tài liệu tham khảo thẩm định dự án đầu tư - Pdf 13

1 TH.S. NGUYEÃN THANH MINH
T
T
A
A
Ø
Ø
I
IL
LT
T
H
H
A
A
Å
Å
M

Ñ
Ò
Ò
N
N
H
HD
D
Ö
Ö

T
T
h
h
s
s
.
.N
N
g
g
u
u
y
y
e
e
ã
ã
n
nT
T
h
h

g

Ñ
H
H
N
N
H
HT
T
P
P
.
.H
H
C
C
M
M 2 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
M
M
O

I
E
E
Ä
Ä
M
MC
C
Ơ
ƠB
B
A
A
Û
Û
N
N

L
L
I

D
Ư
Ư
Ï
ÏA
A
Ù
Ù
N

Đ
A
A
À
À
U
UT
T
Ư
Ư


Khái niệm này được coi là chủ đạo, xuyên suốt quá trình lập và thẩm
đònh dự án.

2. Các đăc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư :

Hoạt động đầu tư có bốn đặc trưng cơ bản. Đây là cơ sở để phân biệt hoạt
động đầu tư với các hoạt động khác, đồng thời qua đó thấy rõ yêu cầu và nội
dung cơ bán của dự án. Các đặc trưng đó là:

3 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
 Đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên quyết đònh đầu tư trước hết là quyết đònh tài
chính.

Đầu tư trước hết là hoạt động bỏ vốn ra để thu lời nên vấn đề bỏ vốn ra
như thế nào , ở đâu .v.v. là vấn đề được chủ đầu tư cân nhắc thận trọng trong
từng góc độ, trong từng lónh vực, trong mỗi yếu tố cụ thể… Nhằm tránh những chi
phí, tốn kém không cần thiết và bảo đảm đồng vốn bỏ ra mang về hiệu quả kinh
tế cao nhất có thể có.

Từ vốn nhà đầu tư có thể huy động các nguồn lực khác, nên quyết đònh
đầu tư thường phải là các quyết đònh tài chính như chi phí bao nhiêu, lời bao
nhiêu, có khả năng thu hồi được không…Sự hạn chế của vốn đầu tư sẽ dẫn đến
những hạn chế về nguồn lực và phương tiện, do vậy nhiều dư án khả thi về mặt
kinh tế, xã hội nhưng vẫn không thể thực hiện được vì thiếu vốn.

 Đầu tư là các hoạt động mang tính chất lâu dài.

Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính
khác, đầu tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài, thực hiện trong nhiều
năm, thậm chí hàng chục, hàng trăm năm. Đây là điểm đặêc trưng có ảnh hưởng

cách thức đo lường, đánh giá để có được những kết luận giúp cho việc lựa chọn
và ra quyết đònh đầu tư một cách có căn cứ.

3. Phân loại đầu tư :

Có nhiều cách phân loại đầu tư khác nhau. Sau đây là một số cách phân
loại thông dụng.

3.1 Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp :

3.1.1.Đầu tư trực tiếp :

Đầu tư trực tiếp là phương thức đầu tư mà chủ thể đầu tư vừa là người bỏ
vốn vừa là người sử dụng vốn. Chính chủ thể này chòu hoàn toàn trách nhiệm về
kết quả đầu tư của mình.

3.1.2. Đầu tư gián tiếp:

Đầu tư gián tiếp là phương thức đầu tư trong đó chủ đầu tư không trực
tiếp tham gia quản lý và sử dụng vốn đã bỏ ra.

