1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KỸ THUẬT HÓA HỌC TIỂU LUẬN MÔN CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
CÔNG CỤ
Đề Tài: “Các phương pháp phân tích acid
amin trong thực phẩm”
HVTH: Mang Tấn Phong
GVHD: TS. Huỳnh Khánh Duy
TP. HỒ CHÍ MINH – 12/201
2
3
1. Giới thiệu về acid amin
1.1.Thành phần và cấu tạo của amino acid
Amino acid là đơn vị cấu tạo protein. Amino acid là chất hữu cơ, phân tử có chứa nhóm:
carboxyl (-COOH) và nhóm amino (-NH
2
) gắn với carbon ở vị trí .
Hầu hết amino acid thu nhận được khi thủy phân protein đều ở dạng L--amino acid. Như
vậy các protein chỉ khác nhau ở mạch nhánh, hay còn gọi là chuỗi bên (thường được ký hiệu: R).
Dựa vào tính chất của gốc R các amino acid được chia làm 5 nhóm:
Nhóm 1: gồm 7 amino acid có R không phân cực, kỵ nước: glycine, alanine, proline,
valine, leucine, isoleucine và methionine.
Nhóm 2: gồm 3 amino acid có gốc R chứa nhân thơm: phenylalanine, tyrosine tryptophan.
4
Nhóm 3: gồm 5 amino acid có gốc R phân cực, không tích điện: serine, threonine, cystein,
aspargine và glutamine.
Ala
A
89
Proline
-pỉolidincarboxylic
Pro
P
115
Valine
-aminoisovaleric
Val
V
117
Leucine
-aminoisocaproic
Leu
L
131
Isoleucine
-amino--metylvaleric
Ile
I
131
Methionine
-amino--metyltiobutiric
Met
M
149
Phenylalanine
-amino--phenylpropionic
Asn
B
132
Glutamine
Amid của glutamate
Gln
Q
146
Lysine
,-diaminocaproic
Lys
K
146
Hystidine
-amino--imidazolpropionic
His
H
155
Arginine
-amino-guanidinvaleric
Ảg
R
174
Aspartate
-aminosucinic
Asp
D
133
Glutamate
-aminoglutarate
cực sang phải hoặc sang trái. Quay phải được k. hiệu bằng dấu (+), quay trái được k. hiệu bằng
dấu (-). Góc quay đặc hiệu của amino acid phụ thuộc vào pH của môi trường.
Tuỳ theo sự sắp xếp trong cấu trúc phân tử của các nhóm liên kết với carbon bất đối mà
các amino acid có cấu trúc dạng D hay L, gọi là đồng phân lập thể. Số đồng phân lập thể được
tính theo 2
n
(n là số carbon bất đối).
Hình 1.1: Đồng phân lập thể của alanine
Hầu hết các amino acid khác hấp thụ tia cực tím ở bước sóng (λ) khoảng từ 220 - 280 nm.
Đặc biệt cùng nồng độ 10
-3
M, trong bước sóng khoảng 280 nm tryptophan hấp thụ ánh sáng cực
tím mạnh nhất, gấp 4 lần khả năng hấp thụ của tyrosine và phenylalanine là yếu nhất. Phần lớn
các protein đều chứa tyrosine nên người ta sử dụng tính chất này để định lượng protein.
+
)
thể hiện tính acid, mặt khác có nhóm amin -NH2 nên có khả năng nhận proton nên thể hiện tính
base. Vì vậy amino acid có tính chất lưỡng tính.
Trong môi trường acid, amino acid ở dạng cation (tích điện dương), nếu tăng dần pH
amino acid lần lượt nhường proton thứ nhất chuyển qua dạng lưỡng cực (trung hoà về điện), và
tiếp tục tăng pH amino acid sẽ nhường proton thứ hai chuyển thành dạng anion (tích điện âm). V.
vậy đôi khi người ta coi nó như một di-acid.
