BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC THUỶ LỢI VIỆT NAM
BÁO CÁO TỔNG KẾT CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU
QUAN TRẮC ĐÊ BIỂN TRONG THỜI GIAN
THI CÔNG VÀ SAU KHI THI CÔNG XONG THUỘC ĐỀ TÀI:
“
NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẮP ĐÊ BẰNG VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG VÀ ĐẮP TRÊN
NỀN ĐẤT YẾU TỪ QUẢNG NINH ĐẾN QUẢNG NAM
”
Mã số: 05 Thuộc chương trình: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ XÂ
Y
DỰNG ĐÊ BIỂN VÀ CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS Nguyễn Quốc Dũng
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam
9.6 Bố trí thiết bị quan trắc công trình sau khi xây dựng xong 9-28
9.6.1 Mục tiêu - nhiệm vụ của đo đạc trong xây dựng 9-28
9.6.2 Các sơ đồ lắp đặt thiết bị đo 9-29
9.6.3 Quan trắc, giám sát và xử lý kết quả đo 9-29
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-2
Danh mục hình vẽ
Hình 9-1: Nguyên lý đo sử dụng ống đo lún nằm ngang 9-11
Hình 9-2: Nguyên lý đo sử dụng neo xoắn 9-11
Hình 9-3: Nguyên lý đo sử dụng côn cố định 9-12
Hình 9-4: Nguyên lý đo sử dụng giếng đo lún bằng khí 9-13
Hình 9-5: Nguyên lý đo sử dụng ống đo độ nghiêng 9-15
Hình 9-6: Ống đo độ nghiêng điện tử 9-16
Hình 9-7: Sơ đồ công nghệ quan trắc 9-23
Hình 9-8: Sơ đồ kiểm tra 9-25
Hình 9-9: Các sơ đồ bố trí thiết bị đo cho các nền đắp trên đường thấm thẳng
đứng 9-25
Hình 9-10: Các đường cong theo dõi độ lún và áp lực nước lỗ rỗng dưới nền
đắp trên đất yếu 9-27
Danh mục bảng biểu
Bảng 9-1: Danh mục các thiết bị sử dụng trong quan trắc đê biển 9-5
Bảng 9-2: Thiết bị đo chuyển vị ngang 9-5
Bảng 9-3: Các thiết bị đo áp lực nước lỗ rỗng 9-6
Bảng 9-4: Danh mục các nội dung quan trắc thông dụng 9-7
Việc kiểm tra công tác làm đất
đã quy định trong tiêu chuẩn ngành kỹ thuật có
liên quan, nên không được nêu trong chuyên đề này.
Về những kiểm tra tiến hành trên nền đất yếu trong và sau khi thi công xong,
chuyên đề này sẽ cho các chỉ dẫn về các mục phải theo dõi, các thiết bị đo, lắp đặt
các thiết bị, phân tích các kết quả từ kết quả đo,…
9.2 Các nội dung quan trắc đê biển
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-4
Chất lượng đo phụ thuộc nhiều vào chất lượng của các thiết bị đo và chất
lượng của việc lắp đặt các thiết bị đó. Việc lắp đặt các thiết bị đo yêu cầu phải có
kinh nghiệm và phải thực hiện phù hợp quy trình.
9.2.1 Đo độ lún
Các độ lún được đánh giá so với một điểm cố định nằm ngoài khu vực
đất
yếu, hoặc trên một mốc cố định hiện hữu (ví dụ công trình trên cọc) hoặc cọc mốc
để đo lún (cọc nhỏ neo trong đá gốc) - Có thể sử dụng các kỹ thuật đo khác nhau:
- Đo đạc các chuyển vị của các thước đo đặt ở bề mặt nền đắp hoặc trên mặt
đất thiên nhiên hoặc các chần đo cố định với các bàn đo lún
đặt ở dưới nền
đắp.
- Các thiết bị đo lún thủy lực, hơi ép hoặc điện đặt trên mặt đất thiên nhiên,
trong nền đắp hoặc trong đất yếu.
- Thiết bị đo lún nhiều điểm đo bằng từ hoặc điện, đo độ lún của các mốc bố
trí trên trục thẳng đứng.