Trong phương thức đầu tư này người bỏ vốn và người sử dụng vốn là hai
chủ thể khác nhau. Người bỏ vốn thường là tổ chức hoặc cá nhân cho vay vốn,
lợi nhuận của họ thu được thông qua việc thu lãi cho vay. Họ không chòu trách
nhiệm về kết quả đầu tư của chủ đầu tư, chỉ có nhà quản lý và sử dụng vốn đầu
tư là pháp nhân chòu trách nhiệm về kết quả đầu tư. Hoạt động đầu tư gián tiếp
như hoạt động tín dụng của các tổ chức ngân hàng, tài chính …

Hiện nay đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thuộc phạm vi điều
chỉnh cuả luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29/12/97 (sửa đổi ngày

 Đầu tư có xây dựng cơ bản là các hoạt động đầu tư có liên quan đến việc xây
dựng cơ bản như: xây dựng nhà xưởng, lắp đặt thiết bò, xây dựng đường xá, đê điều, v.v

 Đầu tư không có xây dựng cơ bản là các hoạt động đầu tư không gắn liền với
hoạt động xây dựng cơ bản. Đầu tư không có xây dựng cơ bản là các hoạt động mua sắm
tàu thuyền, máy bay, xe tải v.v

3.3.2. Đầu tư mới và đầu tư theo chiều sâu :

 Đầu tư mới: Đầu tư mới là hoạt động đầu tư mang tính chất mở rộng quy mô sản
xuất, xây dựng mới nhà xưỡng công trình Hình thức đầu tư này cùng với việc hình
thành nên các công trình mới đòi hỏi có vốn đầu tư mới, bộ máy quản lý mới, và có tác
dụng tạïo nên năng lực sản xuất mới.
 Đầu tư theo chiều sâu: Đầu tư theo chiều sâu là đầu tư mang tính chất thay đổi
công nghệ cải tạo, mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất dòch vụ trên cơ
sở các công trình có sẵn để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, tăng
năng suất lao động. Trong đầu tư chiều sâu hoạt động đầu tư là tiến hành cải tạo, nâng
cấp các công trình hiện có trên cơ sở bộ máy quản lý đã có.

6 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
3.3.3. Đầu tư tự khởi và đầu tư ứng lập :

 Đầu tư tự khởi là hoạt động đầu tư mang tính chất sáng tạo ra nhu cầu mới.

 Đầu tư ứng lập là hoạt động đầu tư nhằm đáp ứng sự gia tăng nhu cầu về sản
phẩm hay dòch vụ đang có sẵn trên thò trường.

Sự phân biệt đầu tư tựï khởi và đầu tư ứng lập chỉ mang tính chất tương
đối vì hoạt động đầu tư sản xuất ra sản phẩm không bao giờ mới hoàn toàn mà là
dựa trên việc thỏa mãn các nhu cầu sẵn có trên thò trường.


Phát triển là sự nghiệp “Tự thân vận động” của một quốc gia; đòi hỏi tỷ
trọng tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dành cho đầu tư ngày càng cao; đặc
biệt đối với các nước đang phát triển.

7 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
Từ tích lũy nội bộ của nền kinh tế quốc dân, vốn ngân sách có ý nghóa
quyết đònh cho đầu tư công ích; vốn của các thành phần kinh tế khác và trong
nhân dân rất quan trọng trong đầu tư kinh doanh.

c. Các thành phần vốn trong nước :

c1/ Vốn ngân sách nhà nước :

Vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn thường được sử dụng để xây dựng
những công trình công ích, những công trình trọng điểm của quốc gia đòi hỏi vốn
đầu tư lớn. Ở Việt Nam hiện nay quy đònh vốn ngân sách nhà nước được sử dụng
để đầu tư theo kế hoạch nhàø nước đối với:

 Các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng;
 Các dự án trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên.
 Các dự án xây dựng công trình văn hoá, xã hội, phúc lợi công cộng, quản lý nhà
nước khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh.
 Các dự án trọng điểm của nhà nước do chính phủ quyết đònh, mà không có khảû
năng trực tiếp thu hồi vốn.

c2/ Vốn tín dụng ưu đãi thuộc ngân sách nhà nước :