Tương ứng với độ phân ly H
+
của các nhóm COOH và NH3
+
có các trị số pK
1
và pK
2
. Từ
đó người ta xác định được pI = (pK
1
+ pK
2
)/2.
Ví dụ: khi hoà tan glycine vào môi trường acid mạnh thì hầu như glycine đều ở dạng cation.
Nếu tăng dần lượng kiềm, thu được đường cong chuẩn độ. Trên đường cong chuẩn độ thấy rằng:
glycine lần lượt nhường 2 proton trước tiên chuyển sang dang lưỡng tính và sau cùng chuyển
thành dạng anion.
8
2. Thu nhận amino acid
2.1.3. Chuẩn bị hộp mẫu ProSorb
Đảm bảo rằng mẫu đựng trong dung dịch 0.1 % trifluoroacetic acid (TFA) để đạt kết quả tốt
nhất. Acetonitrile (CAN) với nồng độ hơn 15 % cản trở mẫu dính vào PFVD, vì vậy những
phần của HPLC nên pha loãng với nước cất hoặc 0.1 % TFA để giảm nồng độ của ACN
xuống nhỏ hơn 15 %). Nếu thể tích ít hơn 100 µL, pha loãng mẫu thành 100 µL với 0.1 %
TFA. Nếu mẫu có chất tẩy, pha loãng để nồng độ chất tẩy thấp hơn giá trị trong bảng 1 vì
chất tẩy có thể ảnh hưởng sâu sắc đến sự kết dính protein vào màng PVFD. Bảng 1 tóm tắt
nồng độ của chất tẩy có thể chứa trong mẫu trước khi kết dính vào màng. Ngoài ra, nếu mẫu
9
chứa lượng chất tẩy lớn hơn lương tối đa trong bảng 2.1, có thể them một lượng nhỏ
methanol vào mẫu trước khi cho mẫu vào hộp mẫu ProSorb).
Bảng 2.1: Hàm lượng chất tẩy tối đa
Chất tẩy
Nồng độ tối đa (V/V hoặc W/V)
Triton X-100
0.01
Tween-20
0.01
SDS
0.02
Octyl glucoside
0.25
Brij 35
0.02
Đặt thiết bị ProSorb vào một giá ống nghiệm thích hợp.
Làm ướt màng PVDF trong hồ nhỏ với 10 µL methanol (hộp mẫu ProSorb nên được chuẩn bị
kỹ như chỉ dẫn của nhà sản xuất, dùng nước MiliQ cho mọi bước làm sạch để giảm lượng
acid amin còn sót lại).
Để thu nhận chế phẩm acid amin, ngày nay việc thủy phân bằng enzyme được ứng dụng
rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau do việc sử dụng enzyme có nhiều ưu điểm.
Các enzyme thủy phân protein thành các acid amin hay các peptide có phân tử lượng thấp được
gọi chung là peptidhydrogenlase. Có nhiều loại peptidhydrogenlase, chúng được phân biệt nhờ
đặc hiệu khác nhau với liên kết peptide. Một số loại cắt đứt liên kết peptide ở đầu tận cùng của
chuỗi polypeptide được gọi là exopeptidase như carboxypeptidase phân giải liên kết peptide đầu
C tận cùng, aminopeptidase phân giải liên kết peptide đầu N tận cùng. Một số khác chỉ cắt đứt ở
giữa chuỗi polypeptide được gọi là các endopeptidase như pepsin, tripsin…
3. Các phương pháp phân tích amino acid trong thực phẩm
Đã từ lâu việc phân tích định tính và định lượng amino acid thường là sự kết hợp của nhiều
phương pháp hoá lí và sắc ký. Có thể dựa vào phổ hấp phụ các amino acid không giống nhau để
phân tích. Hoặc dựa vào cấu trúc của amino acid tự do sau khi chuỗi polypeptide đã bị thuỷ phân,
có thể định lượng amino acid đầu N tận cùng bằng phản ứng Sanger hoặc Edman. Cũng như vậy,
có thể xác định amino acid đầu C tận cùng nhờ phản ứng khử nhóm carboxyl với tác nhân khử
NaBH, hoặc sử dụng enzyme carboxypepitdase…
3.1.Sắc ký giấy
Trong đó: - a là khoảng cách chuyển dịch của chất phân tích
- b là khoảng cách chuyển dịch của dung môi
11
Nguyên tắc: dựa vào sự phân bố giữa hai pha dung môi: dung môi cố định và dung
môi di động. Dung môi cố định thường là nước giữ ở giấy sắc ký (trong điều kiện bão hoà hơi
nước, giấy có thể giữ 15-22% nước tính theo trọng lượng giấy). Dung môi di động thường là
một dung môi hữu cơ bão hoà nước di chuyển trên tờ giấy theo mao dẫn kéo theo các chất
Ngoài ra người ta còn phân biệt: sắc ký một chiều khi cho dung môi chuyển dịch theo một
hướng nhất định. Sắc ký hai chiều khi cho dung môi chuyển dịch theo một chiều nào đó, sau đó
sấy khô và cho dung môi chảy theo một chiều khác vuông góc với chiều ban đầu.
