Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng sông đà - Pdf 13

Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN XI MĂNG SÔNG ĐÀ
(MÃ CHỨNG KHOÁN: SCC)
Giáo viên hướng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Tú
Nhóm phân tích:
Họ và tên
Mã sinh viên
Lớp
Nguyễn Văn Bộ
CQ500210
TCDN 50C
Lê Hồng Chiến
CQ500263
TCDN 50C
Nguyễn Đức Cường
CQ500328
TCDN 50C
Trần Mạnh Hùng
CQ501209
TCDN 50C
Hồ Đình Thanh
CQ502311
TCDN 50C
Hà Nội, tháng 6/2011
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà
MỤC LỤC
Lời mở đầu 1
Chương І: Giới thiệu ngành xi măng và công ty xi măng Sông Đà 4
1.1. Ngành xi măng trên thế giới 4
1.2. Tổng quan ngành xi măng Việt Nam 4
1.2.1. Vị trí ngành xi măng trong nền kinh tế 4

2.6.1. Phân tích các chỉ tiêu cơ bản 39
2.6.2. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ROE 42
2.6.3. Tỷ suất sinh lời tài sản ROA 43
2.6.4. Phân tích theo phương trình Dupont 43
2.7. Phân tích SWOT công ty Cổ phần xi măng Sông Đà 44
2.7.1. Điểm mạnh 44
2.7.2. Điểm yếu 45
2.7.3. Cơ hội 45
2.7.4. Thách thức 46
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính công ty 47
cổ phần xi măng Sông Đà 47
3.1. Về tình hình công nợ 47
3.2. Về hoạt động kinh doanh 48
3.3. Về tình hình quản lý và sử dụng vốn kinh doanh 49
3.4. Tăng cường công tác quản lý lao động 50
Kết luận 52
Danh mục tham khảo 53
Phụ lục 54
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhà máy Xi măng Sông Đà là đơn vị thành viên của Công ty Sông Đà 12 thuộc
Tập đoàn Sông Đà đã trở thành Công ty cổ phần xi măng Sông Đà hoạt động theo Luật
doanh nghiệp theo Quyết định số 1461 QĐ/BXD ngày 01/11/2002 với số vốn Điều lệ
khi thành lập là 17 tỷ đồng (trong đó Tổng công ty Sông Đà giữ cổ phần chi phối
chiếm tỷ lệ 52,7%). Cổ phiếu của Công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng
khoán Hà Nội (HNX) vào ngày 20 tháng 12 năm 2006.
Công ty có lợi thế là thành viên của Tổng Công ty Sông Đà, nên Công ty được
tham gia cung cấp xi măng cho các dự án lớn của Tổng Công ty Sông Đà. Với uy tín
từ tổng công ty Sông Đà, với thị trường tiêu thụ ổn định do 60% sản lượng dùng để

đó, nhóm đã tính toán các chi tiêu trung bình ngành dựa vào việc tính trung bình cộng
giản đơn các số liệu và chỉ tiêu tài chính của 5 công ty thuộc ngành xi măng có quy mô
tổng tài sản tương đương gần nhất với công ty và có thời gian niêm yết trên thị trường
ít nhất là 3 năm, đó là các công ty có mã chứng khoán là CCM, SDY, TBX, TXM và
YBC. Trên cơ sở đó so sánh số liệu, chỉ tiêu của công ty với các doanh nghiệp trong
ngành cũng như với trung bình ngành để rút ra những nhận xét.
4. Phạm vi nghiên cứu
Bài nghiên cứu về công ty cổ phần xi măng sông Đà hoạt động chủ yếu là sản
xuất xi măng. Công ty được đặt trong thị trường xi măng nói riêng và nền kinh tế nói
chung để xem xét đầy đủ những yếu tố bên trong và bên ngoài công ty.
5. Cấu trúc bài phân tích
Bài phân tích gồm có 3 phần: Lời mở đầu, Nội dung và Kết luận. Phần nội dung
của bài gồm các phần:
Chương I. Giới thiệu ngành xi măng và công ty cổ phần xi măng Sông Đà
Chương II. Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà
Chương III. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính công ty cổ
phần xi măng sông Đà.
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 3
Do kiến thức còn hạn chế và thông tin chưa được đầy đủ, trong quá trình phân
tích, đề tài không tránh khỏi những sai lầm và thiếu sót. Nhóm mong nhận được sự
đánh giá và góp ý của cô để bài phân tích được hoàn thiện hơn.
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 4
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU NGÀNH XI MĂNG VÀ CÔNG TY
XI MĂNG SÔNG ĐÀ
1.1. Ngành xi măng trên thế giới
Nền kinh tế thế giới trong những năm qua, đã đạt được những bước phát triển
đáng nói, mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng tài chính 2008 nhưng nền kinh tế thế giới
đang dần hồi phục và trên đà phát triển trở lại. Xu hướng phát triển kinh tế thế giới có
thiên hướng chú vào khu vực châu Á Tiêu dùng xi măng trong những năm qua không

