quản lí nhà nước về thông tin trên internet tại việt nam - thực trạng và giải pháp - Pdf 13

I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sau những năm đổi mới, cùng với kinh tế thì trong lĩnh vực công nghệ
thông tin ở Việt Nam đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu
quan trọng. Chính vì sự phát triển vượt bậc này đã dẫn đến sự ra đời hàng loạt
các phương tiện truyền thông trong đó phải kể đến Internet.
Internet ra đời đã bám sát đời sống xã hội, cung cấp những thông tin đa
chiều, sâu sắc; tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hiệu
quả. Tuy nhiên về bản chất công nghệ, Internet là môi trường mở, cho phép
người sử dụng được tự do cung cấp, tìm kiếm và sử dụng thông tin. Vì vậy, tùy
thuộc vào động cơ, mục đích và nhận thức của cá nhân, tổ chức sử dụng mà
thông tin đưa lên internet là tích cực, hoặc tiêu cực, hoặc thậm chí đi ngược lại
lợi ích chính đáng của cộng đồng, xã hội. Ngày nay, bên cạnh những tác động
tích cực nhiều mặt thúc đẩy sự phát triển xã hội, trên Internet cũng tồn tại đầy
rẫy những thông tin sai trái, độc hại với các tính chất khác nhau.
Trên thực tế internet đang thể hiện ngày càng rõ nét đặc trưng của một xã
hội ảo phản ánh ngày càng toàn diện các hoạt động của đời sống thật ở mức độ
tự do hơn cho mỗi cá thể và do đó gây khó khăn phức tạp hơn cho công tác quản
lí của Nhà Nước đối với lĩnh vực này
Tất cả đã đặt ra nhu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao
hiệu quả quản lý Nhà nước cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn. Chính từ
vấn đề như vậy mà tác giả đã tiến hành chọn đề tài “ Quản lí Nhà Nước về
thông tin trên Internet tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu.
II. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
IV. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
VI. TÓM TẮT NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí Nhà nước đối với thông tin trên internet
Chương 2: Thực tiễn và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí Nhà Nước về
thông tin trên Internet tại Việt Nam.


- Thông tin là những gì con người thu nhận được từ dữ liệu và xử lý dữ
liệu nhằm tạo ra sự hiểu biết, tạo ra các tri thức và những nhận thức tốt hơn về
tự nhiên và xã hội. Nói cách khác, thông tin là dữ liệu đã qua xử lý, đối chiếu và
trở nên có ý nghĩa đối với người dung
(1)
.

2
- Internet là hệ thống thông tin toàn cầu sử dụng giao thức internet( internet
Protocol- IP) và tài nguyên internet để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác
nhau cho người sử dụng
(2)
.
- Dưới góc độ pháp lí, thông tin trên internet được hiểu là thông tin được
lưu trữ, truyền đưa, thu thập và xử lí thông qua mạng
(3)
.
1.2.2. Khái niệm về quản lí Nhà nước đối với thông tin trên internet
Trên thực tế, chưa có một khái niệm nào chuẩn xác liên quan đến quản lý
Nhà nước đối với thông tin trên internet. Chính vì lẽ đó, để hình dung được nội
hàm của cụm từ, chúng ta đi từ khái niệm quản lý.
Tiếp cận thứ nhất: Quản lý là một quá trình, trong đó các chủ thể quản lý,
tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và
nghệ thuật vào khách thể quản lý nhằm đạt được kết quả tối ưu đã đề ra thông
qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ thích hợp.
Tiếp cận thứ hai: Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay quá
trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lí nhằm đạt được những mục
đích đã định trước.
Nói đến quản lí nhà nước đối với thông tin trên internet là nói đến những
hoạt động bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động thông tin được ổn