Phương pháp sắc ký giấy một chiều (có thể thuận hoặc nghịch) là phương pháp đơn giản
nhất, chỉ dùng một hệ dung môi nào đó, khả năng phân tích kém hơn sắc ký hai chiều.
12
Trong sắc ký thuận, hệ số vận tốc chuyển dịch Rf lớn, nhưng các vết màu thu được không
gọn, còn trong sắc ký nghịch đại lượng Rf nhỏ hơn, nhưng vết màu lại gọn hơn.
Để định lượng các acid amin người ta thường sử dụng các phương pháp sau:
So sánh bằng mắt thường cường độ màu và diện tích các vết màu của hợp chất đã cho
với cường độ màu và diện tích các vết màu của hỗn hợp đối chứng đã biết rõ nồng độ.
Đo chiết suất của dịch chiết chất màu từ sắc ký đồ bằng một dung môi thích hợp. Sai số
của phương pháp này khoảng 3÷6%.
Dùng densitomet đo mật độ màu của các vết trong khi cho ánh sáng xuyên qua. Độ
chính xác của phép đo tăng lên đến 10÷15%.
3.2.Sắc ký bản mỏng
Nguyên tắc: dựa trên sự phân bố các chất giữa hai pha: chất hấp phụ được tráng rộng trên
một phiến kính tạo thành một lớp mỏng và pha di động là dung môi thích hợp. Dung môi di
chuyển làm dịch chuyển các chất trong mẫu thử.
Các chất hấp phụ thường dùng: silicagel, alumin oxit, sephadex,… được kết hợp với
thạch cao để dán vào phiến kính. 3.3.Sắc ký khí
Nguyên tắc: dựa vào tính chất khó bay hơi của các amino acid nên có thể sử dụng nhiệt
để chuyển chúng thành các dẫn xuất (thường là N-acetyl-amin). Cho tác dụng amino acid với
cồn amylic và HBr khan, sau đó cho tác dụng hỗn hợp này với anhydric acetic.
Cột thường dung là loại Chromosorb W (60-80 mesh) có một lớp polyetylenglycol 1%
(carbowax 1564 hoặc 6000). Thông số nhiệt độ: 125
Ứng dụng: xác định một hoặc một vài amino acid trong hỗn hợp có nhiều loại amino acid khác
nhau, hay một amino acid cần được xác định trong nhiều mẫu của một loại thí nghiệm.
3.7.Phương pháp enzyme
Có thể các định amino acid bằng phương pháp enzyme dựa trên nguyên tắc mỗi một loại
enzyme có khả năng phân giải đặc hiệu một loại L-amino acid nhất định. Xác định sản phẩm tạo
thành sau phản ứng với enzyme tương ứng có thể biết được amino acid trong hỗn hợp.
