hoàn thiện phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và dịch vụ thương mại thành phúc - Pdf 23

Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
MỤC LỤC
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp
LTK11
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
LờI Mở ĐầU
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, nhất là khi luật
doanh nghiệp được sửa đổi, trong khi các doanh nghiệp nhà nước phải thực sự chịu
trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình, cụ thể là phải tự hạch toán lỗ lãi thì
các doanh nghiệp tư nhân cũng trở nên năng động hơn, tự chủ hơn trong hoạt động
sản xuất kinh doanh. Phân tích tài chính nhằm mục đích cung cấp thông tin về thực
trạng tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng thanh toán, hiệu quả sử
dụng vốn trở thành công cụ hết sức quan trọng trong quản lý kinh tế. Phân tích tài
chính cung cấp cho nhà quản lý cái nhìn tổng quát về thực trạng của doanh nghiệp
hiện tại, dự báo các vấn đề tài chính trong tương lai, cung cấp cho các nhà đầu tư
tình hình phát triển và hiệu quả hoạt động, giúp các nhà hoạch định chính sách đưa
ra biện pháp quản lý hữu hiệu.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng là
nội dung quan trọng trong phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế mở, muốn khẳng định được vị trí của mình trên thị
trường, muốn chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh phần lớn phụ thuộc vào hiệu
quả sản xuất kinh doanh. Hiệu quả nó sẽ được đánh giá qua phân tích tài chính.
Các chỉ tiêu phân tích sẽ cho biết bức tranh về hoạt động của doanh nghiệp giúp
tìm ra hướng đi đúng đắn, có các chiến lược và quyết định kịp thời nhằm đạt được
hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc phân tích tài chính đối với sự
phát triển của doanh nghiệp kết hợp với kiến thức lý luận được tiếp thu ở nhà
trường và tài liệu tham khảo thực tế, em đã chọn đề tài phân tích: “ Hoàn thiện
phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng và dịch vụ thương
mại Thành Phúc”.
Chuyên đề này gồm 3 chương:

nghiệp và các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính doanh nghiệp
chủ yếu bao gồm:
-Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh
khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước
góp vốn vào doanh nghiệp.
-Quan hệ doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thể
hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường
tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn
hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn.
Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các
nhà tài trợ. Doanh nghiệp cũng có thÓ gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng
khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng.
-Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế,
doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với nhiều doanh nghiệp khác trên thị
trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động. Đây là những thị trường
mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm
kiếm lao động, Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
3
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
thể xác định nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó,
doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị thỏa
mãn nhu cầu của thị trường.
-Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận
sản xuất kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông và chủ nợ,
giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. Các mối quan hệ này được thẻ
hiện thông qua hàng loạt các chính sách của doanh nghiệp nh: chính sách phân
phối thu nhập, chính sách đầu tư chính sách về cơ cấu vốn và chi phí vốn,
Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, cần
phải có một lượng tài sản phản ánh bên tài sản của bảng cân đối kế toán. Nếu