- Thiết bị đo lún liên t
ục cho phép theo dõi độ lún của mặt đất thiên nhiên.
Các ưu điểm và tồn tại của các thiết bị đo khác nhau được tóm tắt trong Bảng
9-1
Thước đo (các mốc
ở sâu)
Đọc trực tiếp
Phải kết hợp với đo cao - Bố trí
phức tạp (phải neo vào đất) khó
bảo vệ khi thi công
Thiết bị đo lún sử
dụng một lần chôn
trong đất
Như thiết bị đo lún
bề mặt
Như thiết bị đo lún bề mặt
Thiết bị đo lún nhiều
điểm
Đọc trực tiếp Khó đặt - khó bảo vệ khi thi công
Bảng 9-1: Danh mục các thiết bị sử dụng trong quan trắc đê biển
9.2.2 Đo chuyển vị ngang
Các chuyển vị ngang của đất có thể đo bằng thiết bị đo độ giãn
(extensometre) hoặc các cọc mốc địa hình và bằng thiết bị đo độ nghiêng (Bảng
9-2). Thường đo bằng thiết bị đo độ nghiêng trong các ống cắm vào trong đất yếu
và ăn sâu vào lớp đất c
ứng nhiều mét. Việc chọn loại vữa chèn là rất quan trọng và
phải cẩn thận khi bố trí. Nếu bảo đảm tất cả các điều kiện trên thì sai số của việc đo
chuyển vị ngang không quá 1cm/10m.
Loại thiết bị đo Ưu điểm Nhược điểm
Chuyển vị ở bề mặt
thiết bị đo độ giãn
Chính xác. Bố trí
đơn giản
Đọc chậm, nhạy cảm với nhiệt độ
Áp kế hơi
Đọc trực tiếp không bị
lệch
Có thể bị rò rỉ - có nguy cơ rỉ đầu
đo
Áp kế điện
Đọc nhanh, dễ tự động
hóa
Đo gián tiếp, phải cho về không,
nhạy cảm với nhiệt
Bảng 9-3: Các thiết bị đo áp lực nước lỗ rỗng
Để phân tích sự tiến triển của độ cố kết của đất, ta nghiên cứu hiệu số giữa áp
lực đo được và áp lực cân bằng khi chưa đắp nền đường. Để theo dõi sự tiến triển
của áp lực tự nhiên của nước trong đất, cần đặt một áp kế ở ngoài khu vực ảnh
hưở
ng của nền đắp, ngoài các áp kế đã đặt ở dưới nền đắp.
Ngoài ra còn một số nội dung đo thông dụng được dùng trong quan trắc như
sau: Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công Trung tâm Thủy công – Viện KHTL
Đề
t
ài: N
g
hiên cứu
g
iải pháp để đắp đê bằn
g
đường kính khoảng 1m; Cắm sâu vào đá gốc, trên đỉnh có
giá đỡ bằng thép hình để treo quả lắc (quả dọi).
Quả lắc thuận là chân cố định vào nền, trên đỉnh tự do dịch
chuyển; Qủa lắc đảo ngược lại: cố định trên đỉnh và tư do
di chuyển dưới đáy. Căn cứ vào s
ự dịch chuyển so với
hướng thẳng đứng ban đầu, cho biết độ chuyển vị ngang,
nghiêng, lệch.
Thiết bị đo được chôn nghiêng, khi đo ta thả thiết bị vào sẽ
cho ta biết trị số dịch chuyển ngang, nghiêng.
Thiết bị đo là hệ thống ống đổ đầy chất lỏng; Thiết bị bộ
thu cấu tạo như một áp kế.
Giống như trên nh
ưng trong ống thay chất lỏng bằng khí
nén.
Gồm một thanh kim loại được kéo căng, một ống thổi v
à
một cuộn dây điện từ. Khi bị kích, thanh kim loại rung tạo
nên một tín hiệu tần số truyền qua một cáp tín hiệu đế
n
thiết bị thu.
Cấu tạo như trên
Thiết bị đo
1. Mốc quan trắc lún mặ
t
b
ằn
g bê tông c
ốtthép(Mốc
(Inclinometer).