3.8.Phương pháp vi sinh vật
Một số vi khuẩn sinh trưởng trong một điều kiện thích hợp, chúng rất nhạy cảm với pH để
sản xuất ra các enzyme L-amino acid decarboxylase đặc hiệu với từng loại amino acid và hoạt
động của chúng giải phóng CO
2
trong môi trường. Xác định nồng độ CO
2
bằng áp kế Warburg
để suy ra thành phần của amino acid.
Phần lớn trường hợp điều kiện pH thích hợp thường nằm trong vùng acid.
Ví dụ: Ở pH 4.5 tạo ra L-glutamate 1-carboxylyase (glutamate decarboxylase _ EC 4.1.1.15), EC
4.1.1.15 xúc tác chuyển hóa L-glutamic → 4- aminobutanoate (-aminobutyrate) + CO
2
.
Ở pH 5.5 tạo ra L-tyrosine carboxylyase (EC 4.1.1.25), EC 4.1.1.25 xúc tác chuyển hóa
L-tyrosine →Tyramine + CO
2
.
4. Một vài phương pháp cụ thể
4.1.Phân tích acid amin bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp sau phản ứng tạo dẫn xuất
với 1-fluoro-2,4-dinitrophenyl-5-L-alanine amide (thuốc thử Marfey)
4.1.1. Giới thiệu
Hình 4.1: Thuốc thử Marfey (I) và L,L-dẫn xuất từ L-acid amin và thuốc thử (II)
4.1.2. Nguyên liệu và thiết bị
Thủy phân protein
Ống nghiệm bằng thủy tinh chịu nhiệt kích thước 25-50 x 5 mm
Ống nghiệm thủy tinh có nắp khoen siết chặt
Dung dịch HCl 6N
Phản ứng thu nhận dẫn xuất
dd acid amin chuẩn
Bộ kit thử L-acid amin chuẩn LAA21
16
Thuốc thử Marfey. Lưu ý: thuốc thử Marfey là dẫn xuất của 1-fluoro-2,4-
trinitrobenzene, chất nghi ngờ là có khả năng gây ung thư nên cần thận trọng khi sử dụng.
HPLC grade triethylamine, methanol, acetone và dimethyl sulfoxide (DMSO)
Phân tích sắc ký
Hệ thống vận chuyển dung môi: bất kỳ thiết bị phân tích bằng sắc ký lỏng cao áp
nào cũng có thể sử dụng để thu nhận dẫn xuất của acid amin.
Cột sắc ký: cột silicat C
8
chuyển đổi pha, ví dụ như: LiChrospher 100 RP 8 (250 x
4.6 mm; 5 μm from Macherey-Nagel), Aquapore RP 300 (220 x 4.6 mm; 7 μm
Thêm 50 μL hỗn hợp theo tỉ lệ triethylamine : methanol : nước = 1 : 1 : 2 vào lọ
đã làm khô rồi trộn vortex thật đều, sau đó đem làm khô.
Chuẩn bị dung dịch thuốc thử cho phản ứng tạo dẫn xuất (18.4mM) bằng cách
cho 5 mg thuốc thử Marfey vào 1 mL dung dịch acetone.
17
Cho hỗn hợp acid amin đã làm khô hoặc mẫu protein đã thủy phân vào 100 μL
triethylamine 25% v/v, rồi thêm vào 100 μL dung dịch thuốc thử Marfey và trộn vortex
thật đều.
Ủ lọ thủy tinh đó ở 40
o
C trong 60 phút trong điều kiện khuấy trộn nhẹ và tránh
ánh sáng để phản ứng tạo dẫn xuất xảy ra.
Sau khi ủ, thêm vào hỗn hợp 20 μL dung dịch HCl 2N. Khi này phản ứng kết thúc.
Làm khô hỗn hợp dưới áp suất nhỏ.
Bảo quản hỗn hợp ở -20
o
C trong bóng tối cho đến khi sử dụng.
