Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá - Pdf 76

MỤC LỤC
Mục lục 1
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng 4
Danh mục các sơ đồ 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG
TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
10
1.1. Hoạt động tài chính và vai trò của phân tích tài chính 10
1.1.1. Hoạt động tài chính của doanh nghiệp 10
1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính 13
1.2. Công tác phân tích tài chính trong doanh nghiệp 14
1.2.1. Quy trình phân tích tài chính 14
1.2.2. Phương pháp phân tích tài chính 16
1.2.2.1. Phương pháp so sánh 17
1.2.2.2. Phương pháp tỷ số 18
1.2.2.3. Phương pháp phân tích tài chính Dupont 19
1.2.3. Nội dung phân tích tài chính 20
1.2.3.1. Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa
tài sản và nguồn vốn
20
1.2.3.2. Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh 26
1.2.3.3. Phân tích các chỉ tiêu về khả năng thanh toán 29
1.2.3.4. Phân tích các chỉ tiêu về khả năng hoạt động 31
1.2.3.5. Phân tích các chỉ tiêu về khả năng sinh lãi 33
1.2.3.6. Đánh giá khả năng tăng trưởng 36
1.3. Nhân tố ảnh hưởng tới hoàn thiện công tác phân tích tài chính
trong doanh nghiệp
41
1.3.1. Nhân tố chủ quan 41

3.1. Định hướng cơ chế quản lý tài chính và công tác phân tích tài
chính tại Công ty cổ phần Cảng Đoạn xá
65
3.2. Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty cổ phần
Cảng Đoạn xá
66
3.2.1. Về quy trình phân tích tài chính 66
3.2.2. Về nội dung phân tích 67
3.2.2.1. Về cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn 67
3.2.2.2. Về tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh 71
3.2.2.3. Về khả năng thanh toán 74
3.2.2.4. Về khả năng hoạt động 76
3.2.2.5. Về hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lãi 78
3.2.2.6. Đánh giá khả năng tăng trưởng 79
3.2.3. Về phương pháp phân tích 80
3.2.4. Về tổ chức và nhân sự cho công tác phân tích tài chính 82
3.2.5. Về kỹ thuật và công nghệ 83
3.2.6. Về công tác kế toán, kiểm toán và thống kê 84
3.3. Kiến nghị 84
3.3.1. Về phía Nhà nước 84
3.3.2. Về phía ngành liên quan 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 89

2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DN: Doanh nghiệp.
SXKD: Sản xuất kinh doanh.
CP: Cổ phần

4
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Quá trình chuyển hoá 11
Sơ đồ 1.2: Quá trình sản xuất kinh doanh 12
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ sự gia tăng của doanh thu đòi hỏi sự gia
tăng của nợ vay và giữ lại lợi nhuận
37
Sơ đồ 1.4: Mối quan hệ giữa tăng trưởng bền vững và khả
năng sinh lời
40
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Công ty 46
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức Bộ máy kế toán của Công ty 46
Sơ đồ 2.3: Hình thức kế toán tại Công ty 51

5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên lý thuyết cũng như thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, phân tích tài
chính đóng vai trò hết sức cần thiết. Mục đích của việc phân tích tài chính là giúp
người sử dụng thông tin đánh giá được sức mạnh tài chính, khả năng sinh lời và
triển vọng của doanh nghiệp. Do vậy, phân tích tài chính có ý nghĩa quan trọng
không chỉ đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp mà các
thông tin từ việc phân tích tài chính mang lại còn hữu ích đối với các nhà đầu tư,
nhà cung cấp, nhà cho vay, người lao động trong doanh nghiệp, các cơ quan quản lý
nhà nước về kinh tế. Đặc biệt, đối với các công ty cổ phần, công tác này đặc biệt
chiếm vị trí nổi bật bởi nó ảnh hưởng rất lớn tới việc ra quyết định của các nhà đầu
tư - một nhân tố giữ vai trò không nhỏ tới hoạt động của doanh nghiệp.
Song, vì những lý do khác nhau, trên thực tiễn, công tác phân tích tài chính
tại các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự trở thành công cụ hữu ích cho các đối tượng
liên quan, do vậy chưa thực sự phát huy được vai trò, ý nghĩa tích cực của nó.