1. Áp lực kiểu thủy lực
(Hydraulic piezometer).
2. Áp lực kế kiểu khí né
n
(Pneumatic piezometer).
3. Áp lực kế kiểu dây rung
(Vs piezometer).
4. Áp lực kế kiểu dây rung
(Carlson pore pressure).
Nội dung
quan trắc
Quan trắc lún
mặt
Quan trắc lún
sâu Quan trắc
chuyển vị
ngang
Quan trắc áp
lực lỗ rỗng
c. Các thiết bị quan trắc
c.1. Máy đo trắc đạc
Máy đo trắc đạc đo thăng bằng các mốc đặt trên và trong công trình, để xác
định cao trình của các mốc này bằng cách so sánh với cao độ các mốc gốc
- Mố
c gốc
Là những mốc có cao trình cố định và nằm trong mạng lưới địa hình chung
của toàn vùng và cao độ của nó lấy so với mặt chuẩn là mặt biển. Mốc gốc dùng để
đo biến dạng của đê thường chia làm hai loại:
- Mốc cơ bản
Thường xây dựng trước thời gian khởi công xây dựng công trình, đặt ở nơi
cách xa hố móng và trong suốt thời gian xây dựng và khai thác không ảnh hưởng
đế
n nó. Với mục đích làm cho cao độ của mốc ít thay đổi, mốc cơ bản cần đặt trên
đất tốt, đã cố kết hoàn toàn và tốt nhất đặt trên nền đá, ở những nơi không bị ngập
nước, không bị sụt lở và không có hiện tượng Karst.
- Mốc phụ
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-9
Vì mốc cơ bản không thể để trực tiếp ở gần công trình, nên phải có mốc phụ ở
vị trí trung gian giữa các mốc cơ bản với các mốc đo đạc. Cao độ của mốc phụ xác
định bằng cách đo thăng bằng hai lần với độ chính xác cấp II từ các mốc cơ bản.
Mốc phụ thường đặt gần công trình và trong một số trường hợp đặ
t ngay trên một
bộ phận của công trình, cho nên cao trình của nó sẽ thay đổi theo thời gian. Vì vậy,
cao trình của mốc phụ cần phải xác định thường xuyên theo chu kỳ (2÷3lần/năm).
Không nên đặt các mốc phụ ở vùng có khả năng biến dạng mặt đất, ở gần vùng
đang nổ mìn, nơi bị ngập lụt và có nước mạch thấm ra trên mặt đất.
c.2. Các mốc gắn với công trình bao gồm m
mái dốc thượng lưu chỉ đặt mốc mặt trong những trường hợp đặc biệt như mực
nước thượng lưu thay đổi nhiều hoặc vật liệu đắp không đồng chất theo chiều dài
đê. Trong trường hợp này cần đặt một mốc nằm trên mực nước triều thiết kế và một
mốc nằm cao hơ
n mực nước triều min 1÷2m.
Mốc sâu trong thân đê đặt trên những đường thẳng nằm ngang chừng 2÷7mốc
và phụ thuộc chiều cao đê. Các đường nằm ngang này cách nhau 20÷30m.
c.3. Đo bằng các thiết bị Settlement
Các thiết bị này đặt trong thân đê, tại các vị trí cần đo mà mỗi sự biến dạng
nhỏ sẽ được biết thông qua các thiết bị đọc với độ chính xác cao.
-
Ống đo độ lún nằm ngang
Trong một số trường hợp đặc biệt, ống đo độ lún nằm ngang được lắp vào mặt
cắt ngang của đê (Xem Hình 9-1). Một bộ cảm biến áp suất chất lỏng được kéo vào
trong ống đã được đổ đầy nước theo những thời đoạn xác định. Sai khác về áp lực
nước đo được sẽ dùng để tính toán độ lún tại b
ất cứ điểm nào dọc theo ống. Thiết bị
này có ưu điểm là đo được độ lún tại tất cả các điểm trên một mặt cắt ngang xác
định trong một khoảng thời gian dài.