tiền đi ra; ngược lại, tương ứng với dòng vật chất đi ra ( hàng hoá, dịch vụ đầu
ra ) là dòng tiền đi vào. Quy trình này được mô tả theo sơ đồ sau:
Dòng vật chất đi vào Dòng tiền đi ra (xuất quỹ) Dòng vật chất đi ra Dòng tiền đi vào (xuất quỹ)
Sản xuất, chuyển hoá là một quá trình công nghệ. Một mặt, nó được
đặc trưng bởi thời gian chuyển hoá hàng hoá và dịch vụ, mặt khác nó đặc
trung bởi yếu tố cần thiết cho sự vận hành - đó là tư liệu lao động và sức lao
động. Quá trình công nghệ này có tác dụng quyết định đến cơ cấu vốn và hoạt
động trao đổi của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thực hiện trao đổi hoặc với thị trường cung cấp hàng hoá
dịch vụ đầu vào hoặc với thị trường phân phối, tiêu thụ hàng hoá dịch vụ đầu
ra và tuỳ thuộc vào tính chất hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
5
Sản xuÊt
chuyÓn hoá
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
nghiệp. Các quan hệ tài chính của doanh nghiệp được phát sinh từ chính quá
trình trao đổi đó. Quá trình này quyết định đến sự vận hành của sản xuất làm
thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Phân tích các quan hệ tài chính của
doanh nghiệp cần dựa trên hai khái niệm căn bản là dòng và dự trữ. Dòng chỉ
xuất hiện trên cơ sở tích luỹ ban đầu mỗi hàng hoá, dịch vụ hoặc tiền trong
mỗi doanh nghiệp và nó sẽ làm thay đổi khối lượng tài sản tích luỹ của doanh
nghiệp. Một khối lượng tài sản, hàng hoá, hoặc tiền được đo tại một thời điểm
là một khoản dự trữ. Quan hệ giữa dòng và dự trữ là cơ sở nền t¶ngcña tài
chính doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào bản chất khác nhau của các dòng dự trữ mà
người ta phân biệt dòng tiền đối trọng và dòng tiền độc lập.
Hoạt động tài chính doanh nghiệp trả lời các câu hỏi chính sau đây:

của họ là khả năng trả nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp. Đối với các
nhà đầu tư khác mối quan tâm của yếu của họ là các yếu tố rủi ro, lãi suất, khả
năng thanh toán
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các
báo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống
các phương pháp, công cụ, kỹ thuật phân tích giúp người sử dụng từ các góc
độ khác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, vừa xem xét một
cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự
báo, đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp.
1.1.3 - Phương pháp phân tích
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ biện
pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên
trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu
tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp.
Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích tài chính, nhưng trên thực tế
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
7
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
người ta thưêng sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tư lệ,
phương pháp Dupon.
1.1.3.1- Phương pháp so sánh
Điều kiện để áp dụng phương pháp so sánh là các chỉ tiêu tài chính phØa
thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán,
và theo mục đích phân tích mà xác định số gốc so sánh. Gốc so sánh được
chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là
kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá trị so sánh có thể lựa chọn bằng số tuyệt đối,
số tương đối hoặc số bình quân:
-So sánh giữa số thực hiện trong kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy
rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay
thụt lùi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

hiện được tình hình tài chính. Phân tích tư số cho phép phân tích đầy đủ
khuynh hướng vì một số dấu hiệu có thể được kết luận thông qua quan sát số
lớn các hiện tượng nghiên cứu riêng rÊ.
1.1.3.3 - Phương pháp phân tích Dupont
Bản chất của phương pháp Dupon là tách một tư số tổng hợp phản ánh
sức sinh lợi của doanh nghiệp như thu nhập sau thuế trên tổng tài sản
( ROA ), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ( ROE ) thành tích số của
chuỗi các tư số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân
tích ảnh hưởng của các tư số đó đối với tư số tổng hợp.
Phương pháp phân tích Dupon là phân tích tổng hợp tài chính của doanh
nghiệp. Thông qua hệ thống của một số chỉ tiêu chủ yếu để phản ánh tình hình
tài chính của doanh nghiệp một cách trực quan rõ ràng. Thông qua việc sử
dụng phương pháp phân tích Dupon để phân tích từ trên xuống không những
có thể tìm hiểu được tình trạng chung của tài chính doanh nghiệp, cùng các
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
9
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
quan hệ cơ cấu giữa các chỉ tiêu đánh giá tài chính, làm rõ các nhân tố ảnh
hưởng làm biến động tăng giảm của các chỉ tiêu tài chính chủ yếu, cùng các
vấn đề còn tồn tại mà có thể giúp các nhà quản lý doanh nghiệp làm ưu hóa
cơ cấu kinh doanh và cơ cấu hoạt động tài chính, tạo cơ sở cho việc nâng cao
hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
Trước hết ta xem xét mối quan hệ tương tác giữa tư số doanh lợi vốn chủ
sở hữu (ROE) với tư số doanh lợi tài sản (ROA)
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Lợi nhuận sau thuế
ROA = x = (1)
Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản
Tư ROA cho thấy tư suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
- Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