Vốn tín dụng ưu đãi thuộc ngân sách nhà nước là vốn từ ngân sách không

Vốn tự huy động của các doanh nghiệp có thể dưới nhiều hình thức khác
nhau như huy dộng vốn của công nhân viên trong công ty, của dân chúng…Hiện
nay ở Việt nam chỉ doanh nghiệp nhà nước mới dược phép tự huy động. Các
doanh nghiệp nhà nước phải sử dụng theo đúng các chế độ quản lý vốn đầu tư
này. Doanh nghiệp nhà nước thuộc tổ chức quản lý nào thì tổ chức quản lý đó
chòu trách nhiệm kiểm tra chặc chẽ, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có
hiệu quả. Nguồn vốn này được dùng để đầu tư cho phát triển sản xuất – kinh
doanh, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

c5/ Vốn đầu tư của các tổ chức kinh tế và vốn đầu tư của dân :

Đây là nguồn vốn tích lũy của các doanh nghiệp, của các gia đình dùng
cho hoạt động đầu tư. Hiện nay Việt Nam quy đònh đối với hoạt động đầu tư xây
dựng mới chủ đầu tư phải lập thủ tục trình cơ quan có thẩm quyền xem xét để
cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, giấy phép kinh doanh, giấp phép sử dụng
đất, giấy phép xây dựng…

c6/ Vốn đóng góp của nhân dân :

Vốn này do nhân dân đóng góp bằng công sức lao động, bắng tiền, vật
liệu cho các dự án đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi công cộng phục vụ
trực tiếp cho người góp vốn, theo các điều kiện trực tiếp khi huy động vốn.

c7/ Vốn khác:

Được huy động cho mục đích cứu trợ nhân đạo, hoạt động từ thiện…

4.2. Nguồn vốn ngoài nước:

a. Đònh nghóa :

 Cho vay không lấy lãi hoặc có lãi suất thấp.


Hỗ trợ nhiều bên gồm:

 Hỗ trợ trực tiếp thông qua các chính phủ nước ngoài ;

 Hỗ trợ thông qua các tổ chức quốc tế như: Chương trình phát triển của Liên hợp
quốc, Tổ chức lương nông Liên hợp quốc; Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc; Tổ chức y tế thế
giới; Chương trình lương thực thế giới; Cơ quan cao ủy liên hợp quốc về người tò nạn; Quỹ
Liên hợp quốc về các vấn đề các hoạt động dân số …

Hiện nay ở Việt Nam nguồn vốn ODA được quản lý thống nhất theo Nghò
đònh số 20/CP ngày 15 tháng 03 năm 1994 của chính phủ.

c2.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: (Foreign Direct Investment - FDI).

10 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
Là ngồn vốn do các tổ chức kinh doanh ở nước ngoài dầu tư trực tiếp váo
Việt nam dưới các hình thức như xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, liên doanh, liên
kết với doanh nghiệp trong nước khai thác các tài nguyên để kiếm lới. Hiện nay
đầu tư trực tiếp ở nước ngoài được điều chỉnh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam, ngày 29 tháng 12 năm 1987 (đã sữa đổi, bổ sung – 1990, 1992).

Trường hợp các doanh nghiệp nhà nước được phép góp vốn liên doanh
với nước ngoài bằng quyền sử dụng (thuê) đất, mặt nước mặt biển, nhà xưởng
thiết bò và càc công trình khác thuộc quyền sở hữu nhà nước phải được cấp có
thẩm quyền cho phép và làm thủ tục nhận vốn, để có trách nhiệm hoàn trả vốn
cho nhà nước theo quy đònh.