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-11
Hình 9-1: Nguyên lý đo sử dụng ống đo lún nằm ngang
- Đo bằng neo xoắn
Neo xoắn (xem Hình 9-2) có cấu tạo gồm một lưỡi xoắn có một đầu kéo dài
lên mặt đất. Độ lún của lớp đất chứa neo xoắn chính là độ lún phần đỉnh trên cùng
trên mặt đất của neo, kể cả khi độ lún của đất nền lớn hơn. Đỉnh trên được kiểm tra
định kỳ bằng ống b
ọt khí. Độ lún ghi nhận của neo xoắn sẽ cho biết lực kéo xuống
tháo ra qua ống xả. Áp suất không khí trong ống cấp bằng chính áp suất thủy tĩnh
trong ống làm chuẩn. Giá trị được đo lại trên mặt đất bằng một áp kế.
Hình 9-4: Nguyên lý đo sử dụng giếng đo lún bằng khí
9.3.2 Thiết bị đo chuyển vị ngang
a. Ý nghĩa
Đê có thể chuyển vị ngang do tác dụng của áp lực nước phía mái dốc thượng
lưu trong thời gian khai thác. Từ những kết quả đo chuyển vị ngang mà có thể đánh
giá phương pháp tính toán trong thiết kế, chất lượng thi công, đồng thời qua đó có
thể đề ra biện pháp tu bổ
, sửa chữa một cách đúng đắn.
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-14
b. Nhiệm vụ
Chuyển vị ngang thường xuất hiện đối với các đê cao bởi vì trường hợp này
áp lực nước có trị số rất lớn. Nên cần đo chuyển vị ngang của toàn bộ hoặc một
phần đê theo thời gian.
c. Các phương pháp đo
c.1. Phương pháp đo tuyến bằng ống ngắm
Bằng phương pháp đo tuyến ống ngắ
m là trên mặt đê hoặc mái dốc, nơi có thể
dễ dàng xảy ra chuyển vị ngang, người ta đặt những mốc ngầm. Những mốc này
được đặt trên những tuyến thẳng cùng với những mốc cố định ở hai bên bờ. Độ
chuyển vị ngang chính là độ sai lệch giữa các mốc ngắm với các mốc cố định trên
tuyến ngắm. Phương pháp này đơn giản và cho phép xác định độ chuyể
n vị ngang
một cách nhanh chóng mà không cần phải qua những phép tính phụ. Để xác định
chính xác độ chuyển vị ngang cần phải có những loại ống ngắm chuyên môn.
c.2. Phương pháp tam giác đạc
đặt, các thiết bị này được tích hợp luôn vào công trình. Để chống ống đo bị lật, một
rãnh dẫn hướng được làm trong ống. Ống có thể được treo lên
để chống bị xoắn. Do
chuyển vị ngang sẽ được hiện thị trên một đĩa đặt thẳng đứng, độ nghiêng của thiết
bị đo phải chính xác phải khớp với các giá trị được đo ban đầu theo hai hướng trực
giao nhau. Đáy ống phải được đặt vào trong lớp đất chặt để làm mốc. Tuy nhiên,
điểm đầu của ống cũng có thể dùng làm mốc nếu
được đặt trên một mặt nằm ngang
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-16
sử dụng đo quang học. Độ chính xác của thiết bị đo này khá cao, có thể nhận biết
chuyển vị khoảng vài centimet nếu đặt ở sâu 15m. Hình 9-6: Ống đo độ nghiêng điện tử
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-17
9.3.3 Thiết bị đo áp lực nước lỗ rỗng
a. Ý nghĩa
Đối với thân đê có hệ số thấm bé và độ ngậm nước cao thì áp lực lỗ rỗng sẽ
xuất hiện trong quá trình xây dựng cũng như khai thác. Áp lực lỗ rỗng có trị số lớn
nhất thường vào cuối thời kỳ xây dựng và giảm dần theo thời gian. Áp lực lỗ rỗng
ảnh h
ưởng lớn đến độ ổn định của đê cho nên không phải chỉ tính toán nó trong
thiết kế mà cần đo đạc trong thời gian khai thác để biết sự diễn biến của nó mà đánh
giá độ ổn định của đê.
b. Nhiệm vụ
này chịu tác dụng của áp lực lỗ rỗng.
