Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Khoa Tài Chính Doanh Nghiệp
Phân tích tài chính
Công ty cổ phần dược phẩm Imexpharm
GVHD: Th.S Lê Đạt Chí
SVTH : Nguyễn Xuân Thanh TC13
Nguyễn Thị Vũ Quyên TC13
Lê Thị Diệu Linh TC15
Nguyễn Hồng Vinh TC15
Trần Ngọc Dũng TC15
Nguyễn Thúy Quỳnh TC15
Chiến lược phát triển
Vị thế công ty
Triển vọng phát triển
Đối thủ cạnh tranh
C. PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
Phân tích tỷ suất sinh lợi trên vốn
đầu tư
Phân tích khả năng sinh lợi
Phân tích chỉ số tài chính
Phân tích dòng tiền
Phân tích triển vọng
Định giá công ty
D. PHÂN TÍCH SWOT
Điểm mạnh
Điểm yếu
Cơ hội
Thách thức
Tổng Quan Ngành Dược Việt Nam
Trần Ngọc Dũng TCDN15
Lê Thị Diệu Linh TCDN15
Hình thành và phát triển trong
thời gian khá dài trên 20 năm,
ngành dược Việt Nam đã trở
thành một ngành có quy mô
trong nền KT và đang là một
lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn,
tốc độ tăng trưởng ngành luôn
cao hơn tốc độ tăng trưởng
chung của toàn nền KT.
tăng trưởng ngành dược và tăng
trưởng GDP
12%
11%
16% 16%
16%
17%
15%
8.2%
8.5%
7.6%
7.3%
7.0%
6.8%
6.8%
0%
2%
5%
10%
15%
20%
25%
30%
35%
40%
45%
50%
2001 2002 20032004 2005 2006 2007 20082009 2010
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1600
1800
tăng trưởng giá trị tiền thuốc sử dụng (triệu USD)
Chi tiêu của người dân cho
dược phẩm và chăm sóc sức
khoẻ của Việt Nam còn rất
thấp. Tiềm năng phát triển
phát triển của ngành còn rất
Tỷ trọng chi tiêu ngành dược đạt 1.63% GDP: Năm
2006, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong nước đạt
tiêu bình quân đầu người của Việt Nam hiện khoảng
11.3 USD/người/năm và chi tiêu cho vấn đề chăm sóc
sức khoẻ 15USD/người/năm (theo số liệu thống kê
của Tisco Research). So với một số quốc gia ngay
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
4
lớn.
Chi tiêu thuốc bình quân
(USD/người/năm)
5.4
6
6.7
7.6
8.6
9.85
11.29
0
2
4
6
8
10
12
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tuy là “sân nhà” nhưng các
doanh nghiệp sản xuất trong
nước chỉ mới chiếm 50% thị
phần trong nước.
phẩm còn rất lớn đặc biệt các sản phẩm dinh dưỡng,
bảo vệ sức khoẻ.
Mặc dù tập trung các doang nghiệp sản xuất trong
ngành với quy mô khá lớn nhưng thị phần thuốc sản
xuất trong nước mới chiếm dưới 50%. Công nghiệp
bào chế chiếm tỷ trọng chủ yếu trong công nghiệp
dược Việt Nam. Tính đến tháng 6/2006, cả nước có
174 cơ sở sản xuất thuốc tân dược(162 doanh nghiệp
trong nước, 12 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài) trong đó chỉ có 42 cơ sở sản xuất đạt tiêu
chuẩn GMP – ASEAN, 23 cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP
– WHO. Đây mới là những doanh nghiệp quy mô
đáng kể trong ngành với giá trị sản xuất chiếm trên
85% giá trị sản xuất toàn ngành.
Tính đến năm 2006, Việt Nam đã sản xuất được
652/1563 hoạt chất đăng ký lưu hành trên thị trường
trong nước. Sự tập trung của các doanh nghiệp này
vào mảng sản xuất sản phẩm thông thường như kháng
sinh, Vitamin tạo ra cạnh tranh lớn trong khi mảng
sản phẩm nhập khẩu doanh nghiệp trong nước vẫn
chưa thâm nhập được. Đây là thách thức nhưng cũng
là cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước để khai
thác mảng thị trường rộng lớn này.