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi
phạm pháp luật trong hoạt động bảo đảm an toàn thông tin;
- Chỉ đạo việc phối hợp hoạt động của các đơn vị thực hiện nhiệm vụ bảo
đảm an toàn thông tin của các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp;
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Công an hướng dẫn các doanh nghiệp viễn
thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ thông tin công cộng trên mạng bố trí mặt bằng, cổng kết nối và các biện
pháp kỹ thuật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin và an
ninh thông tin;
- Quy định việc đăng ký, lưu trữ, sử dụng thông tin cá nhân của người đưa
thông tin công cộng lên mạng xã hội, người chơi trò chơi G1 và người sử dụng
các dịch vụ khác trên Internet; việc xác thực thông tin cá nhân đó với cơ sở dữ
liệu điện tử về chứng minh nhân dân của Bộ Công an.
Như vậy ở Trung ương, cơ quan có chức năng quản lí Nhà nước đối với thông
tin trên internet là Bộ Thông tin và Truyền thông trên cơ sở phối hợp với Bộ công
an, Ban cơ yếu Chính phủ- Bộ Quốc phòng, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ
nghành khác bằng việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý thông
tin trên internet và dựa vào những văn bản pháp luật đó để xử lí nghiêm các trường
hợp vi phạm.
Ở Địa phương, trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với thông tin trên

4
internet thuộc về Ủy ban Nhân dân các cấp tỉnh theo sự phân cấp của Chính phủ.
Đây là cơ quan Nhà nước có sự can thiệp một cách trực tiếp, sâu sắc nhất đối
với việc quản lý nhà nước đối với thông tin trên internet thông qua các Sở
Thông tin- Truyền thông và các bộ phận trực thuộc.
1.3.2 Nội dung quản lí Nhà nước đối với thông tin trên internet
Các nội dung quản lý nhà nước đối với thông tin trên internet đề cập ở đây
xuất phát từ các quy định hiện hành của Đảng và Nhà nước ta gồm: Luật công
nghệ thông tin năm 2006 và nghị định 72/2013/NĐ/CP ngày 15-7-2013. Theo

5. Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép thiết lập mạng xã hội.
6.Sở Thông tin và Truyền thông cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử
tổng hợp cho tổ chức, doanh nghiệp không thuộc các đối tượng quy định tại
Khoản 8 Điều này.
7. Bộ Thông tin và Truyền thông quy định cụ thể điều kiện, quy trình, thủ
tục cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi, cấp lại Giấy phép thiết lập trang
thông tin điện tử tổng hợp, Giấy phép thiết lập mạng xã hội.
8. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông quy định lệ phí
cấp phép thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, cấp phép thiết lập mạng xã hội.
Ngoài ra nghị định cũng quy định các hành vi cấm đối với việc sử dụng
thông tin trên internet như: Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và
thông tin trên mạng nhằm mục đích chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phá
hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chiến tranh xâm lược; gây hận thù,
mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân
sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại; tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy,
tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc.
1.4. Ý nghĩa của việc quản lí thông tin trên internet
Với thực trạng như thế, quản lí Nhà nước đối với thông tin trên internet sẽ
có ý nghĩa to lớn:
- Thứ nhất: Vừa đảm bảo được trật tự an ninh, an toàn xã hội, vừa đảm bảo
tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân.
- Thứ hai: Là nhằm kiểm soát thông tin và nguồn tài nguyên internet, sẽ
hạn chế ô nhiễm tài nguyên internet, hướng người sử dụng tới việc sử dụng
thông tin trên internet một cách lành mạnh là công cụ đắc lực phục vụ cho công
việc và cuộc sống.
- Thứ ba: Do tính mở của công nghệ, tính hai mặt của thông tin trên
internet và do nhu cầu tất yếu sử dụng dịch vụ và nội dung thông tin trên
internet nên việc quản lí đối với những vấn đề này là hết sức cần thiết.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

chậm tốc độ đường truyền dữ liệu… làm hạn chế quyền ngôn luận trên internet
của người dân.

7
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lí Nhà nước đối với thông tin
trên internet tại Việt nam
2.2.1. Thực trạng quản lí nhà nước về thông tin trên internet tại địa
bàn Thành Phố Huế -Tỉnh Thừa Thiên Huế
2.2.1.1. Kết quả khảo sát đối với những người là chủ cơ sở dịch vụ
internet
Nhóm thực hiện đề tài của chúng tôi đã thực hiện một cuộc điều tra khảo
sát đối với 50 chủ cơ sở dịch vụ internet tại địa bàn Thành Phố Huế. Số lượng
phiếu khảo sát được phát ra 60 phiếu, số lượng phiếu khảo sát được thu vào 54
phiếu(90%). Thông qua số phiếu khảo sát thu được và đã cho ra được kết quả
như sau:
Bảng 1: Bảng số liệu về mức độ hiểu biết của chủ cơ sở dịch vụ internet
về các cơ quan quản lí thông tin trên internet
Nội dung Thang đo Tần suất Phần trăm
Anh(chị) có biết cơ quan nào quản lí
trong lĩnh vực quản lí thông tin trên
internet hay không?
Có 9 16,67%
Không 45 83,33%
(Nguồn được tổng hơp từ phiếu điều tra khảo sát trên địa bàn Thành Phố Huế)
Theo số liệu khảo sát về tình hình công tác quản lí của các cơ quan chức
năng về việc quản lí thông tin trên internet. Cho thấy, chủ cơ sở dịch vụ internet
không hề biết đến các cơ quan quản lí thông tin trên internet chiếm tỉ lệ rất cao
(83,33%), trong khi đó chỉ có 16,67% tỉ lệ chủ cơ sở dịch vụ biết về những cơ
quan này.
Bảng 2: Hoạt động kiểm tra, thanh tra của các