- Thiết bị ∏TH-3:
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-18
Thiết bị này dùng để đo áp lực lỗ rỗng trong đất chưa bị phá hoại kết cấu (đất
nguyên dạng). Dụng cụ này gồm một hộp bằng kim loại đặt trong nó một áp kế đất.
Độ cứng của mặt hộp phải đủ chống được áp lực đất tác dụng bên ngoài. Hộp được
nối với một kim bằng kim loại hình ống có chiều dài 1÷1,5m và đườ
ng kính trong
0,2mm. Đoạn đầu của ống kim này có cấu tạo sao cho có thể chuyển được áp lực
bên ngoài vào trong lòng kim ống và trong lòng kim đổ đầy vadơlin. Kim ống nối
chặt với hộp đo áp liên thông với lòng hộp bằng những lỗ khoan nhỏ và trong hộp
cũng chứa đầy vadơlin. Như vậy nếu có áp lực tác động bên ngoài kim ống thì áp
lực này chuyển vào trong vadơlin và chuyển tiếp vào trong hộp, tác dụng lên mặt áp
kế
đất. Kim của áp kế sẽ chỉ chỉ số áp lực tác dụng. Khi cần đo áp lực lỗ rỗng trong
đất nguyên dạng ở một độ sâu nào đó thì cần khoan với hố khoan có đường kính
150÷200mm. Giếng khoan chỉ cần khoan đến cao trình cách điểm đo một khoảng
bằng chiều dài kim ống. Sau đó dùng cần khoan đưa kim xuống đất sao cho đầu lỗ
kim ống đạt cao trình định đo. Dùng dây nối áp k
ế với các bảng được đặt trong các
hành lang hoặc trên mái dốc hạ lưu để theo dõi áp lực kẽ rỗng tại điểm đã định.
- Thiết bị đo Total Pressure Cell
Dụng cụ để đo áp lực lỗ rỗng bố trí trong thân đê trên những mặt cắt nằm
ngang của đê gọi là tuyến đo và tuyến đo này nên bố trí cùng với tuyến đo áp lực
khi xác định đường bão hòa. Trong m
ột tuyến đo, dụng cụ đo được đặt trên những
đường nằm ngang và các đường này cách nhau 20÷30m theo chiều cao. Mỗi một
đường ngang đặt 3÷7 dụng cụ đo, phụ thuộc chiều rộng của đê. Dụng cụ đo được
Ở trên đỉnh đê ngoài phạm vi đường giao thông (đối với những đê kết hợp
đường giao thông), cần bố trí từ 1÷2 mốc; Với đê không kết hợp đường giao thông
bề rộng mặt đê nhỏ thì bố trí một mốc.
Trên mái hạ lưu đê nên bố trí các mốc mặt trên các cơ đê (nếu có), khi không
có cơ
thì bố trí trực tiếp lên mái. Vị trí các mốc lấy tùy theo chiều cao đê, do chiều
cao đê không quá cao nên thường bố trí một điểm đo ở đỉnh đê.
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-20
Trên mái thượng lưu đê, hệ thống mốc mặt chỉ đặt đối với đê cấp I, II có chế
độ làm việc đặt biệt như mực nước giao động lớn thì bố trí một mốc ở trên mực
nước triều thiết kế và một mốc đặt cao hơn mực nước triều min từ 1÷2m.
d. Tuyến quan trắc lún sâu
Được qui định như ở mụ
c b, nên bố trí trùng với tuyến quan trắc lún mặt. Các
mốc đo lún sâu đặt trên cùng một cao độ trong mặt cắt ngang của đê gọi là tuyến đo
ngang. Đối với tuyến đo ngang: đê đồng chất thì bố trí một tuyến ở đỉnh đê, một
tuyến ở chân đê, với đê không đồng chất thì cứ mỗi loại đất bố trí một tuyến đo sâu.
9.4.2 Bố trí thi
ết bị quan trắc chuyển vị ngang
a. Yêu cầu
Việc bố trí quan trắc chuyển vị ngang đối với đê biển qui định như sau: Cách
nhau 100÷150m bố trí một tuyến quan trắc chuyển vị ngang.