nhất trên thị trường xi măng Việt Nam hiện nay có thể kể đến hai loại chính:
Xi măng PORTLAND chỉ gồm thành phần chính là clinke và thạch cao. Ví dụ như:
PC 30, PC 40, PC 50.
Xi măng PORTLAND hỗn hợp vẫn với các thành phần chính là clinke và thạch
cao ngoài ra còn có thêm một số thành phần phụ gia khác như: đá pudolan, xỉ lò…
Trên thị trường loại này có tên như: PCB30, PCB40.
1.2.3. Một số đặc điểm ngành xi măng Việt Nam
1.2.3.1. Phân phối ngành xi măng khá rải rác do phụ thuộc vào nguồn
nguyên liệu
Tại Việt Nam, đá vôi – nguyên liệu chính sản xuất ra xi măng – có trữ lượng
khá dồi dào tạo điều kiện cho ngành công nghiệp xi măng phát triển. Với tổng số
khoảng 190 mỏ đá vôi có khả năng sản xuất ra khoảng 22 tỷ tấn xi măng. Tuy vậy các
mỏ đá vôi phân bổ khá giải giác và khác nhau về quy mô điều này cũng ảnh hưởng đến
phân bổ ngành xi măng, các nhà máy xi măng lớn chủ yếu tập chung ở các tỉnh miền
bắc và các tỉnh cực nam.
Tuy có nguồn nguyên liệu khá dồi dào để sản xuất ra xi măng nhưng ngành xi
măng Việt Nam Vẫn phải lệ thuộc vào nguồn clinke nhập khẩu từ các quốc gia khác
như: Thái Lan, Hàn Quốc…Ngành xi măng mới chỉ đáp ưng được khoảng 55% nhu
cầu Clinke để sản xuất ra xi măng còn lại phải nhập khẩu. Điều này gây ra rất nhiều
khó khăn khi mà nguồn clinke (nguồn nguyên liệu chính để sản xuất xi măng) tăng
mạnh và thời điểm những năm 2009, 2010. Mà nguồn nguyên liệu nhập khẩu này chủ
yếu để đáp ứng cho các nhà máy và các trạm nghiền ở khu vực phía nam.
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 6
Những nhà máy sản xuất được xem là dẫn đầu trong ngành sản xuất xi măng có
công xuất hơn 1 triệu tấn/ năm, chiếm hơn 60% thị phần xi măng cả nước và chủ yếu
là của tổng công ty xi măng Việt Nam. Do vậy vai trò chi phối thị trường chủ yếu tập
chung ở tổng công ty xi măng Việt Nam.
1.2.3.2. Công suất ngành xi măng đang tăng mạnh – tuy nhiên vẫn mất cân
đối giữa các vùng
Chỉ tính riêng trong năm 2010 đã có khoảng 45 dự án nhà máy mới đi vào hoạt

