn bộ địa hình đồng bằng. Trong thực
tế mực này có thể chia ra thành 2 phục bậc:
+ Phụ bậc VIIa (5 ÷ 10 m): Mang tính chất của đồng bằng cao, ít chịu tác
động của biển và lũ lụt.
+ Phụ bậc VIIb (< 5 m): Mang tính chất của đồng bằng thấp, còn chịu
nhiều ảnh hưởng từ hoạt động của sông, biển và nhất là lũ lụt.
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ 19

những khu vực với các cấp độ phân cắt sâu khác nhau như sau (mức độ chia cắt ngang tính
theo đơn vị m/km
2
):
− Hầu như không bị chia cắt (< 10)
− Chia cắt sâu yếu (10 ÷ 20)
− Chia cắt sâu trung bình (20 ÷ 100)
− Chia cắt sâu mạnh (100 ÷ 300)
− Chia cắt sâu rất mạnh (> 300)
Nhìn chung độ chia cắt sâu địa hình lưu vực có những đặc điểm sau:
Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ 20
− Mức độ chia cắt sâu mạnh và rất mạnh chiếm diện tích lớn và thuộc về miền núi
của lưu vực.
− Mức độ chia cắt sâu trung bình chiếm tỉ lệ diện tích hạn chế dưới dạng vùng đồi
chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng.
− Mức độ chia cắt sâu yếu và hầu như không bị chia cắt chiếm tỉ lệ diện tích
không lớn.
Tuy vậy, ở khu vực miền núi nơi mà những dòng sông suối cắt xẻ vào bề mặt cao
nguyên bazan thì tại đó có sự biến động mạnh về độ chia cắt sâu, từ những giá trị rất lớn ở
phần sườn dốc xuống đáy thung lũng, máng trũng với hình thái dạng hẻm vực tới giá trị
khá nhỏ trên bề mặt cao nguyên.
2.2.4 Đặc điểm độ d
ốc địa hình
Vùng nghiên cứu có thể được phân chia thành các khu vực với các cấp độ dốc sau
(đơn vị độ góc):
− Hầu như nằm ngang (<3)
− Nghiêng thoải (3 ÷ 8)
− Dốc nghiêng (8 ÷ 15)
− Dốc (15 ÷ 25)
− Rất dốc (> 25)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status