Doanh thu Tổng tài sản 1- Rd
Víi Rd = Nợ / Tổng tài sản là hệ số nợ và phương trình này gọi là
phương trình Dupont mở rộng thể hiện sự phụ thuộc của doanh lợi vốn chủ sở
hữu vào doanh lợi tiêu thụ, vòng quay toàn bộ vốn và hệ số nợ.
Từ đây ta thấy sử dụng nợ có tác dụng khuyÕch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu
nếu doanh nghiệp có lợi nhuận trong kỳ, hệ số nợ càng lớn thì lợi nhuận càng cao
và ngược lại, nếu doanh nghiệp đang bị lỗ thì sử dụng nợ càng tăng số lỗ.
Phương pháp phân tích Dupont có ưu điểm lớn là giúp nhà phân tích
phát hiện và tập trung vào các yếu điểm của doanh nghiệp. Nếu doanh lợi vốn
chủ sở hữu của doanh nghiệp thấp hơn các doanh nghiệp khác trong cùng
ngành thì nhà phân tích có thể dựa vào hệ thống các chỉ tiêu theo phương
pháp phân tích Dupont để tìm ra nguyên nhân chính xác. Ngoài việc được sử
dụng để so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành, các chỉ tiêu đó
có thể được dùng để xác định xu hướng hoạt động của doanh nghiệp trong
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
11
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn doanh nghiệp có thể sẽ gặp
phải. Nhà phân tích nếu biết kết hợp phương pháp phân tích tư lệ và phương
pháp phân tích Dupont sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân tích tài chính
doanh nghiệp.
• Ngoài các phương pháp phân tích chủ yếu trên, người ta còn sử dụng một
số phương pháp khác: phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phương
pháp toán tài chính, kể cả phương pháp phân tích các tình huống giả định.
• Trong quá trình phân tích tổng thể thì việc áp dụng linh hoạt, xen kẽ
các phương pháp sẽ đem lại kết quả cao hơn khi phân tích đơn thuần, vì trong
phân tích tài chính kết quả mà mỗi chỉ tiêu đem lại chỉ thực sự có ý nghĩa khi
xem xét nó trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác. Do vậy, phương pháp
phân tích hữu hiệu cần đi từ tổng quát đánh giá chung cho đến các phần chi
tiết, hay nói cách khác là lúc đầu ta nhìn nhận tình hình tài chính trên một

Năng lực tài chính thấp không những chứng tỏ doanh nghiệp bị căng
thẳng về tiền vốn, không có đủ tiền để chi tiêu trong việc kinh doanh hàng
ngày, mà còn chứng tỏ sự quay vòng của đồng vốn không nhanh nhạy, khó có
thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn, thậm chí doanh nghiệp có thể
đứng trước nguy cơ bị phá sản. Vì trong quá trình kinh doanh, chỉ cần mức thu
lợi của tiền đầu tư lớn hơn lãi suất vốn vay sẽ có lợi cho cổ đông nhưng vay nợ
quá nhiều sẽ làm tăng rủi ro của doanh nghiệp. Vay vốn để kinh doanh có thể
làm tăng lợi nhuận của cổ phiếu từ đó làm tăng giá trị cổ phần của doanh nghiệp,
nhưng rủi ro tăng lên thì trên mức độ nào đó cũng làm giảm giá trị cổ phần.
Năng lực thanh toán của doanh nghiệp gồm: thanh toán nợ ngắn hạn và
thanh toán nợ dài hạn, trong đó nợ trung và dài hạn chủ yếu là cùng tiền lãi
trong quá trình kinh doanh để thanh toán. Nợ ngắn hạn chủ yếu là trông vào
năng lực lưu động và tài sản lưu động của doanh nghiệp làm đảm bảo. Việc
đánh giá năng lực thanh toán của doanh nghiệp phải bao gồm cả hai mặt:
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
13
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
đánh giá năng lực thanh toán nợ ngắn hạn và năng lực thanh toán nợ dài hạn.
Năng lực thanh toán nợ ngắn hạn là năng lực chi trả các khoản nợ ngắn
hạn. Các khoản nợ ngắn hạn còn được gọi là các khoản nợ lưu động, tức là
các khoản nợ có thời hạn trong vòng một năm. Loại nợ này phải thanh toán
bằng tiền mặt hoặc các tài sản lưu động khác. Các khoản nợ này có rủi ro cao
đối với tài chính của doanh nghiệp. Nếu không thanh toán đúng hạn thì sẽ làm
cho doanh nghiệp phải đứng trước nguy cơ vỡ nợ. Trong Bảng cân đối tài sản,
các khoản nợ ngắn hạn và tài sản lưu động có quan hệ đối ứng, phải dùng tài
sản lưu động để đối phó với các khoản nợ ngắn hạn.
a. Tư số khả năng thanh toán ngắn hạn - Khả năng thanh toán hiện
hành ( The current ratio – Rc )
Công thức tính:
Rc = Tài sản lưu động / Các khoản nợ ngắn hạn