Các doanh nghiệp sản xuất trong nước có ưu thế lớn
nhất về hệ thống phân phối đồng thời yếu tố này tiếp
tục được bảo hộ sau WTO. Việt Nam là quốc gia có
hệ thống phân phối thuốc ở mức độ cho phép các
công ty nước ngoài tham gia kinh doanh xuất nhập
khẩu ( ngày 1 tháng 1 năm 2007, các doanh nghiệp
Tuy phát triển khá lâu nhưng
Việt nam chỉ được xếp vào cấp
độ trung bình trong nền công
nghiệp dược thế giới.
Hệ thống phân phối dược phẩm
Công ty TNHH, CP, DNTN 897
Quầy thuốc bán lẽ 4,641
nhà thuốc tư nhân 6,222
Đại lý bán lẽ 7,948
quầy thuốc thuộc trạm y tế xã 29,541
Quầy thuốc thuộc DNNN 7,417
Quầy thuốc thuộc DNNN cổ phần hoá 7,490
Trong những năm qua, kênh phân phối là yếu tố quan
trọng nhất trong việc tiêu thụ. Việc đưa sản phẩm đến
tay người tiêu dùng phụ thuộc nhiều vào người bán
hơn là người mua. Nguyên nhân người tiêu dùng
không có thói quen hỏi xuất xứ sản phẩm trừ khi là
sản phẩm đặc trị. Đây là yếu tố chính gây ra sự bất ổn
ngành dược trong những năm qua, phổ biến là tình
trạng giá thuốc bị đẩy cao quá mức do chi hoa hồng
cao cho người bán. Tuy nhiên, dưới góc độ ngắn hạn,
Thị trường Dược Việt Nam vẫn
phụ thuộc khá lớn vào nhập
khẩu, trị giá tân dược nhập
khẩu hiện vẫn chiếm tỷ trọng
cao.
Giá Trị Xuất Khẩu và Nhập Khẩu
Thuốc Tân Dược Qua Các Năm
417.6
457.1
451.4
601
650.2
13.6 11.9
12.5
16.4
17.6
0
100
200
300
400
500
600
700
n
ă
m 2001 n
ă
m 2002 n
trước và chiếm trên 50% giá trị tiền thuốc sử dụng
trong năm. Phần lớn, đây là các loại biệt dược trong
nước ít khả năng sản xuất và nguyên liệu phục vụ gần
như 100% nhu cầu nguyên liệu sản xuât trong nước.
So với nhập khẩu hàng năm thì xuất khẩu không đáng
kể, mặc dù tốc độ tăng khá nhưng chỉ đạt USD 22
triệu 2006, tuơng đương khoảng 4,03% giá trị nhập.
Hiện nay, một số doanh nghiệp dược trong nước đã
bắt đầu xuất khẩu nhưng nhìn chung, với đặc điểm
công nghệ sản xuất tương tự các nước trong khu vực,
sản phẩm trong nước khó tìm đường tiêu thụ tại các
vùng lân cận mà chỉ có thể khai thác các thị trường có
công nghệ kém hơn. Theo đó, Việt Nam đang xếp
hạng trên 150 quốc gia có công nghệ sản xuất kém
hơn và có thể khai thác các thị trường này để xuất
khẩu.
Bình quân, các doanh nghiệp này tốc độ tăng trưởng
trên 15%/năm và suất sinh lợi trên vốn điều lệ trên
50%. Một số doanh nghiệp như Dược Hậu Giang, tỷ
lệ này đạt 100% năm 2006. Các doanh nghiệp này
đều đang có các kế hoạch tăng vốn tiếp tục đầu tư mở
rộng quy mô hiện tại. Điều này cho thấy tính hấp dẫn
của ngành cũng như các doanh nghiệp trong ngành.