H
Ư
Ư
Ơ
Ơ
N
N
G
GI
I
:
:K
K
H
H
A
A
Ù
Ù
I
IQ

Ù
N

Đ
A
A
À
À
U
UT
T
Ư
Ư
11 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
1.1. Nguồn gốc của dự án :

Đầu tư theo dự án là hình thức đầu tư bắt đầu phát triển và đưa vào sử
dụng từ sau chiến tranh thế giới thứ II, chủ yếu là nhờ công lao của Ngân Hàng
Thế Giới (NHTG ). Lý do để NHTG phải cho vay theo dự án vì :

Thứ nhất : Rút kinh nghiệm của việc cho vay kém hiệu quả trong những

NHTG đònh nghóa: "Dự án là một tập hợp riêng biệt những hoạt động
đầu tư, vạch chính sách, xây dựng thể chế và các hoạt động khác được trù tính để
thực hiện một hoặc một nhóm mục tiêu trong thời gian nhất đònh". 
Quan điểm Việt Nam “Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về
việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất đònh nhằm
đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản
12 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
phẩm hay dòch vụ nào đó trong thời gian xác đònh”
(theo điều lệ quản lý đầu tư và xây
dựng ban hành kèm theo nghò đònh số 42/CP ngày 16 tháng 7 năm 1996 của chính phủ về bổ sung sửa đổi
nghò đònh 177/CP ngày 20/10/1994)
.


Có thể hiểu dự án một cách đơn giản hơn: "Dự án là một loạt hoạt động
có mục đích được hoạch đònh cụ thể nhằm tạo ra lợi ích cho người thụ hưởng
trong một khoảng thời gian nào đó".


Về hình thức :

“Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày về một cách chi tiết và
hệ thống, một kế hoạch, một chương trình hành động trong tương lai phù hợp với
các nội dung yêu cầu nói trên.”


- Các dự án cũng dược phân biệt với các công việc khác ở chổ chúng
phải hoạt động trong bốn điều kiện ràng buộc là ngân sách, nguồn lực, thời hạn
và kết quả, (xem hình 2). Ở mức độ nào đó, một chức năng quản lý đều phải
hoạt động trong khuôn khổ bốn điều ràng buộc này.

Thí dụ, phòng của bạn có thể phải hoạt động và tạo ra những kết quả
nhất đònh ; nhưng bò khống chế về ngân sách và công việc nó thực hiện phải theo
đúng hạn cuối cùng.

Hình 2:

Nguồn lực Ngân sách Thời hạn Kết quả

1.4.
Ưu nhược điểm của phương pháp đầu tư theo dự án :


Ưu điểm : thể hiện trên hai khía cạnh cơ bản :


Phương pháp đầu tư theo dự án là một công cụ có hiệu quả để hợp lý
hóa và cải tiến các quy trình đầu tư.

Phương pháp đầu tư theo dự án nếu được áp dụng đúng đắn sẽ tạo ra kết
quả phát triển kinh tế rõ rệt ở các nước trong tình trạng khan hiếm nguồn đầu tư.


1.6.2.
Nội dung của chu kỳ dự án:

Có nhiều cách phân chia chu kỳ dự án khác nhau, nhưng dù là cách phân
chia nào thì nội dung các giai đoạn của chu kỳ dự án đều phải thể hiện được 5
nội dung cơ bản dưới đây ở những mức độ khác nhau tùy theo mức độ yêu cầu
của từng nội dung đối với từng dự án cụ thể. Các nội dung đó là:


Nghiên cứu thò trường, sản phẩm của dự án.

Nghiên cứu kỹ thuật công nghệ của dự án.

Nghiên cứu tổ chức quản lý cuả dự án.
 Nghiên cứ tài chính của dự án.

Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội của dự án.

1.6.3. Các giai đoạn của chu kỳ dự án:

Có nhiều cách phân chia các giai đoạn trong chu kỳ dự án khác nhau, tuy
vậy về mặt nội dung cơ bản các cách phân chia này không có những khác biệt
đáng kể. Sau đây là cách phân chia thông dụng và chi tiết thường được sử dụng
trong nghiên cứu dự án. Theo cách phân chia này một chu kỳ dự án thường trải
qua 4 thời kỳ hay 7 giai đoạn khác nhau:

 Thời kỳ 1: Chuẩn bò dự án. Thời kỳ này gồm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Nghiên cứu cơ hội đầu tư.


Giai đoạn này thể hiện sự ưu tiên trong việc huy động và khai thác các
nguồn lực hạn chế để nắm bắt những cơ hội phát hiện trong việc thực hiện một
hay một số mục tiêu của chủ đầu tư.