Biểu Đồ 2: Mức độ hiểu biết pháp luật điều chỉnh về việc
quản lí thông tin trên internet của các chủ cung cấp dịch vụ internet

9
Theo số liệu khảo sát về mức độ hiểu biết pháp luật điều chỉnh về quản lí
thông tin trên internet của các chủ cơ sở dịch vụ thì có tới 55,56% không hề biết
các văn bản điều chỉnh về vấn đề này, 14,8% nắm rõ và có rất ít người nắm rõ
chiếm 29,64%
Bảng 4: Các hình thức xử lí của cơ quan quản lí thông tin
trên internet khi có vi phạm xảy ra
Nội dung Thang đo Tần suất Phần trăm(%)
Nếu có vi phạm xảy ra thì cơ
quan quản lí thông tin trên
internet phải xử lí như thế nào?
Cảnh cáo 29 53,7%
Phạt tiền 24 44,44%
Truy cứu trách
nhiệm hình sự
1 1,86%
(Nguồn được tổng hơp từ phiếu điều tra khảo sát trên địa bàn Thành Phố Huế)
Biểu Đồ 3: Các hình thức xử lí của cơ quan quản lí thông tin
trên internet khi có vi phạm xảy ra
Qua số liệu khảo sát về hình thức xử lí của cơ quan quản lí thông tin trên
internet khi có vi phạm xảy ra thì có 53,7% bị phạt cảnh cáo, gần tương đương
với tỉ lệ hình thức bị phạt cảnh cáo là hình thức phạt tiền chiếm 44,44%, trong
khi đó chỉ có 1,86% bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2.2.1.2. Kết quả khảo sát đối với những người sử dụng thông tin trên
internet
Nhóm thực hiện đề tài của chúng tôi đã thực hiện một cuộc điều tra khảo
sát đối với 150 người bao gồm các thành phần: Sinh viên, học sinh, người lao

Không đảm bảo 108 83%
(Nguồn được tổng hơp từ phiếu điều tra khảo sát trên địa bàn Thành Phố Huế)
Qua bảng khảo sát số liệu từ người sử dụng thông tin trên internet, cho thấy

11
công tác quản lí của các cơ quan chức năng đối với việc đảm bảo thông tin cho
họ còn rất hạn chế chỉ chiếm khoảng 17%. Từ đó, có thể thấy rằng cơ chế quản
lí các cơ quan quản lí về thông tin trên internet còn rất hạn chế, chưa hiệu quả.
Biểu đồ 5: Về thực trạng quản lí thông tin của các cơ quan quản lý
đối với thông tin cá nhân của người sử dụng thông tin trên internet.
Bảng 3 : Khả năng xử lí khi người sử dụng gặp những thông tin trái chiều
trên các trang mạng hiện nay
Nội dung Thang đo
Tần
suất
Phần
trăm(%)
Khi xuất hiện nhiều
thông tin trái chiều
trên các trang mạng
điện tử hiện nay.
Anh(Chị) thường xử
lí như thế nào?
Đọc và tin ngay 80 61,5%
Xem thông tin ở các tờ báo khác
và tin vào những tờ báo lớn uy tín
20 15,3%
Kiểm tra các ý kiến phản hồi các
chuyên mục bình luận để biết
8 6,1%

