Các rào cản thương mại của Mỹ đối với hàng thuỷ sản nhập khẩu từ Việt Nam và các giải pháp vượt qua - Pdf 13



LUẬN VĂN:

Các rào cản thương mại của Mỹ đối với hàng
thuỷ sản nhập khẩu từ Việt Nam và các giải
pháp vượt qua LỜI NÓI ĐẦU

Năm 2006 được đánh giá là một năm có rất nhiều thay đổi đối với nền kinh tế
Việt Nam nó được đánh dấu bằng rất nhiều sự kiện quan trọng như tháng 11/2006
Việt nam chính thúc trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại quốc
tế.Tháng 12/2006 Mỹ kí hiệp định bình thường hoá vĩnh viễn quan hệ thương mại
quốc tế với Việt Nam.Những sự kiện quan trọng này đã mở ra một triển vọng mới
cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cho Việt Nam đây cũng là cơ hội và thách
thức cho kinh tế Việt Nam.
Hiện tại Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển giá trị ngành nông nghiệp
vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong nền kinh tế quốc dân và ngành thuỷ sản trong
những năm qua đã góp phần không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc dân vào giá trị xuất
khẩu chung của nền kinh tế. Đây cũng là một ngành kinh tế của Việt Nam phát triển
trên thị trường nước ngoài rất sớm và cũng rất thành công nó được đánh giá là một
ngành kinh tế thâm nhập sâu vào thị trường thế giới tiếp thu được những thành tựu
khoa học kĩ thuật hiên đại, đồng thời áp dụng nhiều tiêu chuẩn kĩ thuật của thuỷ sản

Phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài là phương pháp
logic,phương pháp tổng hợp ,phương pháp thống kê,và một số phương pháp khác
…đồng thời em còn kết hợp những thông tin thu thập từ sách báo, tạp chí các đề tài
nghiên cứu có liên quan cùng những kiến thức đã tích luỹ trong quá trình học tập để
phân tích tình hình thực tế nhằm rút ra những nhận xét mang tính chất khách quan
từ đó đưa ra những phương hướng giải quyết vấn đề đặt ra.
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương I:Những vấn đề lý luận về rào cản thương mại
Chương II:Thực trạng về các loại rào cản thương mại đối với hàng thuỷ sản
của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ
Chương III: Các giải pháp vượt qua rào cản thương mại để xuất khẩu thuỷ
sản vào thị trường Mỹ.

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI.

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI.
1.1.1 KHÁI NIỆM VỀ RÀO CẢN THƯƠNG MẠI.

 Hạn ngạch: hay hạn chế số lượng là biện pháp quy định số lượng
hàng hoá được đưa vào hay đưa ra khỏi một nước trong một quãng
thời gian nhất định.
 Hạn chế xuất khẩu tự nguyện:là một biện pháp mà hạn chế xuất
khẩu mà theo đó một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu
phải hạn chế bớt lượng hàng xuất khẩu sang nước mình nếu không
họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết.Hình thức này thường
được áp dung riêng với từng quốc gia có khối lượng xuất khẩu lớn ở
một mặt hàng nào đó.
 Những quy định về tiêu chuẩn kĩ thuật: đó là những quy định về tiêu
chuẩn vệ sinh, đo lường, an toàn lao động ,bao bì đóng gói , đặc biệt
là các tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm,vệ sinh phòng dịch đối với động
thực vật tươi sống,tiêu chuẩn bảo vệ môi trường sinh thái đối với
các máy móc thiết bị và dây chuyền công nghệ…
 Trợ cấp xuất khẩu: chính phủ có thể áp dụng biện pháp trợ cấp trực
tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong
nước.Bên cạnh đó chính phủ còn có thể thực hiện một khoản vay ưu
đãi với bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện mua các sản phẩm
của nước mình sản xuất ra. Đây chính là các khoản tín dụng viện trợ
mà chính phủ các nước công nghiệp phát triển áp dụng khi cho các
nước phát triển vay( thường kèm theo điều kiện).
Ngoài ra còn có một số công cụ khác như:
 Các loại thuế và phí trong nước
 Các quy định và thủ tục hải quan
 Các hạn chế trong việc tiếp cận thị trường liên quan đến cạnh tranh
 Các thủ tục và quy trình hành chính (nói chung)
 Các thực tiễn về mua sắm của Chính phủ
 Các hạn chế về đầu tư hoặc các yêu cầu
 Quy định hoặc chi phí về vận chuyển
 Các hạn chế về cung cấp dịch vụ (nói chung)