Sản phẩm của giai đoạn này là bản nghiên cứu cơ hội đầu tư.

Giai đoạn 2 : Nghiên cứu tiền khả thi

Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư.
Đây là giai đoạn nghiên cứu nhằm khẳng đònh thêm lần nữa về tính khả thi của ý
tưởng đầu tư ban đầu. Giai đoạn này nghiên cứu chi tiết và chuyên sâu một số
nội dung mà chủ đầu tư hay người soạn thảo xem là quan trọng, hoặc nghiên cứu
sâu hơn các khía cạnh mà khi xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc
chắn. Qua đo,ù tiếp tục lựa chọn, sàng lọc các cơ hội đầu tư một cách cụ thể chi
tiết và chính xác hơn để đi đến quyết đònh là nên tiếp tục nghiên cứu giai đoạn
tiếp theo hay không. Giai đoạn này khác với giai đoạn nghiên cứu khả thi vì có
thể chỉ có một số nội dung được phân tích chi tiết, các nội dung khác có thể chưa
được xem xét một cách đầy đủ hoặc chi tiết vì chưa cần thiết. Việc này nhằm
giảm bớt những chi phí nghiên cứu không cần thiết cho chủ dự án. Câu trả lời ở
giai đoạn này là “ ý tưởng dự án là không khả thi hay không thể thực hiện được”.
Giai đoạn này thường chỉ thực hiện đối với việc nắm bắt các cơ hội đầu tư có quy
16 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
mô đầu tư lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều yếu
tố rủi ro hay bất đònh tác động. Đối với các cơ hội đầu tư có quy mô nhỏ, kỹ thuật
ít phức tạp, ít rủi ro, bất đònh và triển vọng đem lại hiệu quả là rõ ràng thì có thể
bỏ qua.

Nội dung của giai đoạn này gồm soạn thảo, thẩm đònh dự án tiền khả thi
và ra quyết đònh nên tiếp tục nghiên cứu các giai đoạn tiếp theo hay không. Sản
phẩm của giai đoạn này là hồ sơ dự án tiền khả thi đã được duyệt.


Trong 3 giai đoạn nêu trên các nội dung đều dược nghiên cứu lập lại với
mức độ ngày càng chi tiết, đầy đủ, tỉ mỉ và khoa học hơn, trong đó giai đoạn 3 là
17 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
hoàn thiện nhất. Có thể hình dung trong 3 giai đoạn này các nội dung được hoàn
thiện từng bước như quá trình phát triển của củ hành tây, từ một mầm ban đầu
các tép hành lờn lên, bổ sung thêm nhiều tép mới, làm cho củ hành ngày càng
hoàn thiện về nội dung lẫn hình thức cho đến khi đạt yêu cầu.

Nội dung cơ bản của 3 giai đoạn nói trên là nhằm xem xét một cách đầy
đủ và chi tiết tất cả các khía cạnh khác nhau nhằm làm rõ lợi ích và tính khả thi
của dự án. Đối với các dự án đầu tư nhỏ, ít quan trọng có thể bỏ qua giai đoạn
nghiên cứu tiền khả thi và thực hiện nghiên cứu khả thi.

Giai đoạn 4 : Chuẩn bò đầu tư:

Giai đoạn này là giai đoạn chuyển tiếp từ khi kết thúc thời kỳ chuẩn bò
dự án, hồ dự án khả thi đã được chủ dự án thông qua và các cấp có thẩm quyền
phê duyệt cho đến khi triển khai xây dựng dự án tạo ra các công trình đầu tư.
Giai đoạn này bao gồm các công việc: đàm phán, ký kết các hợp đồng kinh tế
như: Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thiết kế, thi công, hợp đồng cung cấp vật tư,
nguyên liệu… Đây là giai đoạn chuẩn bò đầy đủ các cơ sở pháp lý, nguồn lực cho
việc xây dựng công trình nhằm đảm bảo công trình hoàn tất đúng tiến độ và đúng
chất lượng như dự kiến.