1.2.3.6. Giá xi măng tại khu vực miền nam cao hơn miền bắc khoảng 20%
Do đặc điểm chi phí vận chuyển chiếm tỷ trọng khá cao trong giá bán xi măng
nên xi măng sản xuất và tiêu thụ tại địa phương thường dẻ hơn và có lợi thế cạnh tranh
vể giá so với xi măng tại các vùng khác. Với lợi thế nguồn nguyên liệu dồi dào và
nhiều nhà máy xi măng tập trung tại miền bắc, do vậy mà thị trường xi măng tại miền
bắc gặp nhiều sự cạnh tranh hơn so với khu vực miền nam. Trong khi đó tại thị trường
miền nam, do nguồn cung thường xuyên không đáp ứng đủ nhu cầu nên giá xi măng
khu vực miền bắc thường thấp hơn miền nam khoảng 20%.
Các doanh nghiệp phía nam có lợi thế quyết định thị trường hơn các doanh
nghiệp phía bắc do thị trường chịu ít áp lực hơn. Giá xi măng cao nhất nước có thể kể
đến xi măng Hà tiên 1 và hà tiên 2.
1.2.4. Nhận xét về thị trường xi măng Việt Nam năm 2010
Năm 2010 chứng kiến những biến động không tốt của ngành xi măng.
Giai đoạn đầu năm, cùng với sự phục hồi của nền kinh tế sau khủng hoảng, đầu
tư phát triển được kích thích, thị trường bất động sản ấm trở lại, các dự án nhà ở
và khu đô thị được tiếp tục triển khai đã đẩy nhu cầu tiêu thụ xi măng tiếp tục
tăng so với năm 2009. Tuy nhiên do nguồn cung xi măng vẫn khá dồi dào
(nguyên nhân: Do lượng tồn kho khá lớn từ năm 2009, nhiều dự án sản xuất xi
măng tiếp tục đi vào hoạt động) nên giá xi măng chỉ tăng nhẹ. Theo thống kê
của Cục Quản lý giá, trong quí, giá xi măng tại các nhà máy đã 2 lần tăng: Lần
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 8
thứ nhất là vào tháng 1, tăng 5% do chính sách tính thuế VAT mới vào giá bán
xi măng. Lần 2 vào tháng 2, tăng bình quân khoảng 4% (tương đương tăng
30.000 - 50.000 đ/tấn) do chi phí đầu vào tăng như giá than, giá xăng dầu Còn
đến tháng 3, giá bán tại các nhà máy đang ở mức ổn định so cuối tháng 2.
Tuy nhiên, những quý tiếp theo đã bắt đầu xuất hiện hiện tượng cung vượt
quá cầu và chênh lệch ngày càng lớn. Hiện cả nước có khoảng 105 nhà máy sản
xuất xi măng, công suất toàn ngành có thể lên tới 61 triệu tấn/năm. Nhưng trong
năm 2010, theo kế hoạch các doanh nghiệp chỉ sản xuất ở mức 53 triệu tấn.
Trong khi đó, ước tính nhu cầu xi măng của cả nước trong năm 2010 này chỉ

Nhà máy Xi măng Sông Đà là đơn vị thành viên của Công ty Sông Đà 12 thuộc
Tập đoàn Sông Đà đã trở thành Công ty cổ phần xi măng Sông Đà hoạt động theo Luật
doanh nghiệp theo Quyết định số 1461 QĐ/BXD ngày 01/11/2002 với số vốn Điều lệ
khi thành lập là 17 tỷ đồng (trong đó Tổng công ty Sông Đà giữ cổ phần chi phối
chiếm tỷ lệ 52,7%). Công ty tiếp tục hoạt động trên cơ sở máy móc, dây chuyền thiết
bị công nghệ và nguồn nhân lực hiện có. Công ty có tư cách pháp nhân đầy đủ theo
quy định của Pháp luật Việt Nam, có con dấu riêng và độc lập về tài sản, có Điều lệ tổ
chức và hoạt động của công ty.
Niêm yết: ngày 20 tháng 12 năm 2006 cổ phiếu của Công ty được niêm yết trên
sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội.
1.3.2. Quá trình phát triển
Nhà máy được chính thức khởi công xây dựng từ tháng 02 năm 1993 với tổng
diện tích đất đai là 35.333 m2, trong đó diện tích nhà xưởng là 32.600 m2, diện tích
sân bãi là 2.733 m2. Dây chuyền thiết bị tương đối hoàn chỉnh và hiện đại kể từ khâu
nghiền sấy phối liệu cho đến khâu đóng bao xi măng.
Sau gần một năm kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, sản phẩm
xi măng của đơn vị đã được Tổng cục đo lường chất lượng chứng nhận phù hợp với
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 10
tiêu chuẩn Việt Nam và sản phẩm đã được đưa vào xây dựng các công trình dân dụng,
một số các công trình trọng điểm tại địa phương
Đến tháng 6 năm 1996, sản phẩm của đơn vị tiếp tục được cấp dấu chất lượng
hợp chuẩn và công suất thực tế đã khai thác đạt khoảng 80% so với công suất thiết kế.
Tháng 3 năm 1998, sản phẩm của Nhà máy đạt Huy chương Bạc về chất lượng xi
măng quốc gia, đạt 100% công suất thiết kế và tiêu thụ. Năm 2000, Tổng công ty Sông
Đà giao kế hoạch sản xuất và tiêu thụ 75.000 tấn xi măng/năm, thực tế đã sản xuất và
tiêu thụ đạt 85.000 tấn.
Tháng 10 năm 2001, Nhà máy được cấp chứng nhận Hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001-2000. Hiện nay, Công ty vẫn duy trì áp dụng hệ
thống quản lý chất lượng này và cải tiến hệ thống quản lý chất lượng ngày càng phù
hợp.