dẫn đến lợi ích xã hội giảm. Cụ thể:
Hạn ngạch hạn chế số lượng hàng nhập khẩu nên sẽ làm cho giá hàng nội địa
tăng lên làm giảm sức mua , lãng phí nguồn lực của xã hội .Có thể dẫn đến tiêu cực
khi “xin” hạn ngạch nhập khẩu
Hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng có tác động kinh tế như tác động của hạn
ngạch nó cũng dẫn đến vấn đề giảm sức mua,giảm nguồn lực xã hội .
Những quy định về tiêu chuản kĩ thuật có thể dẫn đến hạn chế và làm méo mó
dòng vận động của hàng hoá trên thị trường thế giới.Hiện nay có đến 1/3 khối lượng
buôn bán quốc tế gặp trở ngại do có quá nhiều tiêu chuẩn mà các quốc gia đặt ra.
Trợ cấp xuất khẩu:sẽ làm mức cung thị trường nội địa giảm do mở rộng quy
mô sản xuất ,giá cả thị trường nội địa tăng lên, người tiêu dùng trong nước sẽ bị
thiệt một khoản tiền nhất định. Chi phí ròng của xã hội phải bỏ ra để bảo hộ việc
khuyến khích xuất khẩu gây thiệt hại cho xã hội gồm có chi phi nội địa tăng lên do
sản xuất thêm nhiều sản phẩm và chi phí do giảm mức tiêu dùng trong nước .
1.2. CÁC LOẠI RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA MỸ
1.2.1. RÀO CẢN THUẾ QUAN CỦA THỊ TRƯỜNG MỸ ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP
KHẨU.
Biểu thuế nhập khẩu (hay còn gọi là biểu thuế quan) HTS hiện hành của Hoa
Kỳ được ban hành trong Luật Thương mại và Cạnh tranh Omnibus năm 1988 và có
hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 1989. Hệ thống thuế quan (thuế nhập khẩu) của Hoa Kỳ
được xây dựng trên cơ sở hệ thống thuế quan (gọi tắt là HS) của Hội đồng Hợp tác
Hải quan, một tổ chức liên chính phủ có trụ sở tai Bruxen. Mức thuế nhập khẩu của
Hoa Kỳ có thể thay đổi và được công bố hàng năm.
 Các loại thuế :
 Thuế theo trị giá: Hầu hết các loại thuế quan của Hoa Kỳ được đánh theo tỷ
lệ trên giá trị, tức là bằng một tỷ lệ phần trăm trị giá giao dịch của hàng hoá
nhập khẩu. Ví dụ mức thuế tối huệ quốc năm 2004 đối với chè xanh có hương
vị đóng gói không quá 3 kg/gói là 6,4%.
 Thuế theo trọng lượng hoặc khối lượng: Một số hàng hoá, chủ yếu là nông
sản và hàng sơ chế phải chịu thuế theo trọng lượng hoặc khối lượng. Loại