2.2.1.3. Một số nhận định thông qua kết quả khảo sát.
Quản lí nhà nước về thông tin trên internet là một lĩnh vực mới và đây là
một lĩnh vực mà việc quản lí hết sức khó khăn, phức tạp . Theo số liệu khảo sát
từ 54 phiếu khảo sát thu được đối với những người là chủ cơ sở dịch vụ thì có
đến 30 chủ cơ sở dịch vụ cho biết trong vòng 1 năm cơ sở mình chưa từng bị cơ
quan kiểm tra lần nào chiếm 55,57%.Trong số đó, việc kiểm tra 2 lần trên một
năm chỉ chiếm 12,96% . Những con số biểu thị cho thấy tình trạng quản lí thiếu
chặt chẽ, chưa tạo được niềm tin cho người sử dụng của cơ quan quản lí làm xã
hội hết sức lo ngại. Đồng thời, những con số về vi phạm trong lĩnh vực thông tin
trên internet được Sở Thông tin và Truyền thông thu thập trên địa bàn Thành
Thố Huế tháng 10/2013 như sau:
TT Hình thức xử lí Số chủ cơ sở dịch vụ bị xử lí
1 Phạt cảnh cáo 56
2 Phạt tiền 53
3 Truy cứu trách nhiệm hình sự 1
(Nguồn được tổng hơp từ số liệu do Sở Thông tin và Truyền thông cung cấp)
Theo số liệu thống kê của Sở Thông tin và Truyền thông Tỉnh Thừa Thiên
Huế thì có 56/110 Cơ sở dịch vụ bị phạt cảnh cáo chiếm gần 50,9%. 53 chủ cơ
sở bị phạt tiền chiếm 48,18%. Chỉ có 1 chủ cơ sở bị truy cứu trách nhiệm hình
sự. Qua những con số này cho ta thấy các hình thức xử lí của các cơ quan chức
năng khi có vi phạm xảy ra vẫn còn rất nhẹ, chủ yếu là phạt cảnh cáo. Vì vậy,
chưa đủ sức răng đe, mức độ tái phạm lại có khả năng xảy ra cao. Đây chính là
khó khăn rất lớn trong công tác quản lí nhà nước về thông tin trên internet trên
địa bàn Thành Phố Huế.
Còn theo kết quả khảo sát đối với những người sử dụng thông tin trên
internet thì cho ta thấy số lượng người truy cập internet rất cao và chủ yếu nhằm
để đọc thông tin cũng như tiếp cận chúng dưới nhiều hình thức khác nhau, đa số
là vào các trang thông tin điện tử và mạng xã hội trực tuyến. Kết quả khảo sát từ

14

xem xét thông qua hiệu quả tuân thủ pháp luật của nhiều đối tượng liên quan
như: Cơ quan quản lí Nhà nước, cơ quan chủ quản báo chí. Hơn nữa hoạt động
quản lí Nhà nước liên quan đến thông tin trên internet tác động lên nhiều mặt

15
của xã hội. Chính vì lẽ đó để đánh giá thực trạng quản lí Nhà nước đối với
thông tin trên internet cần quan tâm đến mức độ trật tự xã hội đạt được thông
qua hoạt động quản lí. Từ những yêu cầu này, có thể thấy trên phương diện thực
tiễn hiện nay bên cạnh những thành tựu đạt được thì cũng đang đặt ra sự quan
tâm bức thiết với các nội dung sau:
2.2.2.1. Công tác Quản lý, kiểm soát thông tin, dịch vụ và các hoạt động
cung cấp dịch vụ
* Thành tựu:
Nhờ các biện pháp, chính sách kiểm soát thông tin và nguồn tài nguyên
Internet sẽ hạn chế được ô nhiễm tài nguyên Internet, hướng người dùng tới
việc sử dụng thông tin một cách lành mạnh, là công cụ đắt lực phục vụ cho công
việc và cuộc sống, cụ thể là:
Trong quá trình quản lý, Việt nam đã ban hành nhiều chính sách được quy
định trong các văn bản pháp luật, trong đó có chính sách quản lí đối với thông
tin trên Internet, bao gồm: Nghị định số 55/2001NĐ-CP,Quyết định số
27/2002/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin về quản lí và cấp phép cung
cấp thông tin, thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet; quyết định số
71/2004/QĐ-BCA(A11) về đảm bảo an toàn, an ninh trong hoạt động quản lí,
sử dụng Internet tại Việt Nam
Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin lên Internet được “toàn
cầu hóa” hoàn toàn. Bên cạnh những trang thông tin có nội dung tốt, kho kiến
thức vô tận cung cấp cho người dùng một cách hữu ích thì cũng có không ít các
website có nội dung khiêu dâm, đồi trụy, phản động, ảnh hưởng đến thuần
phong mỹ tục và nhằm chống phá cách mạng Việt nam
Thực trạng đặt ra một nhiệm vụ nặng nề cho các nhà quản lý, vào quý II/2002,