* Phương pháp luận: phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: trên cơ sở phân tích lý thuyết và thực tiễn
công tác phân tích tài chính tại doanh nghiệp, đề tài khái quát hoá bản chất của công tác
phân tích tài chính tại Công ty, trên cơ sở đánh giá đó nhằm đưa ra những giải pháp cần
thiết cho việc hoàn thiện công tác này tại Công ty.

7
- Phương pháp so sánh: Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá hiệu quả
hoạt động tài chính của Công ty qua các năm và trong mối quan hệ với các doanh nghiệp
cùng ngành – đây là một nội dung quan trọng của công tác phân tích tài chính.
* Phương pháp thu thập và xử lý thông tin:
- Phương pháp thu thập thông tin:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu tài liệu để tìm hiểu những
thông tin sau:
• Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài (trong các tài liệu, giáo trình về
lý thuyết phân tích tài chính...)
• Kết quả nghiên cứu của các tác giả khác (trong các tạp chí, báo cáo
khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học ... có liên quan tới vấn đề phân tích tài chính doanh
nghiệp)
• Chủ trương, chính sách liên quan tới nội dung nghiên cứu (chủ yếu là
các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước điều chỉnh các nội dung liên quan tới tài
chính doanh nghiệp)
• Số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài (chủ yếu là các báo
cáo tài chính của doanh nghiệp qua các năm, số liệu thống kê ngành...)
+ Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn các nhà đầu tư, các nhà quản trị
doanh nghiệp hoặc các đối tượng liên quan khác để làm rõ nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp xử lý thông tin:
+ Phương pháp xử lý toán học đối với các thông tin định lượng: Sử dụng

dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ trong quản lý tài chính doanh nghiệp.
Doanh nghiệp mặt khác là đối tượng quản lý của nhà nước. Nhà nước điều chỉnh
hoạt động của doanh nghiệp thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các
văn bản quy định về cơ chế quản lý tài chính.
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn luôn phải dự tính trước các khả
năng rủi ro có thể xảy ra, đặc biệt là rủi ro tài chính để có thể có cách ứng phó kịp thời,
đúng đắn. Bên cạnh đó, doanh nghiệp luôn luôn phải đáp ứng những đòi hỏi ngày càng
cao hơn của khách hàng về chất lượng, mẫu mã, giá cả hàng hoá và các loại dịch vụ.
Doanh nghiệp cũng thường phải đáp ứng được đòi hỏi của các đối tác về mức
vốn chủ sở hữu trong cơ cấu vốn. Sự tăng, giảm vốn chủ sở hữu có tác động đáng kể tới
hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong các điều kiện kinh tế khác nhau.
Muốn phát triển bền vững, doanh nghiệp phải làm chủ và dự đoán trước sự thay
đổi của môi trường để sẵn sàng thích nghi với nó. Trong môi trường đó, quan hệ tài
chính của doanh nghiệp được thể hiện rất phong phú và đa dạng.
Trước hết, để tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp phải có
một lượng vốn nhất định để đầu tư các yếu tố đầu vào (máy móc, thiết bị, nhà xưởng,
nguyên liệu, nhân lực…) và sau đó là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào tạo ra các
hàng hoá - dịch vụ đầu ra (hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hoặc được

10
sử dụng cho quá trình sản xuất, kinh doanh khác). Như vậy, trong một thời kỳ nhất định,
các doanh nghiệp đã chuyển hoá các hàng hoá, dịch vụ đầu vào thành các hàng hoá, dịch
vụ đầu ra để trao đổi (bán). Quá trình này được mô tả qua sơ đồ sau:
Hàng hoá và dịch vụ (mua vào)
↓ ↓
Sản xuất - chuyển hoá
↓ ↓
Hàng hoá và dịch vụ (bán ra)
SƠ ĐỒ 1.1: QUÁ TRÌNH CHUYỂN HOÁ
Trong số các tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ có một tài sản đặc biệt – đó là

o Hoạt động phân phối vốn.
o Hoạt động luân chuyển vốn trong kinh doanh.
- Hoạt động phân phối nguồn tài chính trở lại các quỹ tiền tệ và vốn kinh
doanh.
1.1.2. Vai trò của phân tích tài chính.
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các
phương pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác
về tài chính nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp, đánh giá rủi ro,