Giai đoạn 5: Xây dựng dự án:

Thời kỳ này bắt đầu từ khi triển khai thi công xây lắp công trình cho đến
khi công trình hoàn tất, chạy thử, nghiệm thu đưa vào khai thác, sử dụng. Điểm
quan trọng nhất trong giai đoạn này là thực hiện việc giám sát các mặt công việc,

phẩm, dòch vụ cho đến khi kết thúc hoạt động gọi là thời gian khai thác dự án hay
vòng đời sản phẩm của dự án. Việc xác đònh độ dài thời gian khai thác dự án rất
quan trọng, nó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn của chủ đầu tư. Trong
giai đoạn này thường những năm đầu dự án hoạt động chưa đạt hết công suất
thiết kế, những năm sau khi dự án đi vào sản xuất ổn đònh thì công suất thực tế có
thể bằng công suất dự kiến.

Khoảng thời gian từ khi bắt đầu triển khai xây dựng dự án ( khởi đầu giai
đoạn 5 ) cho đến khi kết thúc việc khai thác dự án (kết thúc giai đoạn 6) được gọi
là thời gian dự án hay vòng đời dự án. Vòng đời dự án gồm thời gian xây dựng dự
án và thời gian khai thác dự án.

Giai đoạn 7: Đánh giá dự án sau thực hiện, thanh lý và đưa ra ý tưởng
mới.

Trong suốt vòng đời dự án, sau một thời gian dài khai thác, dự án hao
mòn hữu hình lẫn vô hình và vì thế hiệu qủa của dự án không cao. Chi phí cơ hội
của dự án tăng dần, các nguồn lực huy động cho hoạt động của dự án trở nên
lãng phí vì hiệu qủa thấp. Vì thế cần đánh giá lại dự án để làm cơ sở cho việc ra
quyết đònh nên tiếp tục khai thác dự án cũ hay không, hoặc nghiên cứu tìm cơ hội
đầu tư mới. Mặt khác, cần xem xét các mục tiêu của dự án đã được đã hoàn
thành tốt hay chưa qua việc đối chiếu giữa quá trình thực hiện dự án với hồ sơ dự
án qua đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho những dự án tương tự trong tương
lai.

19 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
Khi dự án không còn hoạt động có hiệu qủa do khả năng sinh lời thấp
hoặc do chi phí cơ hội cao, dự án cần được thanh lý để thực hiện những dự án
khác có hiệu qủa hơn. Trong giai đoạn này đồng thời với việc thanh lý là triễn
khai nghiên cứu thực hiện ý đồ dự án mới.

đoạn
Nghiê
n cứu
cơ hội
đầu

Nghiên
cứu tiền
khả thi
Nghiên cứu
khả thi

Thực
hiện dự
án
Vận hành
dự án đầu
tư .
Đánh
giá dự
án
Thanh
lý dự án
20 TH.S. NGUYỄN THANH MINH

- Phân tích
chi tiết các
nội dung cơ
bản: Thò
trường, kỹ
thuật- công
nghệ, tổ
chức quản
lý và nhân
sự, tài
chính, hiệu
quả kinh tế
-xã hội.

- Xây dựng
các phương
án lựa chọn
- Các hoạt
động:
Đàm
phán, ký
kết hợp
đồng,
thiết kế ,
thi
công…

- Nghiệm
thu bàn
giao

- Đưa ra ý
tưởng
và phát
hiện cơ
hội đầu
tư mới.
TỔ
CHỨ
C
QUẢ
N LÝ
- Bộ máy soạn thảo dự án gồm
Chủ nhiệm và các chuyên gia
soạn thảo thuộc các lónh vực liên
quan.
- Hội đồng thẩm đònh dự án.
-Bộ máy
quản lý
công trình.
-Hội đồng
nghiệm
thu.
-Bộ máy
quản lý và
điều hành
sản xuất
kinh doanh
-Hội
đồng
kiểm

kết.
-Biên bản
nghiệm
thu bàûn
giao.
- Biên bản
thanh lý
hợp đồng.
- Công
trình hoàn
thành.
- Các hợp
đồng kinh
doanh.