Việt trì, Phú Thọ, Hòa Bình, ) và hình thức tiêu thụ là qua các đại lý bán lẻ hoặc các
đầu mối tiêu thụ. Ngoài ra, Công ty còn tiêu thụ sản phẩm ở Hà Nội, Hà Tây, trung
bình khoảng 1000 tấn/ tháng.
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 12
1.3.5. Cơ cấu cổ đông
Chỉ tiêu
Sở hữu nhà nước
Sở hữu nước ngoài
Sở hữu khác
% sở hữu
57.21
1.86
40.93
Biểu đồ 1. Cơ cấu cổ đông công ty xi măng Sông Đà
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 13
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN
XI MĂNG SÔNG ĐÀ
2.1. Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.1. Phân tích doanh thu, chi phí
2.1.1.1.Xu hướng biến động
Doanh thu:
Biểu đồ 2. Doanh thu thuần và giá vốn hàng bán giai đoạn 2007 - 2010
Trong 3 năm 2007 – 2009: Doanh thu thuần đều tăng, trong đó mức tăng năm
2009 cao hơn so với năm 2008. Năm 2008, tốc độ tăng doanh thu là 13,57% so với
năm 2007, trong khi năm 2009 mức tăng là 38,75%.
Năm 2010, doanh thu giảm đột biến, giảm 5,23% so với năm 2007.
Giá vốn hàng bán:
Từ năm 2008 – 2010, giá vốn hàng bán đều tăng so với năm 2007, trong đó tốc
độ tăng năm 2009 lớn nhất là 40,83%. Năm 2010, giá vốn hàng bán giảm mạnh so với

4000
4500
Chí phí bán hàng
Chi phí quản lý doanh
nghiệp
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 14
0
20000
40000
60000
80000
100000
120000
2007 2008 2009 2010
Sản lượng sản xuất
Sản lượng tiêu thụ
Chi phí bán hàng: Năm 2008 – 2009 đều tăng so với năm 2007 với mức tăng
lần lượt là 24,82% và 34,19%. Năm 2010, Chi phí bán hàng giảm đột biến với mức
giảm so với năm 2007.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: CP Quản lý doanh nghiệp tăng rất mạnh qua các
năm 2008, 2009 với mức tăng lần lượt là 88,06% và 97,63% so với năm 2007. Năm
2010, chi phí này có giảm nhưng vẫn tăng cao so với năm 2007.
Nhận xét chung:
- Trong các loại chi phí, giá vốn hàng bán luôn chiếm tỷ trọng cao nhất so với
tổng doanh thu, luôn ở mức từ 85% - 95%. Đây là khoản mục có ảnh hưởng lớn
nhất đến tổng chi phí của doanh nghiệp.
- Từ năm 2007 – 2009, tỷ trọng của giá vốn hàng bán/DT thuần xấp xỉ 85%,
nhưng đến năm 2010, tỷ trọng giá vốn/DT thuần tăng đột biến là 95,98%.
=> So với mặt bằng chung về chi phí giá vốn hàng bán của các doanh nghiệp cùng
ngành vào khoảng 80% qua các năm. Điều đó cho thấy việc quản lý chi phí trực tiếp