12
mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đó. Với những nội dung
này, phân tích tài chính của một doanh nghiệp trở thành mối quan tâm của nhiều đối
tượng khác nhau như Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị, các nhà đầu tư, các cổ đông,
người cho vay…
Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm
hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ. Do vậy, hơn ai hết, họ cần có
đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua, thực hiện
cân bằng tài chính và khả năng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính
nhằm đề ra quyết định đúng.
Đối với với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họ
hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới số
lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển dổi thành tiền nhanh; từ đó so sánh với số
nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Ngoài ra, các
chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn của chủ
sở hữu, bởi vì số vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh
nghiệp gặp rủi ro.
Đối với các nhà đầu tư, mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi ro,
thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn,… Vì vậy, họ cần những
thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh và các tiềm
năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính

tích trước, phân tích hiện hành hay phân tích sau.
Phân tích trước là phân tích trước khi tiến hành một kế hoạch kinh doanh nào đó.
Phân tích trước thường đưa ra những dự đoán về nhu cầu, cách thức phân bổ các nguồn
lực tài chính và lập kế hoạch thu hồi vốn của doanh nghiệp.

14
Phân tích hiện hành là việc phân tích đồng thời với quá trình kinh doanh nhằm
xác minh tính hợp lý về mặt tài chính của các dự án, dự đoán kế hoạch phục vụ cho việc
điều chỉnh kịp thời các dự án, dự đoán kế hoạch đó.
Phân tích sau là việc phân tích các kết quả trên giác độ tài chính sau khi đã thực
hiện toàn bộ công việc.
Về nhân sự, công tác phân tích tài chính phải được thực hiện bởi đội ngũ nhân sự
có kinh nghiệm và có tinh thần trách nhiệm cao.
* Thu thập, xử lý thông tin.
Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông
tin: từ thông tin nội bộ doanh nghiệp đến những thông tin bên ngoài doanh nghiệp, từ
thông tin số lượng đến thông tin giá trị. Những thông tin đó đều giúp nhà phân tích có
thể đưa ra được những nhận xét, kết luận tinh tế và thích đáng.
Thông tin bên ngoài doanh nghiệp có thể là những thông tin chung (thông tin liên
quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh doanh, chính sách thuế, lãi suất…), thông tin
về ngành kinh doanh (thông tin liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu
ngành, các sản phẩm của ngành, tình trạng công nghệ, thị phần…) và các thông tin về
phương diện pháp lý đối với doanh nghiệp (các thông tin mà doanh nghiệp phải báo cáo
cho các cơ quan quản lý như: tình hình quản lý, kiểm toán, kế hoạch sử dụng kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp…)
Tuy nhiên, để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chính của doanh nghiệp, có
thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn thông tin
quan trọng bậc nhất. Thông tin kế toán được phản ánh khá đầy đủ trong các báo cáo kế
toán: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và
thuyết minh báo cáo tài chính.

phân tích. Trong phân tích tài chính, phương pháp so sánh thường được sử dụng bằng cách
so sánh ngang (còn gọi là phân tích ngang) và so sánh dọc (còn gọi là phân tích dọc). So