- Sản phẩm
và dòch vụ
dự án sản
xuất ra.
- Biên
bản
đánh
giá.
- Biên
bản
thanh lý.

- Ý
tưởng
mới.

Â
Â
N
NT
T
Í
Í
C
C
H
HT
T
H
H

ỊT
T
R
R
Ư
Ư
C
C
U
U
Û
Û
A
AD
D
Ư
Ư
Ï
ÏA
A
Ù
Ù
N
N
2.1. Khái niệm , vai trò và mục tiêu của việc nghiên cứu thò trường :

triển kinh tế đất nước, qua đó ra quyết đònh nên hoặc không nên đầu tư.

Dưới góc độ của nhà tài trợ phân tích thò trường sản phẩm của dự án là một
trong những nội dung quan trọng cung cấp những thông tin chuẫn để đánh giá
hiệu quả và mức độ rủi ro của dự án làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết đònh tài
trợ.

2.1.3. Mục tiêu:

Việc nghiên cứu thò trường của dự án nhằm xác đònh chính xác hơn những
cơ hội và điều kiện mà chủ đầu tư có thể nắm bắt từ ý đồ ban đầu. Thông qua
việc phân tích thò trường chủ đầu tư sẽ xác đònh chính xác, rõ ràng, cụ thể hơn thò
trường tiêu thụ sản phẩm dự án dự đònh sản xuất, qua đó xác đònh các phng
pháp, giải pháp hữu hiệu để khai thác thò trường một cách có hiệu quả, đưa ra các
chiến lược sách lược phù hợp. Ngoài ra thông qua việc phân tích thò trường sản
22 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
phẩm của dự án sẽ giúp chủ dự án có được những thông tin ban đầu khá chi tiết
và cụ thể để làm cơ sở cho việc ra quyềt đònh cụ thể hơn cho những bước tiếp
theo (như: xác đònh công suất hiện tại và tương lai của dự án; xác đònh qui mô
vốn đầu tư .v.v.).

2.2.
Nội dung cơ bản trong nghiên cứu thò trường sản phẩm của dự án:

Phân tích kỹ lưỡng về phương diện thò trường là một trong những công
việc quan trọng nhất khi nghiên cứu xây dựng dự án. Qua phân tích thò trường
giúp cho các bên tham gia dự án thấy được những triễn vọng về thò trường trong
hiện tại và tương lai làm cơ sở cho những quyết đònh lựa chọn đòa điểm của dự
án; công suất của dự án, máy móc thiết bò cho dự án; xác dònh nhu cầu vốn đầu
tư, nhu cầu lao động, mô hình tổ chức, quản lý của dự án…và nhiều vấn đề khác

phẩm là cơ sở giúp cho nhà đầu tư, nhà tài trợ, hội đồng thẩm đònh … xác đònh
tính khả thi của sản phẩm dự án trên thò trường.

Xác đònh tính hiện thực của sản phẩm dự án nhằm thấy rõ lợi ích của sản
phẩm, những thách thức hiện tại, lâu dài và những rủi ro gắn liền với sản xuất.
Ngoài ra, xác đònh tính hiện thực của sản phẩm liên quan mật thiết đến việc xác
đònh sự tồn tại của thò trường và khách hàng tiềm năng, và là cơ sở đầu tiên
chứng minh tính khả thi về phương diện thò trường sản phẩm của dự án.

Xác đònh tính hiện thực của sản phẩm dự án , trước tiên cần xác đònh rõ
sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm dự án dự đònh sản xuất. Cụ thể cần xác đònh rõ:
tên, ký hiệu, mã hiệu, đặc điểm, tính năng, quy cách, mức chất lượng, hình thức
bao bì, đóng gói của sản phẩm dự đònh sản xuất. Phân tích những đặc điểm chủ
yếu của sản phẩm được lựa chọn từ đó đánh giá khả năng và mức dộ thành công
của sản phẩm dự án trên thò trường.