 Luật Thuế:
 Luật Thuế năm 1930: Luật này ra đời nhằm điều tiết hàng hoá nhập khẩu vào
Hoa Kỳ, bảo vệ chống lại việc nhập khẩu hàng giả. Đến nay nhiều điều
khoản của luật này vẫn còn hiệu lực, song thuế suất đã được nhiều lần sửa
đổi và hạ xuống nhiều.Luật Thuế năm 1930 quy định tất cả hàng hoá nhập
khẩu có xuất xứ ngoại quốc phải được đánh dấu nước xuất xứ bằng tiếng
Anh, phải ghi rõ ràng, không tẩy xoá được, ghi ở chỗ dễ nhìn thấy trên bao
bì. Việc xác định xuất xứ là rất quan trọng vì hàng nhập khẩu ở những nước
đang phát triển hoặc những nước đã ký hiệp định thương mại với Hoa Kỳ sẽ
được hưởng thuế suất thấp hơn. Quy định này chỉ bắt buộc với sản phẩm
hoàn chỉnh, khi nhập vào Hoa Kỳ có thể bán thẳng cho người tiêu dùng.Hàng
nhập khẩu vi phạm quy định ghi nhãn xuất xứ sẽ bị Hải quan giữ lại. Hải
quan có thể yêu cầu người nhập khẩu nộp thuế vi phạm quy định ghi nhãn
xuất xứ bằng 10% trị giá hàng hoá, trừ phi hàng đó được tái xuất, tiêu huỷ
hoặc ghi nhãn xuất xứ dưới sự giám sát của Hải quan.
 Luật Thương mại năm 1974: Luật này định hướng cho các hoạt động buôn
bán. Luật có nhiều điều khoản cho phép đền bù tổn thất cho các ngành công
nghiệp Hoa Kỳ bị cạnh tranh bởi hàng nhập khẩu.
 Hiệp định Thương mại năm 1979: Bao gồm các điều khoản về sự bảo trợ của
Chính phủ về các rào cản kỹ thuật trong buôn bán, các sửa đổi thuế bù trừ và
thuế chống hàng thừa, ế.
 Luật tổng hợp Thương mại và Cạnh tranh năm 1988: Luật này uỷ nhiệm
Tổng thống Hoa Kỳ tham gia vòng đàm phán Uruguay, đồng thời thiết lập
thủ tục đặc biệt cho phép Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với
các quyết định không chịu mở cửa cho hàng hoá Hoa Kỳ vào và vi phạm
Quyền sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ.
 Quy định mới của Hải quan Hoa Kỳ về việc đặt cọc tiền thuế đối với hàng
nhập khẩu bị đánh thuế chống bán phá giá khi xuất sang thị trường này. Theo
quy định mới, khoản tiền đặt cọc sẽ tương đương với giá trị thuế chống bán
phá giá tính trên tổng lượng hàng mà một công ty nhập khẩu (từ nước bị áp

như Việt Nam. Mức thuế tối huệ quốc (MFN) nằm trong phạm vi từ dưới 1%
đến gần 40%, trong đó hầu hết các mặt hàng chịu mức thuế từ 2% đến 7%.
Hàng dệt may và giầy dép thường chịu mức thuế cao hơn. Mức thuế MFN
theo giá trị nói chung bình quân khoảng 4%. Mức thuế MFN được ghi trong
cột “General” của cột 1 trong biểu thuế nhập khẩu (HTS) của Hoa Kỳ.
 Mức thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN) được áp dung đối với những nước
chưa phải là thành viên WTO và chưa ký hiệp định thương mại song phương
với Hoa Kỳ như Lào, Cuba, Bắc Triều Tiên. Thuế suất Non-MFN nằm trong
khoảng từ 20% đến 110%, cao hơn nhiều lần so với thuế suất MFN. Mức thuế
Non- FMN được ghi trong cột 2 của biểu thuế HTS của Hoa Kỳ.
 Mức thuế áp dụng với Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Hàng hoá
nhập khẩu từ Canada và Mexico được miễn thuế nhập khẩu hoặc được hưởng
thuế suất ưu đãi thấp hơn mức thuế MFN. Ví dụ, mức thuế MFN năm 2004 áp
dụng chung với dưa chuột chế biến là 9,6%, trong khi đó nếu nhập khẩu từ
Canada hoặc Mêxicô thì được miễn thuế. Thuế suất ưu đãi đối với hàng nhập
từ Canada và Mêxicô được ghi ở cột “Special” của cột 1 trong biểu thuế HTS
trong đó (CA) là ký hiệu dành cho Canada và (MX) là ký hiệu dành cho
Mêxicô
 Chế độ ưu đãi độ thuế quan phổ cập (Generalized System of Preferences -
GSP). Một số hàng hoá nhập khẩu từ một số nước đang phát triển được Hoa
kỳ cho hưởng GSP được miễn thuế nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Chương trình
GSP của Hoa kỳ thực sự được thực hiện từ 1 tháng 1 năm 1976 với thời hạn
ban đầu là 10 năm. Từ đó đến nay, chương trình này đã được gia hạn nhiều
lần với một số sửa đổi.Hiện nay, có khoảng 3.500 sản phẩm từ trên 140 nước
và vùng lãnh thổ được hưởng ưu đãi này của Hoa kỳ, trong đó không có Việt
nam. Những hàng hoá được hưởng GSP của Hoa kỳ bao gồm hầu hết các sản
phẩm công nghiệp và bán công nghiệp, một số mặt hàng nông thuỷ sản, vàcác
nguyên liệu công nghiệp.Những mặt hàng không được đưa vào diện hưởng
GSP bao gồm một số mặt hàng hàng dệt may; đồng hồ; các mặt hàng điện tử
nhập khẩu nhậy cảm; các mặt hàng thép nhập khẩu nhậy cảm; giầy dép, túi