Thuế:
Thuế áp dụng cho dược phẩm sẽ còn 0- 0.5% so với mức
thuế 1- 10% như trước đây
Mức thuế trung bình sẽ là 2.5% sau 5 năm kể từ ngày
Từ 1/1/2008, các doanh nghiệp có vốn nước ngoài( chiếm
dước 51%) được quyền kinh doanh xuất nhập khẩu dược
phẩm
Từ 1/1/2009, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chi
nhánh của doanh nghiệp nước ngoài sẽ được trực tiếp xuất
nhập khẩu dược phẩm.
Cạnh tranh với các công ty sản xuất
dược nước ngoài cũng là một nhân tố tác động rất
mạnh đến sự đến sưh tồn tại, phát triển và phân hoá
chứa năng của các công ty trong ngành. Đẩy mạnh
chức năng phân phối sẽ là một xu hướng phổ biến do
các kam kết WTO của Việt Nam không mở của cho
các công ty dược nước ngoài trong khâu phân phối.
Rủi ro:
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
8
nước có khả năng phải ngừng sản xuất hoặc nhập
khẩu uỷ thác những dngf thuốc bị kiện.
Từ 1/1/2009 các công ty nước ngoài sẽ
được phép trực tiếp nhập khẩu thuốc tạo ra cạnh tranh
quyết liệt trong lĩnh vực nhập khẩu thuốc đối với các
công ty trong nước.
Việc giảm thuế suất đối với 47 dòng
thuế nhập khẩu thuốc thành phẩm( mức giảm trung
bình là 3%) sẽ là 1 khó khăn lớn cho các doanh
nghiệp sản xuất dược trong nước.
Hiện tượng chảy máu chất xám từ các
công ty dược trong nước sang các công ty nước ngoài
Hiện nay, mặc dù được xem là ngành siêu lợi nhuận
và vẫn còn là một miếng bánh béo bở cho các doanh
nghiệp mới vào ngành, tuy nhiên, giữa các công ty
trong ngành vẫn tồn tại sự cạnh tranh rất quyết liệt.
điều đó được thể hiện qua:
Cạnh tranh phi giá.
Các công ty dược cạnh tranh với nhau bằng những
việc như :thiết lập,chiếm lĩnh các kênh phân phối, mở
rộng mạng lưới phân phối tạo sự tiện lợi cho người
dân. Bởi vì đối tượng trực tiếp của các công ty sản
xuất và bán buôn dược phẩm không phải là người
dân, mà là các cơ sở phân phối của chính công ty đó
hoặc các cơ sở trung gian vì vậy cạnh tranh phi giá
700
800
900
Thị Phần Doanh Số Sản Xuất Dược
Phẩm
3%
71%
6%
5%
5%
4%
3%
3%
Dược Hậu Giang Mekophar
Imexpharm Domesco
Dược Bình định Traphaco
Dược Hà tây DN khác
Các công ty trong ngành tiến hành quảng cáo sản
phẩm của mình thông qua các phương tiện thông tin
đại chúng …Tuy nhiên nhà nước quản lý khá chặt chẽ
đối với loại hình quảng cáo dược phẩm.
nhập ngành. Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
10
TỔNG QUAN VỂ CÔNG TY
Lê Thị Diệu Linh TCDN15
Nguyễn Xuân Thanh TCDN13
Nguyễn Hồng Vinh TCDN15 Lịch sử hình thành
công ty
Thành phần lao động
36.86%
20.83%
42.31%
Đại học, trên
đại học
Cao đẳng,
trung cấp
Lao động phổ
thông
Tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu
Tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu
Tổng công ty Dược VN 28.31%
Thành viên HĐQT 3.23%
Cổ đông khác 27.25%
Nước ngoài 41.21%
Vốn điều lệ và quá
trình tăng vốn
Vốn điều lệ
(tỷ VND)
2001
22
T5/05
44
T2/06
70
T4/07
84
T5/07
92.4
T9/07
116.6 T7/2001: vốn điều lệ 22 tỷ đồng
T3/2005: tăng lên 44 tỷ đồng
Đầu năm 2006: tăng vốn điều lệ lên 70 tỷ đồng
4/12/06: Tăng vốn điều lệ lên 84 tỷ đồng
nhà đầu tư lớn.