Số lượng tuyến quan trắc tuyến quan trắc chuyển vị ngang phục thuộc vào
chiều dài đê, vị trí tuyến quan trắc chuyển vị ngang nên thiết kế trùng với tuyến
quan trắc lún. Đ
iểm quan trắc có thể bố trí ở mép thượng lưu đê hoặc tại giao điểm
của mực nước triều thiết kế với mái đê thượng lưu.
Với đê đồng chất thì bố trí một điểm quan trắc chuyển vị ngang ở trên đỉnh,
dụng
hành lang khoan phụt, nếu không có hành lang khoan phụt thì bố trí một buồng đặc
biệt ở chân đê hạ lưu nơi không ngập nước.
9.5 Bố trí thiết bị quan trắc trong khi xây dựng
9.5.1 Mục tiêu - nhiệm vụ của đo đạc trong xây dựng
a. Mục tiêu - nhiệm vụ
Giám sát, theo dõi công trình vận hành an toàn. Kịp thời phát hiện những bất
thường trong quá trình làm việc của công trình để có giải pháp ngă
n ngừa, khắc
phục thích hợp.
Chuyên đề 32: Quan trắc thi công đê biển trong thời gian thi công và sau thi công
Đề tài: Nghiên cứu giải pháp để đắp đê bằng vật liệu đại phương và đắp trên nền đất yếu từ QN-QN
9-22
Kiểm tra thể tích vật liệu đắp bằng việc đo độ lún bề mặt của mặt đất thiên
nhiên dưới nền đắp. Đánh giá các kết quả nghiên cứu địa kỹ thuật và tính toán thiết
kế và rút ra các thông tin cần thiết để chỉ đạo thi công.
Mục đích của quan trắc là nhằm dự báo tình hình của công trình được cải
tạo/xây mới tác động của nó lên những công trình xung quanh, lên môi trường
không khí, địa ch
ất thủy văn trong thời gian xây dựng và thời gian sử dụng để đánh
giá sự biến đổi trạng thái của nó, phát hiện kịp thời các khiếm khuyết, ngăn ngừa và
khắc phục các diễn biến xấu cũng như đánh giá sự đúng đắn của các kết quả dự báo,
các phương pháp đã dùng trong tính toán và thiết kế.
Nhiệm vụ của quan trắc là để đảm bảo sự
tin cậy của hệ “công trình nền” được
cải tạo/xây mới cũng như của công trình xung quanh, không cho phép những biến
đổi bất lợi của môi trường, thảo ra những giải pháp kỹ thuật để ngăn ngừa và khắc
phục những sai lệch vượt quá dự kiến trong thiết kế cũng như nhằm để kiểm tra
những giải pháp đã thực hiện.
Trong quá trình quan trắc cần xem xét tất c
Hình 9-7: Sơ đồ công nghệ quan trắc
b. Kiểm nghiệm tính chính xác của thiết kế
- Lý thuyết tính toán có phù hợp với thực tế.
Giai đo
ạ
n thiết kế
Xác định yêu cầu sử dụng. Định
các yêu cầu về tiêu chuẩn sử dụng
Dự báo bằng tính toán
biến dạng và nội lực
Lập hệ thống quan trắc
Lắp đặt hệ thống quan trắc
So sánh các dự báo và đo
Đánh giá các tiêu chuẩn về yêu cầu
sử dụng trên cơ sở dự báo và đo đạc
Kiểm tra sự thỏa mãn các yêu
cầu sử dụng sau khi quan trắc
Chính xác hóa dự báo
biến dạng + nội lực
Điều chỉnh các
yêu cầu sử dụng
đắp đất trong các khu vực rộng thì có thể mở rộng cách bố trí giống như dưới tim
nền đắp ở Hình 9-8.
Các thiết bị
đo thường sử dụng dưới nền đắp là:
- Các cọc và mốc đo đạc bề mặt.
- Các thiết bị đo lún bề mặt hoặc đo lún sâu.
- Các thiết bị đo lún nhiều điểm (đo lún ở nhiều điểm trên cùng một trục thẳng
đứng).
- Các ống đo độ nghiêng, trong đó có đầu đo độ nghiêng.