 Luật ưu đãi thương mại Andean (Andean Trade Preference Act - ATPA) được
ban hành tháng 12 năm 1991 nhằm hỗ trợ các nước Bolivia, Colombia,
Ecuador và Peru trong cuộc chiến chống sản xuất và buôn lậu ma tuý bằng
cách phát triển kinh tế. Theo Luật này, hầu hết các sản phẩm nhập khẩu từ
những các nước Adean vào Hoa Kỳ được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu,
trong đó có khoảng 6.300 sản phẩm được miễn thuế hoàn toàn.
ATPA được thay thế bằng Luật Xúc tiến Thương mại và Xoá bỏ Ma tuý
(ATPDEA) được ban hành tháng 8 năm 2002 là một phần của Luật Thương
mại năm 2002. ATPDEA đã mở rộng diện các mặt hàng được miễn thuế
nhập khẩu. ATPDEA có hiệu lực đến 31 tháng 12 năm 2006. Tổng thống Hoa
Kỳ có thể huỷ hoặc tạm ngừng quyền hưởng lợi, hoặc huỷ, tạm ngừng hoặc
thu hẹp một số lợi ích của một nước nào đó nếu như nước này không thỏa
mãn các tiêu chuẩn hưởng lợi đặt ra trong Luật.
Bốn nước Adean nói trên cũng được hưởng GSP, song diện mặt hàng được
ưu đãi theo ATPA rộng hơn GSP và qui định về xuất xứ trong ATPA cũng
rộng rãi hơn. Ví dụ, nguyên phụ liệu nhập khẩu từ Puerto Rico, Virgin Islands
thuộc Mỹ, và các nước hưởng lợi của Luật Phục hồi Kinh tế Khu vực Lòng
chảo Caribê có thể được tính vào yêu cầu 35% trị giá gia tăng nội địa. Những
mặt hàng không được ưu đãi theo Luật ATPA và ATPDEA cũng tương tự
như những mặt hàng không được hưởng lợi theo CBI.
 Luật Hỗ trợ Phát triển Châu Phi (African Growth and Opportunity Act -
AGOA). Luật này cho phép gần như toàn bộ các hàng hoá của 38 nước Châu
Phi được nhập khẩu vào Hoa Kỳ miễn thuế và không bị hạn chế về số lượng.
Chính quyền Mỹ đang đề nghị Quốc hội gia hạn hiệu lực của Luật này khi hết
hạn vào năm 2008.
 Các hiệp định thương mại tự do song phương. Tính đến hết tháng 1 năm
2004, Hoa Kỳ đã ký hiệp định thương mại tự do song phương với Israel
(1985), Jordan (2000), Singapore (2002), Chi lê (2002), và Australia (2004).
Hoa Kỳ đang tiếp tục đàm phán các hiệp định tương tự với nhiều khu vực và
nước trên thế giới, trong đó có khu vực mậu dịch tự do toàn Châu Mỹ. Nhìn