+Gđ4: phát hành 161,200 CP cho cổ đông nhà nước
(Tổng công ty dược Việt Nam) do tiếp nhận bàn giao
Trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu
Đồng Tháp Mười từ Tổng công ty Dược Việt Nam
Ngành nghề kinh
doanh Cơ cấu doanh thu 2005
89.34%
10.66%
Hàng sản xuất Hàng kinh doanh
Cơ cấu doanh thu năm 2006
93.85
%
6.15%
Hàng sản xuất Hàng kinh doanh
Sản xuất, mua bán, xuất nhập khẩu dược phẩm;
thiết bị và dụng cụ y tế; nguyên liệu bao bì sản Tỷ lệ các loại thuốc
giảm đau, các loại thuốc giảm đau, các loại thuốc đặc
trị, các loại thuốc chống dị ứng và các loại thực phẩm
chức năng.
Các loại thuốc kinh doanh: do công ty nhập
khẩu hoặc mua lại từ các đơn vị khác để phân phối
Hiện nay công ty đã sản xuât được trên 140
sản phẩm, trong đó có trên 30 loại là sản xuất nhượng
quyền cho các tập đoàn, các công ty lớn ở nước ngoài
như: sandoz(biochemie), robonson pharma, opv, dp
pharma…
Cơ cấu nguồn doanh thu của công ty đến từ
hàng sản xuất, hàng kinh doanh, lợi nhuận khác.
Trong đó, doanh thu từ mặt hàng sản xuất chiếm tỷ
trọng chủ yếu trên 90%.
Lợi nhuận của công ty cũng chủ yếu từ mặt
hàng sản xuất chiếm tỷ trọng 100%(năm 2005),
94.03% (năm 2006), 100.07%(quí I năm 2007).
Tỷ trọng doanh thu hàng Imex theo khu vực:
ĐBSCL (51%), TPHCM (20%), Miền Trung (7%),
Đông Nam Bộ (5%), Hà Nội (7%), miền núi(10%).
Chiến lược phát triển
15/6/07, Công ty Imexpharm (mã IMP) ký hợp đồng
liên doanh và sản xuất nhượng quyền dược phẩm tại
VN với tập đoàn dược phẩm Pharmascience -một
trong những nhà sản xuất thuốc generic của Canada.
Cũng theo hợp đồng, một dự án xây dựng nhà máy
liên doanh nhóm thuốc Non Betalactam, tại KCN
Vietnam-Singapore II, giữa hai đối tác này sẽ được
khởi công xây dựng vào đầu năm 2008.
Dự án đầu tư
Vốn đầu tư
Tỷ đồng Triệu USD
Đầu tư xây dựng nhà máy
caphalosporin tại KCN Việt Nam -
Singapore, Bình Dương. 106 6.63
Đầu tư vào trung tâm nghiên cứu bảo
tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp
năm 2005 lên 4% hiện tại.
Tính từ sau thời điểm cổ phần hóa, vốn điều lệ IMP
liên tục tăng lên đặc biệt trong 3 năm gần đây. So với
thời điểm cổ phần hóa, vốn điều lệ Công ty hiện tăng
gấp 4 lần và sẽ gấp 5.3 lần cuối năm nay. Tăng
trưởng doanh thu trung bình hàng năm khá cao ở mức
30% cho giai đoạn 2004 – 2006. Đặc biệt trong năm
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
14
Mặc dù tập trung vào mảng
tân dược là chính yếu như các
đơn vị sản xuất khác nhưng
Imexpharm có lợi thế với cơ
cấu nguồn thu đa dạng. dược.