vậy, để quản lí và kiểm soát thông tin điện tử trên internet không phải là vấn đề
đơn giản.
Đến nay vẫn có hàng nghìn trang web độc hại ,điều này sẽ rất nghiêm trọng
nếu chúng ta không xử lí kịp thời.
Việc quản lý loại hình kinh doanh dịch vụ internet công cộng vẫn còn rất
phức tạp. Việc đưa thông tin và khai thác thông tin có nội dung xấu và không
lành mạnh lên các trang thông tin điện tử vẫn diễn ra dù các cơ quan vào cuộc
cứng rắn đến mức nào.

17
2.2.2.2.Quản lí hệ thống các nhà cung cấp dịch vụ và các giao dich
thương mại liên quan
* Thành tựu
Việc quản lí hệ thống các nhà cung cấp dịch vụ và các giao dịch thương
mại liên quan là một trong những nội dung quan trọng của quản lí nhà nước về
thông tin điện tử trên Internet.
Sự ra đời các tờ báo điện tử không chỉ là nơi cung cấp thông tin cho người
đọc mà còn là nơi trao đổi kinh nghiệm về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống của
con người trong môi trường ảo.
Bên cạnh đó sự phát triển của thương mại điện tử (TMĐT) trên thế giới đã
làm thay đổi cách thức kinh doanh, giao dịch truyền thống và đem lại những lợi
ích to lớn cho xã hội. Trong bối cảnh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, TMĐT
là công cụ thiết yếu trong việc giảm chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian, qua đó
nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, cũng như đẩy mạnh hội nhập
kinh tế khu vực và tốc độ tham gia thị trường chung. Vì vậy việc xác định những
chính sách, giải pháp, điều kiện cần thiết cho phát triền TMĐT, tìm ra mô hình
thích hợp cho TMĐT tại Việt nam đang trở nên cấp thiết.
Trước nhu cầu và sự phát triển mạnh mẽ của TMĐT đòi hỏi có một cơ quan
thống nhất quản lí về hoạt động này, Vụ Thương mại Điện tử trực thuộc Bộ Công
Thương đã được thành lập với chức năng quản lí Nhà nước về lĩnh vực TMĐT.

Sự phát triển mạng internet có độ an toàn, tin cậy cao, kết nối nhiều hướng
trên cơ sở kết hợp các tuyến cáp quang biển, tuyến cáp quang trên đất liền và hệ
thống thông tin vệ tinh, đáp ứng nhu cầu cung cấp các dịch vụ băng rộng…
Phát triển mạng thông tin dùng riêng hiện đại, phù hợp với sự phát triển
của mạng công cộng quốc gia; vừa đáp ứng nhu cầu thông tin riêng của các
nghành, vừa sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng thông tin của mạng công cộng đã
được xây dựng.
Ưu tiên phát triển mạng thông tin dùng riêng hiện đại phục vụ Đảng, chính
phủ, quốc phòng, an ninh; đảm bảo chất lượng phục vụ, yêu cầu bảo mật và an
toàn thông tin.
Chính sách về tài chính : Đối với thuế thì nhà nước có chính sách ưu đãi đặc
biệt đối với các dự án phát triển công nghệ thông tin, nhất là các dự án phát triển hạ
tầng cơ sở. Ngoài ra, nhà nước còn dùng vốn ngân sách để ưu tiên cho các dự án,
chương trình phat triển hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin…
Chính sách đất đai, địa điểm : thực hiện hỗ trợ đất đai hợp lí, ưu tiên lựa
chọn, bố trí vị trí và diện tích phù hợp cho yêu cầu xây dựng hạ tầng…