mại không tích cực, thông thoáng. Trong khi một số các rào cản kỹ thuật
trong thương mại có cơ sở khoa học thì rất nhiều hàng rào khác lại không
có cơ sở và chúng được sử dụng ngày càng nhiểu để hạn chế tự do thương
mại. Từ giữa những năm 1990, Bộ Nông nghiệp Mỹ đã đánh giá rằng các
sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Mỹ đạt trị giá 5 tỷ đô la Mỹ là đối
tượng bị áp dụng các rào cản kỹ thuật trong thương mại của 63 nước trên
thế giới. Mặt khác, trong vài năm gần đây, Mỹ đã gia tăng đáng kể việc
giám sát nhập khẩu tại các cửa khẩu dẫn đến kết quả là danh mục các sản
phẩm nhập khẩu bị giám sát đã không ngừng tăng lên.
1.2.2.2.Luật thực phẩm: Các thực phẩm nhập khẩu vào Mỹ không chỉ là đối
tượng chịu thuế nhập khẩu mà còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng và
phẩm cấp để đảm bảo cung cấp thực phẩm an toàn.
1.2.2.3Đạo luật chống khủng bố sinh học năm 2002 (BTA).Việc ban hành
đạo luật này tạo điều kiện cho FDA phản ứng nhanh chóng trước các nguy cơ khủng
bố và ra các báo hiệu khẩn cấp liên quan đến việc cung cấp thực phẩm. Đạo luật này
quy định rằng FDA và Hải quan cửa khẩu (CBP) có thể cấm nhập các thực phẩm
nhập khẩu không đăng ký theo quy định và các sản phẩm không có đủ những thông
tin cần thiết. FDA và CBP đã ban hành hướng dẫn thực hiện trong đó giải thích các
cơ quan chức năng làm thế nào để thực thi các quy định này. Đạo luật bắt đầu có
hiệu lực từ 12/8/2004 và được áp dụng rộng rãi từ 1/11/2004. Đạo luật này có nhiều
quy định được xem như những rào cản thương mại đối với hàng hóa hiện đang và sẽ
được nhập khẩu vào Mỹ.
1.2.2.4.Luật về nhãn hiệu hàng hóa Ở Mỹ tồn tại nhiều quy định do các cơ
quan chức năng khác nhau ban hành nhằm bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu về
nhãn hiệu, tên thương mại, tácquyền và sáng chế. Đạo luật về Nhãn hiệu năm 1946
cấm nhập khẩu những sản phẩm làmnhái theo những thương hiệu đã được đăng ký
tại Hoa kỳ, hoặc gây tương tự đến mức gây nhầm lẫn. Đạo luật Thuế quan năm 1930
cho phép các cơ quan hải quan Mỹ cấm nhập các sản phẩm từ nước ngoài mang
nhãn hiệu đã đựơc các tổ chức, công dân Mỹ đăng ký tại Hoa Kỳ. Các quy định của
Mỹ cũng cho phép các chủ sở hữu những đối tượng như nhãn hiệu hàng hóa và tác

(1) DOC phải xác định hàng nước ngoài đang được bán phá giá hoặc có thể sẽ
được bán phá giá ở thị trường Hoa Kỳ,
(2) USITC phải xác định hàng nhập khẩu được bán phá giá đang gây thiệt hại
vật chất hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất hoặc ngăn cản hình thành ngành công
nghiệp tương tự tại Hoa Kỳ.
Thuế chống bán phá giá sẽ được ấn định bằng mức chênh lệch giữa “giá trị
thông thường” và mức giá xuất khẩu vào Hoa Kỳ. DOC sẽ xác định giá trị thông
thường của hàng nhập khẩu bằng một trong ba cách. Theo thứ tự ưu tiên là:
(1) Giá bán của hàng hóa tại thị trường nội địa,
(2) Giá bán hàng hóa sang thị trường thứ ba,
(3) “Giá trị tính toán” của hàng hóa bằng tổng chi phí sản xuất cộng với các
khoản lợi nhuận, tiền hoa hồng bán hàng, và các chi phí hành chính khác như đóng
gói.
“Giá trị tính toán” được coi là giá trị thông thường để tính biên phá giá khi giá
bán ở thị trường nội địa hoặc giá bán sang nước thứ ba thấp hơn chi phí sản xuất
hoặc hàng hóa đang bị điều tra không bán ở thị trường nội địa hoặc không được bán
sang nước thứ ba.
Nếu từ hai nước trở nên bị kiện bán phá giá hoặc trợ giá, luật yêu cầu USITC
đánh giá lũy tích số lượng và ảnh hưởng của các hàng nhập khẩu tương tự từ các
nước bị kiện nếu chúng cạnh tranh với nhau và với sản phẩm tương tự của Hoa Kỳ
trên thị trường Hoa Kỳ. Nếu hàng nhập khẩu từ một nước đang bị điều tra được coi
là không đáng kể (thường được xác định là nhỏ hơn 3% tổng giá trị nhập khẩu của
sản phẩm bị điều tra), việc điều tra nước đó sẽ được dừng lại. Cũng có những quy
định miễn trừ áp dụng những quy tắc lũy tích ví dụ như việc áp dụng đối với các
nước được hưởng ưu đãi của Sáng kiến Lòng chảo Caribê (CBI) và đối với Ixaren.
1.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI VƯỢT QUA CÁC RÀO CẢN THƯƠNG MẠI.
Hiện nay thương mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, sự giao lưu trao đổi khinh tế
đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia tạo nên sự phát triển kinh tế của các quốc gia
cung với đó là sự phát triển của nền kinh tế thế giới .Có rất nhiều lý do để chính phủ
một nước can thiệp thương mại là bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ hoặc theo đuổi