Bên cạnh sự gia tăng quy mô,
thị trường tiêu thụ Công ty khá
Trong tổng số 190 sản phẩm đã được sản xuất, có 30
sản phẩm được Công ty đăng ký nhượng quyền của
một số tập đoàn dược lớn trên thế giới như: Sandoz,
Union Pharma, DP Pharma,… với tỷ trọng 25%
doanh thu. Ngoài ra, với quy mô, thương hiệu lớn,
Imexpharm cũng tham gia vào chương trình sản xuất
thuốc quốc gia với doanh thu năm 2006 trên 100 tỷ
đồng. Dự kiến sau 2007, Công ty sẽ có thêm nguồn
thu mới sau khi đi vào hoạt động nhà máy sữa
Imexmilk cũng như doanh thu từ Trung tâm nuôi
trồng dược liệu.
Ngoài việc phát triển hệ thống tiêu thụ riêng với 5 chi
nhánh tại các khu vực TP.HCM; An Giang, Kiên
Giang, Cần Thơ, Hà Nội; 1 đại lý tại Cà Mau và 8
hiệu thuốc tại Tỉnh Đồng Tháp. Công ty xây dựng
mối quan hệ đại lý độc quyền với một số doanh
nghiệp chuyên về phân phối. Do đó, khu vực Đồng
bằng Sông Cửu Long hiện vẫn là thị trường chính
của Công ty với tỷ trọng 51%. Tp.HCM là thị trường
lớn thứ hai với tỷ trọng 20%. Sản phẩm Công ty cũng
có mặt gần như cả nước tuy tỷ trọng không đáng kể
như và đây cũng sẽ là thị trường mục tiêu để Công ty
mở rộng trong thời gian tới. Ngoài ra, với doanh thu
xuất khẩu năm 2006 là USD185,000, Công ty dần
đưa sản phẩm ra một sốthị trường khác như Moldova,
Châu Phi, Camuchia, Lào,…
Bên cạnh việc phát triển các sản phẩm nhượng quyền
nhằm tận dụng công nghệ nghiên cứu nước ngoài,
Công ty sẽ chú trọng các sản phẩm tự sản xuất nhằm
gia tăng tỷ suất lợi nhuận cao hơn và thương hiệu
Ngành dược được chính phủ
xác định phát triển thành
ngành kinh tế mũi nhọn của
Việt Nam
Theo đó, Công ty sẽ chú trọng phát triển mảng sản
phẩm đặc trị nhằm thay thế hàng xuất khẩu và khai
thác thị trường còn khá rộng này. Dự kiến trong vòng
2 năm (12/2006 – 12/2008), Công ty sẽ triển khai và
hoàn thành nhà máy Cephalosporin theo tiêu chuẩn
GMP – EU với kinh phí đầu tư VND106.7 tỷ. Đây là
nhà máy sản xuất kháng sinh chích thay thế hàng
nhập khẩu trong tương lai. Dự án được xem là rất an
toàn với NPV VND77 tỷ và IRR trên 50%; đem lại
doanh thu hàng năm trên VND 200 tỷ và lợi nhuận
tăng hàng năm từ 20 – 55 tỷ đồng sau 2008.Ngoài ra,
kế hoạch phát triển Trung tâm dược liệu cũng được
xem là phù hợp theo mục tiêu phát triển công nghiệp
dược liêu Việt Nam đảm bảo đến 2010, 30% thuốc
sản xuất có nguồn gốc dược liệu trong nước.
Theo kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm được công
bố, doanh thu lũy kế Công ty lũy kế đạt VND230.6
Tỷ, giảm 27.28% so với cùng kỳ năm trước và bằng
43.5% kế hoạch năm. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế
tăng 38% do giá vốn giảm mạnh từ 75% doanh thu
xuống còn 57% doanh thu. Nguyên nhân do Công ty
trong ngành. Ngành dược
phẩm chưa có những đại gia
thực sự lớn chi phối , chiếm thị
phần lớn. Miếng bánh của
ngành vẫn được chia phần cho
nhiều doanh nghiệp. Thị phần doanh số sản xuất dược phẩm
3%
71%
6%
5%
5%
4%
3%
3%
Dược Hậu Giang Mekophar
Imexpharm Domesco
Dược Bình định Traphaco
Dược Hà tây DN khácCác doanh nghiệp lớn trong
ngành:
Các doanh nghiệp lớn trong ngành:
10 doanh nghiệp dược đứng đầu về doanh thu có tổng
doanh thu đạt 2680 tỷ VND, chiếm tỷ trọng 40% so
với toàn ngành.