16
sánh ngang là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương
đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính; so sánh dọc là việc sử dụng các tỷ suất,
các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa
các báo cáo để rút ra kết luận.
Để tiến hành so sánh được, cần lưu ý các vấn đề cơ bản sau:
- Thứ nhất, trong quá trình so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Các chỉ tiêu được sử dụng để so sánh phải cùng phản ánh một nội dung kinh tế.
+ Các chỉ tiêu phải có cùng phương pháp tính toán.
+ Các chỉ tiêu phải được tính theo cùng một đơn vị đo lường.
+ Các chỉ tiêu phải được thu thập ở cùng một phạm vi thời gian và cùng một qui
mô không gian.
- Thứ hai, phải chọn được tiêu chuẩn so sánh. Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của
một kỳ được chọn làm căn cứ để so sánh, gọi là gốc so sánh. Gốc so sánh thường được
xác định theo thời gian và không gian. Tuỳ vào mỗi mục đích phân tích khác nhau,
người phân tích sẽ chọn các gốc so sánh phù hợp.
+ Để đánh giá xu hướng phát triển của các chỉ tiêu: gốc so sánh được chọn là số
liệu kỳ trước hoặc cùng kỳ này năm trước.
+ Để đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự toán, định mức: gốc so sánh
được chọn là số liệu kế hoạch, số liệu dự toán, số liệu định mức.
+ Để đánh giá kết quả đạt được của doanh nghiệp so với các đơn vị khác: gốc so
sánh được chọn là số liệu của các đơn vị có điều kiện tương đương hoặc số liệu trung
bình ngành...
1.2.2.2. Phương pháp tỷ số
Phương pháp tỷ số là phương pháp phản ánh kết cấu, mối quan hệ giữa các chỉ tiêu
tài chính và sự biến đổi của lượng tài chính thông qua hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian
liên tục và theo từng giai đoạn. Các tỷ số được chia thành bốn nhóm chính:

18
ROE phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, tăng mức doanh lợi của vốn
chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh
nghiệp.
Ngoài ra, còn có chỉ tiêu doanh lợi tài sản (ROA)
ROA =
Lợi nhuận trước thuế & lãi
Tài sản
Hoặc:
ROA =
Lợi nhuận sau thuế
Tài sản
Đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư. Tuỳ
thuộc vào tình hình kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp được phân tích và phạm vi so
sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặc thu nhập sau thuế để so sánh
với tổng tài sản.
Khi sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont nhằm đánh giá tác động
tương hỗ giữa các tỷ số tài chính, nhà phân tích có thể thực hiện việc tách tỷ số ROE:
ROE =
LN sau thuế
=
Lợi nhuận sau thuế
x
Tài sản
= ROA x EM
Vốn CSH Tài sản Vốn CSH
(EM: số nhân vốn)
EM có thể được biến đổi thành:
EM =
Tài sản

ROE = PM x AU x EM
Có thể tóm tắt các yếu tố cơ bản tác động đến ROE của một doanh nghiệp đó là
khả năng tăng doanh thu, công tác quản lý chi phí, quản lý tài sản và đòn bẩy tài chính.
1.2.3. Nội dung phân tích tài chính.
1.2.3.1. Phân tích cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và mối quan hệ giữa tài sản với
nguồn vốn
* Phân tích cơ cấu tài sản:
Phân tích cơ cấu tài sản giúp người phân tích tìm hiểu sự thay đổi về giá trị, tỷ
trọng của tài sản qua các thời kỳ như thế nào, sự thay đổi này bắt nguồn từ những dấu
hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc
nâng cao năng lực kinh tế để phục vụ cho chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp hay không. Ngoài ra, việc phân tích này còn cung cấp cho nhà phân tích
nhìn về quá khứ tìm kiếm một xu hướng, bản chất sự biến động tài sản của doanh
nghiệp.
Khi phân tích cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh sự biến động trên tổng số tài sản
và từng loại tài sản (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng
tồn kho, …) giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn tính ra và so sánh tỷ

20
trọng của từng loại tài sản chiếm trong tổng số, từ đố thấy được xu hướng biến động và
mức độ hợp lý của việc phân bổ.
Nhà phân tích có thể lập bảng phân tích theo mẫu sau:
BẢNG 1.1: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU TÀI SẢN
Tài sản
Kỳ gốc Kỳ phân tích
Kỳ PT so với
KG
Chên
h lệch
tỷ