02' vĩ độ Bắc và chiều ngang từ 102
o
08' đến
109
o
28' kinh độ Đông. Chiều dài tính theo đường thẳng trong đất liền từ Bắc xuống
Nam khoảng 1.650 km. Chiều ngang từ Đông sang Tây nơi rộng nhất trên đất liền là
600 km, nơi hẹp nhất 50 km.
Việt Nam có biên giới đất liền dài 3.730 km. Phía Bắc giáp nước Cộng hoà
Nhân dân Trung Hoa với chiều dài biên giới 1.150 km. Phía Tây giáp Cộng hoà Dân
chủ Nhân dân Lào trên chiều dài biên giới 1.650 km và giáp Vương quốc
Cămpuchia - 930 km.
Qua biển Đông và vịnh Thái Lan là Cộng hoà Philippin, Cộng hoà Inđônêxia,
Cộng hoà Singapo, Cộng hoà Brunây và Liên bang Malaixia
2.1.1.2.Lĩnh vực khai thác thuỷ sản
 Khai thác hải sản
Là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên trên biển và vùng nước lợ.
Hoạt động khai thác hải sản ở Việt Nam được tiến hành tập trung trong khu vực
ngư trường số 71, khu vực Trung - Tây Thái Bình Dương, theo bản đồ ngư trường
thế giới của FAO.
Nhìn chung, nghề khai thác hải sản Việt Nam là nghề cá nhỏ, hoạt động ven bờ
là chủ yếu. Do sự tăng trưởng quá lớn cường lực khai thác nên trữ lượng nguồn lợi ở
vùng biển ven bờ đã có dấu hiệu bị đe doạ, một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao
đã bị khai thác quá mức. Vì vậy ngành Thuỷ sản Việt Nam chủ trương cơ cấu lại
nghề khai thác để giảm áp lực đối với nguồn lợi trong vùng biển này, bằng cách
phát triển khai thác các nguồn lợi còn chưa bị khai thác ở vùng biển xa bờ (khai thác
hải sản xa bờ), đồng thời chuyển một bộ phận ngư dân sang những lĩnh vực hoạt
động kinh tế khác như nuôi trồng, kinh doanh, cung ứng dịch vụ hậu cần nghề cá,
tham gia hoạt động phục vụ du lịch, giải trí, v.v
Khai thác hải sản xa bờ:

Bảng1: Số liệu khai thác và nuôi trồng thuỷ sản Tổng số
Chia ra
Năm
Khai thác Nuôi trồng

Nghìn tấn
1990
890,6

728,5 162,1

1991
969,2

801,1 168,1

1992
1016,0

843,1 172,9

1993
1100,0

911,9 188,1

1994

2250,5

1660,9 589,6

2001
2434,7

1724,8 709,9
2002
2647,4

1802,6 844,8
2003
2859,2

1856,1 1003,1
2004
3142,5

1940,0 1202,5
Sơ bộ 2005
3432,8

1995,4 1437,4

(Nguồn Bộ thuỷ sản)
2.1.1.3.Tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản
Chiều dài bờ biển là 3260km,đường bờ biển của Việt Nam kéo dài từ Móng
Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), đi qua hơn 13 vĩ độ với nhiều vùng
sinh thái khác nhau, nhìn ra Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc, Thái Bình Dương ở miền


Nghìn ha

Nghìn ha

Nghin haCHỈ TIÊU
2000 2001 2002 2003 2004 Sơ bộ 2005 T
ỔNG SỐ

641,9

755,2

797,7

867,6

920,1


13,1

11,2

16,5Nuôi tôm

324,1

454,9

509,6

574,9

598,0

616,9Nuôi h
ỗn hợp và thuỷ sản khác

22,5

22,4



253,0

241,6

254,8

277,8

282,7Nuôi cá

225,4

228,9

232,3

245,9

267,4

272,1Nuôi tôm

16,4


0,8

1,8

2,3

2,4

2,9

2,9

Nguồn :Tổng cục thống kê
2.1.2. V ai trò và vị trí của ngành thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân
Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia
Theo số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ sản
giai đoạn 1995 - 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng. Trong các hoạt
động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng. Sản lượng khai thác hải
sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng
7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 - 2003). Nuôi trồng thuỷ sản
đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng, chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status