Dược hậu giang, Imexpham, Mekophar, Domesco là
4 công ty luôn có doanh thu dẫn đầu và chiếm 29%
tổng doanh thu của các công ty sản xuất thuốc tân
dược trong nước. Tỷ suất lợi nhuận của các công ty
dược đầu ngành khá hấp dẫn( ROE thường >30%).
Do đó ngày càng có nhiều các công ty dược mới gia
nhập ngành.
Cạnh tranh với các công ty sản xuất dược nước ngoài
cũng là một nhân tố tác động rất mạnh đến sự đến sự
tồn tại, phát triển và phân hoá chứa năng của các
công ty trong ngành. Đẩy mạnh chức năng phân phối
sẽ là một xu hướng phổ biến do các kam kết WTO
của Việt Nam không mở của cho các công ty dược
nước ngoài trong khâu phân phối.
Thành phần các DN dược
40%
16%
44%
DN trong nước
DN liên doanh NN
2006
GVHB
367,260 317,571 -13.5%
CPBH
98,699 134,897 36.7%
CPQLDN &
khác
23,232 29,712 27.9%
Nguyên nhân của gia tăng mạnh
trong thu nhập ròng không phải
vì gia tăng mạnh trong thi phần,
nó xuất phát từ việc cắt giảm cho
phí và tăng nhẹ của doanh thu
thuần. Tăng lên trong TSSL trên
doanh thu, nhưng khả năng
hiệu suất sử dụng tài sản của
công ty lại đi ngược lại, chỉ đạt
được 1.43 so với 1.72 trong
năm 2006.
Với 2 bảng Dupon năm 2006 và năm (ước tính) 2007, ta
Tăng lên trong TSSL trên doanh thu, nhưng khả năng
hiệu suất sử dụng tài sản của công ty lại đi ngược lại, chỉ
đạt được 1.43 so với 1.72 trong năm 2006. Đi theo bảng
Dupon thì ta nhận thấy khoản tiền mặt của công ty trong
năm nay gia tăng đáng kể, tăng 23.9 tỷ (tương đương
26.7%), lượng tiền mặt dư thừa có thể đem lại cho doanh
nghiệp một khả năng thanh toán rất tốt, giúp công ty
thực hiện các khoản chi trả hàng ngày. Điều đáng quan
tâm hơn đó chính là sự gia tăng các khoản phải thu, khi
khoản này tăng đến 36.2 tỷ (tương đương 63.8%). Việc
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
202006 2007
+/- so với
2006
Tiền mặt
67,607
89,500 32.4%
Khoản phải thu
56,767
92,960 63.8%
Hàng tồn kho
129,765
130,894 0.9%
Khác
hợp với chiến lược kinh doanh của công ty trong năm
2007.
Chỉ số hiệu suất sử dụng tài sản thấp cho ta nhận xét
công ty vẫn chưa tận dụng tối đa nguồn tài sản của mình
để tạo ra doanh thu. Nếu công ty muốn gia tăng chỉ tiêu
TSSL trên tài sản, công ty cần chú ý đên hiệu suất sử
dụng tài sản của mình.
IMP
2007 2006 2005
Doanh thu thuần
529,978 525,406 337,334
Thu nhập ròng
53,699 42,276 26,493
Tài sản
371,038 304,670 314,932
TSSL trên doanh thu
10.13% 8.05% 7.85%
Hiệu suất sử dụng TS
1.428 1.725 1.071
ROA
14.47% 13.89% 8.41%
Hiệu suất sử dụng tài sản phụ thuộc vào 2 nhân tố chính
là doanh thu thuần và tổng tài sản. Trong năm 2007,
trong khi doanh thu chỉ tăng nhẹ 0.87% nhưng lại đưa
đến 13.5% gia tăng trong thu nhập ròng, lượng doanh
thu đó lại được tạo ra trên một số lượng tài sản tăng cao
hơn gần 22%.