Thêm vào mẫu đã làm khô 1mL dung dịch dimethyl sulfoxide (DMSO) 50% v/v.
Phân tích sắc ký
Thêm dung môi A và dung môi B vào hệ thống phân tích sắc ký lỏng cao áp theo
hướng dẫn của nhà sản xuất.
Cân bằng cột chạy sắc ký và đầu dò với 90% dung môi A và 10% dung môi B.
Đem mẫu đi phân tích ở nhiệt độ phòng; nếu cần có thể pha loãng với dung môi A
bằng cách thêm vào cột 20 μL (50-1000 pmol).
Rửa giải cột với hàm lượng dung môi A và B như bảng 2. Việc phân tích dẫn xuất
2,4-dinitrophenyl-5-L-alanine amide của 18 L-acid amin thường gặp và acid cysteic thu
được kết quả trong 120 phút (hình 4).
Bảng 4.1: Chương trình HPLC cho sự phân giải dẫn xuất acid amin với thuốc thử
Hình 4.2: Sự tách dẫn xuất 2,4-dinitrophenyl-5-L-alanine amid của L-acid amin bằng
phương pháp HPLC. Thuốc thử Marfey tạo dẫn xuất từ lượng 20 μL hỗn hợp acid amin
chuẩn. Thiết bị: cột LiChrospher 100 RP 8 (250 x 4.6 mm; 5 μm from Macherey-Nagel); mẫu
chứa 100 pmol dẫn xuất của 18 L-acid amin; dung môi A chứa 13mM acid trifluoroacetic
cùng tetrahydrofuran 4% v/v trong nước; dung môi B chứa acetonitrile 50% v/v trong dung
môi A; tốc độ chảy 1mL/phút; đầu dò bước sóng 340 nm; cột rửa giải với lượng dung môi B
trong dung môi A phù hợp. Dẫn xuất acid amin được biểu thị bằng những chữ cái, ví dụ acid
cysteic được ký hiệu là CYA, còn cysteine là Cs. FFDA đặc trưng cho đỉnh của thuốc thử;
đỉnh không có ký hiệu tượng trưng cho thuốc thử phụ có liên quan, như được chỉ trong quá
trình chạy sắc phổ riêng lẻ trong thuốc thử riêng.
4.1.4 Chú ý
Để phân tích acid amin khi acid này đóng vai trò là cơ chất hay sản phẩm trong
phản ứng enzyme, việc tách protein từ acid nucleic là cần thiết. Thêm dung dịch acid
perchloric 4M vào dịch cô đặc cuối cùng nồng độ 1M và ủ trên đá trong ít nhất 15 phút.
Khi thêm cùng một thể tích dung dịch KOH 2M ở trạng thái lạnh, acid perchloric chuyển
thành muối KClO
4
. Sau khi ly tâm 15 phút ở 4
arginine và glycine. Lysine và tyrosine được tách riêng như những dẫn xuất không thể
thay thế.
4.2.Xác định hàm lượng acid amin trong thực phẩm bằng phương pháp đảo pha trong
phân tích sắc kí với chất dẫn xuất mới butylthiocarbamyl và benzylthiocarbamyl
4.2.1. Giới thiệu
Phân tích acid amin với phương pháp phân tích sắc ký lỏng đảo pha và chiếu UV thường
được sử dụng đối với những dụng cụ có độ nhạy cao và nhanh hơn nhiều so với phương pháp
phân tích acid amin bằng phương pháp trao đổi ion chuyên dụng. Dẫn xuất acid amin
phenylthiocarbanyl (PTC) được sử dụng trong phân tích acid amin bằng phương pháp RP HPLC.
Đây là phương pháp tốt nhất cho phân tích những dẫn xuất acid amin bậc 2 proline và hydroxy
proline. Tuy nhiên, nhược điểm chính của nó là đòi hỏi 1 hệ thống hút chân không và tốn thời
gian để loại những sản phẩm phụ được sinh ra trong quá trình và loại thuốc thử dư để tránh
nhiễu đối với đỉnh phân tích.