Khả năng TT bằng tiền = Tiền và tương đương tiền / Nợ ngắn hạn
Tư số thanh toán bằng tiền thể hiện mối quan hệ tiền (tiền mặt và các
khoản tương đương tiền nh chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển đổi ) và khoản
nợ đến hạn phải trả. Nợ đến hạn phải trả bao gồm nợ ngắn hạn, trung hạn, dài
hạn đến hạn trả. Tư số thanh toán nhanh chưa bộc lộ hết khả năng thanh toán
của doanh nghiệp bởi nó mới tính đến các khoản nợ ngắn hạn. Nếu nợ dài hạn
đến hạn trả doanh nghiệp phải xử lý như thế nào nếu không lập kế hoạch từ
trước và nó có khiến doanh nghiệp mất khả năng thanh toán không? Tư số
thanh toán bằng tiền cho chóng ta biết khá rõ về tình trạng đó tuy nhiên hệ số
này hết sức nhạy cảm nên doanh nghiệp cần xác định phù hợp vì nếu hệ số
thanh toán bằng tiền quá thấp thì doanh nghiệp phải bán các tài sản lưu động
khác như chứng khoán ngắn hạn để thanh toán, còn tư số thanh toán bằng
tiền quá cao tức doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt thì doanh nghiệp bỏ
lỡ cơ hội sinh lời. Các chủ nợ đánh giá mức trung bình hợp lý cho tư lệ này là
0,5. Khi tư lệ này lớn hơn 0,5 thì khả năng thanh toán tức thời của doanh
nghiệp là khả quan và ngược lại.
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
15
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
c. Tư số thanh toán nhanh ( The quick Ratio – Rq )
Công thức tính:
Rq = ( Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho ) / các khoản nợ ngắn hạn
Trong đó, tài sản ngắn hạn (tài sản lưu động) trừ đi hàng tồn kho còn
được gọi là tài sản vòng quay nhanh. Do hàng tồn kho ( Dự trữ ) là các tài sản
có tính thanh khoản thấp nhất trong tổng tài sản lưu động, mất nhiều thời gian
và dễ bị lỗ nhất khi bán nên không được tính vào tư số thanh toán nhanh.
Tư số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn
hạn không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ ( tồn kho ). Do đó, có thể
thấy tư số thanh toán nhanh phản ánh chính xác hơn, chân thực hơn về khả
năng thanh toán ngắn hạn.