V. Tài sản ngắn hạn khác
B. Tài sản dài hạn
1 2 3 4 5 6 7 8
I. Phải thu dài hạn
II. Tài sản cố định
III. Bất động sản đầu tư
IV. Đầu tư tài chính dài hạn
V. Tài sản dài hạn khác
Tổng cộng
* Phân tích cơ cấu nguồn vốn:
Phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm giúp nhà phân tích tìm hiểu được sự thay đổi
về giá trị, tỷ trọng của nguồn vốn qua các thời kỳ. Sự thay đổi này bắt nguồn từ những
dấu hiệu tích cực hay thụ động trong quá trình sản xuất kinh doanh, có phù hợp với việc
nâng cao năng lực tài chính, tính tự chủ tài chính, khả năng tận dụng, khai thác nguồn
vốn trên thị trường cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay không cũng như có phù hợp
với chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay không? Phân tích cơ
cấu nguồn vốn cung cấp thông tin cho người phân tích sự thay đổi nguồn vốn, một xu
hướng cơ cấu nguồn vốn hợp lý trong tương lai.
Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng được tiến hành tương tự như việc phân
tích cơ cấu tài sản. Cùng với việc so sánh tổng nguồn vốn cũng như từng loại nguồn vốn
giữa kỳ phân tích so với kỳ gốc, các nhà phân tích còn tính ra và so sánh tỷ trọng của
từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số, từ đó thấy được xu hướng biến động, mức
độ hợp lý và tính tự chủ tài chính của doanh nghiệp.
Hệ số nợ so với
tài sản

22
Khi phân tích có thể lập bảng theo mẫu sau:
BẢNG 1.2: BẢNG PHÂN TÍCH CƠ CẤU NGUỒN VỐN
Nguồn vốn

Giá trị của từng bộ phận nguồn vốn
Tổng sô nguồn vốn
=
Tỷ trọng của từng
bộ phận nguồn vốn
100x
Hệ số nợ so với
tài sản

23
* Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn
Mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản
và cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân tích mối
quan hệ này giúp nhà phân tích phần nào nhận thức được sự hợp lý giữa nguồn vốn
doanh nghiệp huy động và sử dụng chúng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ, và sử dụng có
hợp lý, hiệu quả hay không.
Khi phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn, nhà phân tích cần tính ra và
so sánh các chỉ tiêu sau:
+ Hệ số nợ so với tài sản:
Chỉ tiêu này cho biết mức độ doanh nghiệp dùng các khoản nợ đầu tư cho tài sản
là bao nhiêu. Thông thường các chủ nợ thích hệ số này vừa phải vì khi đó các khoản nợ
của họ được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Trong khi đó, các chủ
sở hữu doanh nghiệp ưa thích hệ số nợ cao vì họ muốn gia tăng lợi nhuận nhanh và
muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Hệ số nợ cao, mức độ an toàn tài chính giảm
đi, mức độ rủi ro cao hơn và có thể doanh nghiệp sẽ bị lỗ nặng nếu hoạt động sản xuất
kinh doanh không ổn định, nhưng doanh nghiệp cũng có khả năng thu lợi nhuận cao khi
điều kiện kinh tế thuận lợi. Dù vậy, nếu hệ số này quá cao thì doanh nghiệp sẽ dễ rơi vào
tình trạng mất khả năng thanh toán và không thể kiểm soát được hoạt động của mình. Vì
vậy, để vừa đảm bảo khả năng gia tăng lợi nhuận cao vừa giảm thiểu rủi ro khi đưa ra
các quyết định tài chính, doanh nghiệp cần xem xét mức độ cân bằng giữa rủi ro và lợi

cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn.
Đồng thời nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu kỳ luân chuyển tài sản ngắn hạn với
=
Hệ số tài sản so với
vốn chủ sở hữu
Tài sản

25
Vốn chủ sở hữu

Trích đoạn Nhân tố khách quan CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ SƠ ĐỒ 2.3: HÌNH THỨC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CẢNG ĐOẠN XÁ Những mặt đạt được: Hạn chế và nguyên nhân.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status