Mặc dù có những tiến bộ trong việc tìm thuốc thử cho thu nhận dẫn xuất vì những dẫn xuất
vẫn còn khuyết điểm, các nhà khoa học vẫn cần thuốc thử với những đặc điểm: đơn giản, nhạy,
ổn định, có khả năng vay hơi cho phương pháp phân tích acid amin với RP HPLC và đầu dò UV.
Dẫn xuất sử dụng trong phương pháp phân tích này rất đa dạng, ngoài phương pháp PTC còn có
OPA (dansyl, dabsyl, 4- nitro phenyl thiocarbonyl (NPTC)). Với những dẫn xuất OPA, những
sản phẩm acid amin bậc 2 proline, hydro proline không thể phát hiện bởi vì OPA không phản
ứng với acid amin bậc 2 khi có mặt những tác nhân oxi hóa. Hơn nữa, dẫn xuất Dansyl được
hình trong bóng tối và không bền khi thời gian phản ứng kéo dài, dưới tác dụng của dung môi,
ánh sáng và bị nhiễu bởi những đỉnh song vì những sản phẩm phụ trong suốt quá trình dẫn xuất
hóa. Dẫn xuất dansyl, theo báo cáo thấy rằng nó liên kết với những hợp chất hóa học để tiêu diệt
vi khuẩn rất chặt chẽ. Nhược điểm của dẫn xuất này là sự vượt mức hàm lượng ure, muối
photphat, NH
4
NO
3
sẽ thay đổi pH đệm của phản ứng và gây cản trở cho quá trình.
C)
2.Bolvine serum albumin (BSA), acid amin chuẩn, norleucine. Acid amin chuẩn bảo quản
ở nhiệt độ phòng còn BSA được giữ ở 2-8
o
C.
3.HPLC – grade acetonitrile, CH
3
OH, tetra hydrofuran (giữ ở nhiệt độ phòng)
4.Những thuốc thử khác
5.Mẫu thực phẩm
Dung dịch chuẩn
1. Dung dịch acid amin chuẩn: Trộn hỗn hợp acid amin chuẩn, ngoại trừ glutamine,
cystine, cysteine, được chuẩn bị ở nồng độ 2.5 µmol/mL trong dd HCl 0.01M. Dung
dịch chuẩn của glutamine và cysteine được chuẩn bị với nước.
2. Chuẩn bị dung dịch đệm: gồm hỗn hợp acetonitrile-methanol-triethylamine với tỉ lệ
10:5:2 chứa L-norleucine (nồng độ 2.5 µmol/mL) với vai trò như chất chuẩn bên
trong, được bảo quản ở 0-5
o
C và phải chuẩn bị lại sau khoảng thời gian rất ngắn.
4.2.3. Phương pháp
Quá trình thủy phân BSA và mẫu thực phẩm:
1. Cho BSA (4mg) và bột đậu nành đã nghiền hoặc mẫu trứng đã đồng hóa (0,2g) lần
lượt vào ống nghiệm 5ml và 25ml với nắp vặn có lỗ và màng ngăn.
2. Thêm 0,5ml và 15ml HCl 6M chứa 0,1% phenol vào ống nghiệm 5ml và 25ml, theo
thứ tự.
21
3. Sau khi vặn nắp chặt, đâm 2 kim tiêm bằng thép không rỉ qua màng ngăn.
4. Nối 1 kim ngập trong dung dịch với nitơ khô cung cấp, kim còn lại nối vào bơm chân
không.
22 Hình 4.4: Sơ đồ dẫn khí N
2
vào thiết bị chứa mẫu
Quá trình tạo dẫn xuất
1. Cho 20µl hỗn hợp dung dịch acid amin chuẩn, 50µl dung dịch cystine chuẩn, và mẫu
thủy phân (BSA; 100µl, đậu nành; 500µl, trứng; 500µl) vào từng lọ nhỏ hình nón
2ml với 1 nắp đậy vặn có lỗ và một màng ngăn.