Năm 2009: Sản lượng 2009 tăng 4,23% so với năm 2007. Tuy nhiên, do giá xi
măng tiếp tục tăng so với năm 2007, 2008, dẫn đến doanh thu năm 2009 tăng mạnh so
với năm 2007 (38,75%).
Như vậy: Trong giai đoạn 2007 – 2009, nhu cầu xi măng trên thị trường tăng
cao hơn so với lượng cung trên thị trường, đẩy giá xi măng lên cao, dẫn đến doanh thu
tăng.
Năm 2010: Sản lượng tiêu thụ giảm đột biến: Giảm 36,%. Trong khi doanh thu
giảm 5% so với năm 2007. Như vậy, giá xi măng cũng đã tăng, nhưng do sản lượng
tiêu thụ quá thấp làm cho doanh thu vẫn giảm.
Lý do dẫn đến sản lượng tiêu thụ xi măng của công ty thấp: Giá nguyên vật liệu
đầu vào tăng mạnh, doanh nghiệp đã tăng giá bán nhưng không bù đắp được doanh
thu, Hơn nữa, chính việc tăng giá bán, làm cho việc bán sản phẩm trở nên khó hơn.
Giá vốn hàng bán:
-Giá vốn hàng bán chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu (85% - 95%), và
tăng lên qua các năm 2008, 2009, 2010.
-Đặc biệt tỷ trọng giá vốn hàng bán/Doanh thu thuần năm 2010 tăng đột biến và
cao hơn nhiều so với các công ty trong ngành.
-Việc giá vốn hàng bán tăng giai đoạn 2008 – 2010 do nguyên nhân:
+ Chi phí nguyên vật liệu tăng cao trong 3 năm này ảnh hưởng đến giá vốn hàng
bán. Bởi lẽ đối với ngành xi măng, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm từ 35 – 45%
trong giá vốn hàng bán.
+ Giá điện các năm tăng lên, chi phí điện chiếm khoảng 18% trong giá vốn sản
xuất xi măng.
+ Đồng thời giá bán than qua các năm cũng tăng lên.
+ Việc quản lý chi phí của doanh nghiệp kém.
Qua 2 chỉ tiêu, doanh thu và chi phí có thể thấy tình hình sản xuất của công ty
nhìn chung là kém hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành. Doanh thu của công ty
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 16
giai đoạn 2007 – 2009 có thể tăng nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp
cùng ngành.

325
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
-898
6550
4711
4711
Lợi nhuận của công ty tăng trong giai đoạn 2007 – 2009, đặc biệt là năm 2009.
Năm 2010, lợi nhuận giảm mạnh tới mức âm. Như đã phân tích ở trên, giai đoạn 2007
– 2009, doanh thu và chi phí của doanh nghiệp đều tăng lên nhưng mức tăng của
doanh thu cao hơn mức tăng của chi phí dẫn đến lợi nhuận của công ty đã tăng lên.
Năm 2010, việc bán hàng của công ty không tốt
2.2. Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động
2.2.1. Vòng quay khoản phải thu – kỳ thu tiền bình quân
Doanh thu thuần
Vòng quay khoản phải thu =
Phải thu bình quân
365
Kỳ thu tiền bình quân =
Vòng quay khoản phải thu
Hệ số Vòng quay khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu
thành tiền mặt. Chỉ tiêu Kỳ thu tiền bình quân cho biết số ngày bình quân để DN thu
hồi một khoản phải thu.
Từ năm 2007 – 2010 vòng quay khoản phải thu có xu hướng giảm đi, do đó kỳ
thu tiền bình quân của doanh nghiệp có xu hướng tăng lên. Đặc biệt năm 2010 tăng
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 17
0
10
20
30
40