Tuy nhiên với sự gia tăng mạnh của TSSL trên doanh
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
21
Chỉ số ROA các năm
IMP
IM P
IM P
DHG
DHG
DMC
DM C
DMC
0%
4%
8%
12%
16%
QIII/07 2006 2005
Đặc biệt hơn khi đến quý III/2007, chỉ số ROA của
Imexpharm đạt được 12.49% đã vượt qua cả DHG
10.03% và DMC 7.64%. Imexpharm đã chọn cho
mình một hướng đi đúng đắng, từ chổ thua kém nhiều
so với những đối thủ cạnh tranh đến nay Imexpharm
đã vượt qua những đối thủ trực tiếp của mình trong
việc sử dụng nguồn tài sản để đem lại doanh thu cho
doanh nghiệp.
Đây được xem như là một bằng chứng cho khả năng
quản trị doanh nghiệp của công ty khá tốt, công ty
đang cố gắng tối ưu hoá khả năng sử dụng tài sản của
mình. Để duy trì tốc độ gia tăng ROA này qua các
năm, IMP cần thiết phải đổi mới hệ thống máy móc,
trang thiệt bị của doanh nghiệp, loại bỏ đi những máy
móc không đạt hiệu quả trong công ty.
IMP
2007 2006 2005
Doanh thu thuần
529,978 525,406 337,334
Thu nhập ròng
53,699 42,276 26,493
Tài sản
371,038 304,670 314,932
TSSL trên doanh thu
10.13% 8.05% 7.85%
Hiệu suất sử dụng TS
1.428 1.725 1.071
ROA
TSSL trên doanh thu
13.49% 8.05% 7.85% 10.33% 8% 8% 8.08% 7.40% 6.40%
Hiệu suất sử dụng TS
0.959 1.725 1.071 0.9715 1.798 1.896 0.946 1.734 2.131
Đòn bẩy
1.315 1.301 1.866 1.343 2.833 2.232 1.327 1.722 1.706
ROA
12.94% 13.89% 8.41% 10.03% 14.38% 15.17% 7.64% 12.83% 13.64%
ROCE
17.02% 18.07% 15.69% 13.48% 40.75% 33.85% 10.15% 22.09% 23.27% Mối quan hệ giữa TSSL trên
vốn cổ phần và TSSL trên tài
sản sẽ cho thấy mức độ thành
công của công ty trong việc sử
dụng đòn bẩy tài chính của một
công ty.
Khả năng sử dụng đòn bẩy tài
chính của công ty IMP còn hạn
chế so với những đối thủ cạnh
tranh khác.
40.75%.
Phân tích công ty dược phẩm Imexpharm
23
Chỉ số ROCE các năm
IM P
IM P
IM P
DHG
DHG
DHG
DMC
DMC
DMC
0%
10%
20%
30%
40%
50%
QIII/07 2006 2005Trong năm 2007, có sự tái cấu
trúc nguồn vốn của các công ty
ngành dược. các công hạn chế
việc sử dụng nợ và gia tăng tỷ lệ
vốn cổ phần. điều này đưa IMP
vượt qua các đối thủ của mình
trong so sánh khả năng sinh lợi
DHG
13.48% 40.75% 33.85%
DMC
10.15% 22.09% 23.27%
Nhà quản trị của IMP đã không tận dụng được khả
năng vay nợ của mình, công ty duy trì nguồn tài trợ
bằng cổ phần nhiều hơn, hạn chế việc sử dụng nợ
trong tài trợ. Nhà quản trị của công ty đã không mạo
hiểm trong việc vay nợ của mình, đây được xem như
một hạn chế của IMP so với 2 đối thủ trực tiếp này
trong 2 năm 2005 và 2006.