Khi xác đònh tính hiện thực của sản phẩm dự án cần phân biệt sản phẩm
dự án dự đònh cung cấp là sản phẩm hiện có hoặc là sản phẩm đổi mới toàn bộ
hay một phần, hay là sản phẩm mới xuất phát từ phát minh sáng chế nào đó.

Đối với sản phẩm đã có trên thò trường - thường là những sản phẩm có
nhu cầu đang gia tăng trong hiện tại và tương lai, không nhất thiết phải mô tả chi
tiết sản phẩm nhưng cần phải chứng minh nó có những lợi thế cụ thể nào đó so
với vài sản phẩm cùng chức năng đang bán trên thò trường, đặc biệt là chứng
minh ưu thế về giá thành.

Các lợi thế đó cần thể hiện qua so sánh với sản phẩm nội đòa hoặc nhập
khẩu cùng chức năng trên thò trường về các mặt như: chất lượng, mẫu mã, thò
hiếu, giá cả, khả năng phân phối… Nếu sản xuất thay thế nhập khẩu cần chứng
minh thêm những lợi thế so với sản phẩm nhập khẩu như về thuế quan, chế độ

đặc tính kỹ thuật, thương mại. Trường hợp cần thiết phải có sản phẩm mô phỏng
hoặc hình vẽ thiết kế, hoặc ảnh, hoặc sản phẩm mẫu chứng minh việc sản xuất
sản phẩm như dự kiến là có thực.

Việc mô tả sản phẩm phải thể hiện được một số hay toàn bộ các nội dung
sau:

 Công dụngï chủ yếu và thứ yếu của sản phẩm
 Các ưu điểm của sản phẩm
 Các tiêu chuẩn kỹ thuật: kích thước, hình dáng, quy cách
 Các đặc tính lý, hóa
 Chất lượng
 Bao bì đóng gói.
 So sánh tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật của quốc gia và quốc tế đối với
sản phẩm của dự án, đánh giá trình độ sản xuất trong và ngoài nước.
 Các dòch vụ đi kèm
 Tính an toàn, dễ dùng và dễ bảo trì khi sử dụng
 Các khả năng đáp ứng và biến đổi của sản phẩm
 Đăng ký nhãn hiệu và bảo vệ bản quyền sản phẩm bằng một bằng
sáng chế, phát minh
 Sản phẩm mẫu, hình ảnh, bản vẽ…
 Ưu thế cạnh tranh

25 TH.S. NGUYỄN THANH MINH
Thứ hai, thực hiện phân tích chu kỳ vòng đời sản phẩm của dự án, xác
đònh sản phẩm đang nằm trong giai đoạn nào, đồng thời dự báo về tuổi thọ còn
lại của sản phẩm qua vòng đời của nó. Nếu sản phẩm nằm trong 3 giai đoạn đầu
vòng đòi dự án thì chủ dự án có thể đầu tư nếu các điều kiện khác hội đủ. Ngược
lại, nếu sản phẩm của dự án nằm trong giai đoạn suy thoái thì cần cân nhắc thận
trọng khi ra quyết đònh tiếp theo. Trong trường hợp này tốt nhất dự án cần có

của khách hàng sau đó xem xét nghiên cứu tìm cách sản xuất sản phẩm của mình
đáp ứng những yêu cầu đó. Vì lẽ đó tính hiện thực của sản phẩm là điều kiện cần
và tính hiện thực của thò trường là điều kiện đủ để chứng minh cho tính hiện thực
của ý tưởng ban đầu của chủ đầu tư.

GĐ I
TRIỄN
KHAI
GĐII
TRƯỞN
G
GĐIII
CHÍN MUỒI
GĐIV
SUY THOÁI
Doanh
thu
Phục
hồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status