bao gồm các tư số: Tư số vòng quay hàng tồn kho ( Vòng quay dự trữ ); Kỳ thu
tiền bình quân; Hiệu quả sử dụng tài sản cố định; Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài
sản.
a. Tư số vòng quay hàng tồn kho –Vòng quay dự trữ ( Inventory Ratio – Ri)
Công thức tính:
Ri = Doanh thu thuần / Hàng tồn kho.
Trong đó, doanh thu thuần là doanh số của toàn bộ hàng hoá tiêu thụ
trong kỳ không phân biệt đã thu tiền hay chưa, trừ đi phần hoa hồng chiết
khấu, giảm giá hay hàng hoá bị trả lại. Còn hàng hoá tồn kho bao gồm các
loại nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, vật liệu phụ còn tồn
trong kho. Độ lớn của quy mô tồn kho tuỳ thuộc vào sợ kết hợp của nhiều yếu
tố như: ngành kinh doanh, thời điểm phân tích, mùa vụ,…Trong quá trình tính
toán chúng ta cần phải lưu ý: mặc dù doanh thu được tạo ra trong suốt năm,
nhưng giá trị hàng tồn kho trong Bảng cân đối là mức tồn kho tại một thời
điểm cụ thể, do vậy khi tính chúng ta phải lấy giá trị tồn kho trung bình năm.
Tư số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
17
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
của các loại hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu, là chỉ tiêu phản ánh năng
lực tiêu thụ hàng hoá và tốc độ vòng quay hàng tồn trữ, đồng thời để ước
lượng hiệu suất quản lý hàng tồn trữ của doanh nghiệp và là căn cứ để người
quản lý tài chính biết được doanh nghiệp bỏ vốn vào lượng trữ hàng quá
nhiều hay không. Do đó, nhìn chung hàng tồn kho lưu thông càng nhanh càng
tốt. Nếu mức quay vòng hàng tồn kho quá thấp, chứng tỏ lượng hàng tồn quá
mức, sản phẩm bị tích đọng hoặc tiêu thụ không tốt sẽ là một biểu hiện xấu
trong kinh doanh. Vì hàng tồn trữ còn trực tiếp liên quan đến năng lực thu lợi
của doanh nghiệp. Cho nên trong trường hợp lợi nhuận lớn hơn không, số lần
quay vòng hàng tồn kho nhiều chứng tỏ hàng lớn trữ chỉ chiếm dụng số vốn
nhỏ, thời gian trữ hàng ngắn, hàng tiêu thụ nhanh, thu lợi sẽ càng nhiều.

quản trị các khoản phải thu. Nên cần phải phân tích định kỳ các khoản phải thu
để sớm phát hiện những khoản nợ khó đòi để có biện pháp xử lý kịp thời.
c. Hiệu quả sử dụng tài sản cố định ( The Fixed Assets Utilization – FAU )
Công thức tính:
FAU = Doanh thu thuần / Giá trị tài sản cố định
Trong đó, giá trị tài sản cố định là giá trị thuần của các loại tài sản cố
định tính theo giá trị ghi sổ kế toán, tức nguyên giá của tài sản cố định khấu
trừ phần hao mòn tài sản cố định dồn đến thời điểm tính.
Tư số này còn được gọi là Mức quay vòng của tài sản cố định, phản
ánh tình hình quay vòng của tài sản cố định, và là một chỉ tiêu ước lượng hiệu
suất sử dụng tài sản cố định. Như vậy, tư số này cho biết hiệu quả sử dụng
vốn đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một đồng
tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một năm. Tư số này
cao chứng tỏ tình hình hoạt động của doanh nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần
cao so với tài sản cố định, chứng tỏ việc đầu tư vào tài sản cố định của doanh
nghiệp là xác đáng, cơ cấu hợp lý, hiệu suất sử dụng cao. Ngược lại, nếu vòng
quay tài sản cố định không cao thì chứng tỏ hiệu suất sử dụng thấp, kết quả đối
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
19
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
với sản xuất không nhiều, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp không mạnh.
Mặt khác, tư số còn phản ánh khả năng sử dụng hữu hiệu tài sản các loại.
d. Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản ( The Total Assets Utilization –
TAU )
Công thức tính:
TAU = Doanh thu thuần / Tổng tài sản có
Trong đó, tổng tài sản có là tổng toàn bộ giá trị tài sản của doanh
nghiệp bao gồm cả tài sản cố định và tài sản lưu động tại thời điểm tính toán
và dựa trên giá trị theo sổ sách kế toán.
Tư số này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó cho biết hiệu