59.8
60.7
60,3
Biểu đồ 4: Kỳ thu tiền bình quân qua các năm của công ty và trung bình ngành
Qua đây có thể thấy năm 2010, công ty gặp khó khăn trong việc bán hàng,
chính sách tín dụng thương mại có chiều hướng mở rộng nhưng không hiệu quả. Kì
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 18
thu tiền bình quân đã tăng 59% so với năm 2009 nhưng doanh thu bán hàng lại giảm
32% so với năm 2009.
So với trung bình ngành kỳ thu tiền bình quân của doanh nghiệp năm 2008 và
2009 nhỏ hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong ngành cùng quy mô ( chỉ bằng
khoảng 50% so với trung bình ngành). Trong giai đoạn này thị trường xi măng trong
thời kỳ khan hiếm cung không đáp ứng được cầu dẫn đến việc bán hàng của doanh
nghiệp trở nên dễ dàng hơn, hơn nữa sản lượng sản xuất của doanh nghiệp nhỏ, do vậy
mà chính sách thương mại của doanh nghiệp không mở rộng như các doanh nghiệp
khác trong ngành mà vẫn bán được hàng, hơn nữa chính sách thu hồi nợ của doanh
nghiệp trong giai đoạn này là khá tốt, đảm bảo việc thu hồi nợ được thực hiện.
Tuy nhiên, đến năm 2010 thị trường xi măng ứ đọng, doanh nghiệp chủ động
mở rộng chính sách tín dụng thương mại để tăng doanh thu bán hàng nhưng doanh thu
của doanh nghiệp lại giảm mạnh. Số liệu cho thấy kỳ thu tiền bình quân của doanh
nghiệp tăng mạnh so với các năm trước nhưng cũng chỉ xấp xỉ trung bình ngành. Năm
2010 là năm thị trường xi măng giảm sút, hơn nữa lại có nhiều nhà máy xi măng với
công suất lớn đi vào hoạt động, nhà máy lại gặp khó khăn trong khâu sản xuất cũng
như tiêu thụ sản phẩm mới dẫn đến việc doanh thu giảm đột ngột khi thị trường gặp
khó khăn. Có thể thấy chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp trong các
năm 2007 – 2009 là chưa hợp lý, khi các chính sách tín dụng thương mại trong giai
đoạn này chưa được hợp lý khi thắt chặt hơn nhiều so với các doanh nghiệp trong
ngành dẫn đến việc khách hàng bị các đối thủ lôi kéo trong giai đoạn này. Mặt
khác, sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường là không tốt, việc bán hàng
của doanh nghiệp rất bị động trên thị trường.

Vòng quay khoản phải trả
13.2
21.3
28.3
27.8
Kỳ trả tiền bình quân
27.2
16.9
12.7
13
TBN kỳ trả tiền
29.3
28.4
29.9
28
Đặc biệt vào năm 2010 ( tăng từ 17 ngày năm 2009 lên 27 ngày vào năm 2010).
Nguyên nhân là do, các khoản phải trả và giá vốn hàng bán đều tăng lên nhưng tốc độ
tăng của các khoản phải trả tăng cao hơn so với giá vốn hàng bán. Năm 2010 mặc dù
các khoản phải trả vẫn tăng lên, nhưng do sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp giảm
rất mạnh ( mặc dù chi phí NVL trong năm này tăng cao ) nên giá vốn hàng bán của
doanh nghiệp giảm so với các năm trước ( giảm 25% so với 2009 ) do đó đã đẩy kỳ trả
tiền bình quân tăng lên cao hơn hẳn so với các năm trước.
Đơn vị: tấn
Chỉ tiêu
2010
2009
2008
2007
Sản lượng tiêu thụ các năm
69570

Vòng quay hàng tồn kho
4.86
6.08
6.12
10.36
Kỳ lưu chuyển hàng tồn kho
74.11
59.18
58.82
34.74
TBN kỳ lưu chuyển HTK
47
51
49
49
Năm 2007, vòng quay hàng tồn kho của doanh nghiệp cao, từ đó mà kỳ lưu
chuyển hàng tồn kho rất thấp (35 ngày). Nguyên nhân là do năm 2007 giá vốn hàng
bán không thấp hơn các năm 2008 và 2009 nhưng lượng hàng tồn kho so với các năm
khác, cung như tỉ trọng hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán thấp hơn rất nhiều (chỉ
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 21
0
10
20
30
40
50
60
70
80
2010 2009 2008 2007

vụ sản xuất kinh doanh.
Phân tích tài chính công ty cổ phần xi măng Sông Đà Trang 22
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
1.4
1.6
1.8
2010 2009 2008 2007
Vòng quay tổng tài sản
Vòng quay TTS TB ngành
2.2.4. Vòng quay tổng tài sản
Doanh thu thuần
Vòng quay Tổng TS =
Tổng TS bình quân
Hệ số vòng quay Tổng TS cho biết một đồng Tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.
Vòng quay tổng tài sản của doanh nghiệp trong các năm thay đổi khá thất thường,
vòng quay tổng tài sản không thay đổi vào các năm 2007 và 2008, tăng mạnh vào năm
2009 rồi giảm mạnh vào năm 2010.
Chỉ tiêu
2010
2009
2008
2007
Vòng quay tổng tài sản
1.31


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status