Trong quý III/2007, tuy ROCE của Imexpharm đã
vượt qua những đối thủ cạnh tranh khác (17.02% cao
hơn cả DHG) nhưng không phải vì khả năng sử dụng
nợ của công ty được cải thiện mà do sự sụt giảm trong
khả năng sử dụng đòn bẩy tài chính của DHG và
DMC, cả hai đối thủ cạnh tranh đã có tái cấu trúc lại
nguồn vốn của mình khi gia tăng tỷ lệ sử dụng nguồn
vốn cổ phần so với sử dụng nợ như những năm trước
đây. Điều này đã kéo chỉ số đòn bẩy của DHG và
DMC sụt giảm ngang bằng với IMP.
ROCE = ROA x đòn bẩy chung
Công ty IMP luôn theo đuổi chiến lược tài chính an
toàn, công ty vẫn duy trì một nguồn vốn ổn định và
lành mạnh đồng nghĩa với việc công ty không gia tăng
khả năng vay nợ của mình quá mức, đồng thời theo
đuổi chính sách không ngừng nâng cao giá trị cho các
cổ đông. Để có thể đạt được cùng lúc 2 mục tiêu quan
trọng đó, IMP chỉ có thể gia tăng chỉ số ROCE thông
qua gia tăng ROA bằng cách gia tăng doanh thu thuần,
Tốc độ tăng trưởng VCP
17.01% 16.88%
Tỷ lệ tăng trưởng duy trì
15.76% 14.46%
(Thu nhập ròng - cổ tức cổ phần ưu đãi - cổ tức cổ
phần thường) / vốn cổ phần thường bình quân
Nguồn vốn tài trợ rẽ nhất, an toàn nhất mà mỗi doanh
nghiệp có thể tận dụng được đó là tận dụng nguồn lợi
nhuận giữ lại
Mặc dù công ty chưa tận dụng tốt được lợi thế mang
lại từ tấm chắn thuế khi sử dụng nợ nhưng ta cũng có
thể thấy lợi thế từ việc chuyển đổi cơ cấu vốn, được
thể hiện qua:
Tốc độ tăng trưởng vốn cổ phần của công ty trong 2
năm 2006 là 16.88% và tăng lên 17.01% trong năm
2007, cho thấy được nguồn tài trợ ổn định của công ty
và nếu như tỷ lệ này được duy trì cho những năm tiếp
thì điều này có thể giúp công ty mở rộng đầu tư sản
xuất.
Bên cạnh đó, công ty còn cho thấy tốc độ tăng trưởng
Doanh thu hàng sản xuất chiếm
70% trong doanh thu bán hàng.
Tăng 12% so với năm 2005.
cũng chiếm khoảng 23% trong năm 2006, tăng 12% so
với năm 2005. Hoạt động sản xuất kinh doanh đang
trong giai đoạn khá tốt, doanh thu chủ yếu là từ hoạt
động chính của doanh nghiệp.
Cơ cấu trong doanh thu bán hàng 2006
70%
23%
4%
1%2%
Doanh thu hàng sản
xuất
Doanh thu hàng
nhượng quyền
Doanh thu hàng nhập
khẩu
Doanh thu hàng xuất
khẩu
Doanh thu khác
Tốc độ tăng trưởng doanh thu trong năm 2006 rất cao
lên đến 56% do sự nổ lực của lãnh đạo và nhân viên
công ty trong việc hoàn thiện hơn hệ thống quản lý và
hệ thống sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ, tìm
kiếm đối tác và khách hàng mới đã đưa đến kết quả
khả quan cho công ty. Tốc độ tăng trưởng doanh thu
trong năm 2006 rất cao lên đến 56%. Điều này thể
hiện công ty đã điều phối trong chi phí và doanh thu
rất tốt. Việc cắt giảm chi phí trong năm 2007, đặc biệt
là chi phí giá vốn hàng bán đã làm lợi nhuận gia tăng