19
*Hạn chế
Việc quản lí còn nhiều bất cập như: Quản lí ở một số khâu quản lí còn kém
hiệu quả, tình trạng chồng chéo trong việc xây dựng và sử dụng hạ tầng mạng,
các nhà hạ tầng mạng dùng một hạ tầng riêng dẫn đến tình trạng quản lí trở nên
khó khăn. Điều này một phần đã làm cản trở việc phát triển hạ tầng mạng và quy
hoạch phát triển.
2.2.2.4. Quản lí việc chấp hành các quy định của pháp luật của chủ thể
sử dụng internet
*Thành tựu:
Nghị định số 28/2009/NĐ-CP ngày 20/3/2009, quy định xử phạt hành
chính trong quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên
Internet đã quy định rõ các hành vi vi phạm về quản lí đại lí Internet, quản lí trò

internet là ở khu vực thành phố, thị xã; trong khi đó ở nông thôn, vùng sâu, vùng
xa chỉ chiếm 25%. Một thời gian dài vẫn chưa xây dựng được chiến lược, quy
hoạch phát triển thông tin trong cả nước. Công tác quản lý thông tin còn nhiều
thiếu sót, khuyết điểm.
Ngoài ra một vấn đề cũng hết sức phức tạp hiện nay. Đó là quản lí nhà
nước đối với những loại hình giải trí trên internet, mà đặc biệt đối với những trò
chơi trực tuyến.
2.3. Nguyên nhân của thực trạng quản lí nhà nước đối với thông tin trên
internet.
Trên thực tế internet đang thể hiện ngày càng rõ nét đặc trưng của một xã
hội ảo, phản ánh ngày càng toàn diện các hoạt động của đời sống thật ở mức độ
tự do hơn cho mỗi các thể, và do đó gây khó khăn, phức tạp hơn cho công tác
quản lí nhà nước đối với lĩnh vực này.
2.3.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất: Bản chất đặc thù của môi trường mạng là môi trường mang tính
toàn cầu nhưng luật pháp của một quốc gia lại chỉ có hiệu lực điều chỉnh trong
phạm vi biên giới vật lí của quốc gia đó.
Thứ hai: Chi phí thiết bị và đường truyền ngày càng được hạ thấp. Điều
này cho phép một cá nhân bình thường cũng có thể huy động đủ nguồn lực cần
thiết để thực hiện hành vi xấu, có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho các nhân,
tổ chức khác qua môi trường mạng.
Thứ ba: Việc bảo vệ tài sản thông tin và hệ thống thông tin trên mạng
nhiều khó khăn đặc thù so với bảo vệ tài sản truyền thống. Các nguy cơ trên
mạng luôn hiện hữu trong từng giây. Việc trinh sát, giò quét tìm điểm yếu của
hệ thống có thể tiến hành từ khoảng cách rất xa, không phụ thuộc vào vị trí địa
lí.

21
Thứ tư: Hành lang pháp lý về an toàn thông tin của Việt nam chưa đầy đủ,
chưa có quy định của pháp luật để điều chỉnh một số loại hành vi, chế tài xử lí

Thứ ba: Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam

22
Thứ tư: Nâng cao năng lực bộ máy quản lí nhà nước về tổ chức bộ máy, về
nguồn nhân lực, về cơ sở vật chất và trang thiết bị kĩ thuật công nghệ cao, hiện
đại bảo đảm triển khai có hiệu quả các biện pháp quản lý cả hành chính và kĩ
thuật để kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lí nghiêm các sai phạm theo pháp
luật.
Thứ năm: Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng.
Đây là nhóm giải pháp có ý nghĩa then chốt và lâu dài nhằm nâng cao dân
trí một cách toàn diện, để mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, hoc sinh, sinh
viên có ý thức tự bảo vệ mình và trở thành bộ lọc thông tin, hướng dẫn những người
xung quanh nhận biết, sang lọc các thông tin xấu, thông tin độc hại.
Thứ sáu: Để hoàn thiện pháp luật về cung cấp thông tin, về tiếp cận thông
tin, về bảo đảm quyền tự do ngôn luận, chúng ta cần tiến tới soạn thảo và ban
hành luật về quyền được thông tin quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể cung cấp thông tin, chủ thể tiếp nhận thông tin, đặc biệt là thông tin trên
mạng.
Thứ bảy: Thông tin đưa ra phải được thực hiện theo nguyên tắc là phải đảm
bảo tôn trọng sự thật khách quan, đồng thời những thông tin đó không được xâm
phạm đến lợi ích chính đáng của người khác, không xâm phạm đến an ninh quốc
gia, trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng, đạo đức xã hội
Và cuối cùng hoàn thiện pháp luật theo hướng quy trách nhiệm các cơ
quan, cá nhân liên quan trong việc bảo đảm quyền tự do thông tin của công dân.

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status