2. Làm khô dung dịch hoàn toàn với khí nitơ ở 50
o
C
3. Thêm vào một lượng thích hợp acetonitrile vào mỗi lọ và làm khô lần nữa.
4. Hòa tan bã trong 50µl dung dịch đệm.
5. Thêm vào 3ml BITC, BZITC, PITC vào mỗi dung dịch hòa tan trên để tạo dẫn xuất
BITC, BZITC, PTC.
6. Sau khi vặn nắp chặt, quá trình tạo dẫn xuất được thực hiện ở 40
o
C trong 30 phút để
tạo dẫn xuất BTC và PTC, ở 50
o
C trong 30 phút để tạo dẫn xuất BZTC.
7. Sau khi tạo dẫn xuất, dùng 2 kim tiêm bằng thép không rỉ đâm xuyên qua màng ngăn
vào lọ. Nối một kim với nitơ cung cấp và 1 kim với bơm chân không.
8. Sục nitơ vào lọ, đồng thời rút chân không để hoàn thành quá trình làm khô ở nhiệt độ
phòng trong khoảng 10 phút đối với dẫn xuất BTC và khoảng 40 phút đối với dẫn
Dung dịch A: ammonium acetate 0,05M (pH 6,7, điều chỉnh với acid
phosphoric).
Dung dịch B: dung dịch natri phosphate 0,02M dibase chứa 5% methanol và
1.5% tetrahydrofuran-acetonitrile (50:50).
Dung dịch C: acetonitrile : nước = 70:30
Tỉ lệ dung môi: A
B
C
Tốc độ chảy
0.0 phút
100 %
0 %
0 %
1 ml/phút
5.0 phút
85
15
0
1 ml/phút
14.0 phút
70
20
10
1 ml/phút
20.0 phút
60
20
0 %
0 %
1 ml/phút
15.0 phút
76
20
4
1 ml/phút
20.0 phút
70
20
10
1 ml/phút
30.0 phút
50
30
20
1 ml/phút
40.0 phút
30
35
35
1 ml/phút 24
Sau đó thực hiện một bước rửa trong 20 phút với dung môi C để bảo vệ cột
không bị hỏng. Cả 2 loại tỉ lệ dung môi trên đều thích hợp cho mẫu dẫn xuất
acid amin và dẫn xuất acid amin chuẩn.
4. Đối với chất dẫn xuất BZTC dành cho tiêu chuẩn bên trong của mẫu, L-norleucine
không nên sử dụng.
5. Khi cung cấp khí nitơ khô, phải kết nối ống để hấp thu tất cả các hơi ẩm như được chỉ
ra trong hình 2. Ống chứa muối Na
2
SO
4
khan phải được thay đổi định kỳ từ 1 đến 2
lần.
6. Khi nắp có 1 lỗ trở thành nắp không còn lỗ, thì bạn phải cẩn thận vì vách ngăn không
thể tháo ra được.
25
7. Phải thật cẩn thận, không để mẫu, dung dịch rửa và dung dịch tách rửa rơi vào bề mặt
chất dẻo dung để trao đổi cation trong cột.
8. Tốc độ của các giọt dung dịch rửa trong suốt quá trình rửa không quan trọng.
9. Khi phân tích với sắc ký trao đổi ion và phương pháp chuyển hóa ninhydrin, phải làm
khô dung dịch mẫu trong các máy bay hơi quay. Hòa tan lại lần nữa trong chất đệm
citrate Na 0.2 M (pH = 2.2) và đưa vào máy phân tích mino acid tự động.( LKB 4150
alpha , cột trao đổi cation Ultrapac 11)
10. Do tác động đồng thời của acetonitrile bốc hơi ,phần còn lại của nước sẽ được làm
khô hoàn toàn .
11. Các phản ứng hóa học của các chất dẫn xuất BTC và BZTC diễn ra như sau:
.