tăng khả năng vỡ nợ của doanh nghiệp nên nguy cơ không thu hồi được nợ
của các chủ nợ tăng, và nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận từ tiền vay thì
lợi nhuận dành cho các chủ doanh nghiệp sẽ tăng đáng kể.
Nhóm các tư số về đòn cân nợ gồm có: Tư số nợ; Tư số về khả năng
thanh toán lãi vay; Tư số về khả năng thanh toán các chi phí cố định.
a. Tư số nợ ( Debt Ratio – Rd )
Công thức tính:
Rd = Tổng số nợ / Tổng tài sản có
Trong đó, tổng số nợ gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại
thời điểm lập báo cáo tài chính. Còn tổng tài sản có bao gồm tài sản lưu động
và tài sản cố định hay là tổng toàn bộ kinh phí đầu tư cho sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp trong phần bên trái của Bảng cân đối kế toán.
Tư số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối
với các chủ nợ trong việc góp vốn. Thông thường các chủ nợ thích tư số này
vừa phải vì tư số này càng thấp thì khoản nợ vay càng được đảm bảo trong
trường hợp doanh nghiệp bị phá sản. Còn các chủ sở hữu thích tư số này cao
vì họ muốn lợi nhuận tăng nhanh. Tuy nhiên nếu tư số nợ quá cao thì doanh
nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Để có nhận định
đúng về tư số này cần phải kết hợp với các tư số khác nữa.
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
21
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
b.Tư số cơ cấu nguồn vốn
Công thức tính:
Tư số cơ cấu nguồn vốn = VCSH / Tổng nguồn vốn
Tư số này xác định mức đóng góp của của chủ sở hữu trong tổng nguồn
vốn hiện có của doanh nghiệp. Tư số cơ cấu nguồn vốn có quan hệ mật thiết
với hệ số nợ. Tư số này lớn thì vốn chủ sở hữu lớn doanh nghiệp có được lợi
thỊ khi tiếp cận một số nguồn vốn vay mà yêu cầu vay phải có vốn chủ sở hữu
lớn. Và ngược lại, tư số này thấp gây bất lợi cho doanh nghiệp khi đi vay

thua lỗ liên miên có thể có khả năng thanh toán mạnh.
Năng lực thu lợi cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư
mua cổ phần. Vì các cổ đông thu lợi đầu tư là thông qua cổ tức, mà toàn bộ cổ
tức lại từ lợi nhuận tịnh của doanh nghiệp mà có. Hơn nữa đối với công ty có
tham gia thị trường chứng khoán thì có sự tăng trưởng của lợi nhuận làm cho
các cổ đông có thêm lợi về giá cổ phiÒu trên thị trường.
Năng lực thu lợi của doanh nghiệp cũng quan trọng đối với các nhà
quản lý vì tổng lợi nhuận và lợi nhuận thuần là những chỉ tiêu để đánh giá
thành tích kinh doanh của những người quản lý.
Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm:
- Lợi nhuận kinh doanh: là nguồn gốc chủ yếu của lợi nhuận doanh
nghiệp, là lợi nhuận có được thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợi
nhuận kinh doanh là do lợi nhuận của các nghiệp vụ kinh doanh chính và các
lợi nhuận của các doanh nghiệp khác cấu thành. Lợi nhuận kinh doanh là một
chỉ tiêu để đánh giá thành tích kinh doanh của doanh nghiệp.
- Các khoản thu chi ngoài kinh doanh: là các khoản thu chi không có
SV: Phạm Thị Thúy Lớp: Tài chính doanh nghiệp LTK11
23
Chuyên đề thực tập Trường §HKTQD
quan hệ trực tiếp đối với các hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh
nghiệp. Tuy không có quan hệ trực tiếp đối với các hoạt động kinh doanh
nhưng các khoản thu chi ngoài kinh doanh vẫn là một trong những nhân tố
làm tăng hoặc giảm lợi nhuận vì nó cũng đem lại thu nhập hoặc phải chi ra
đối với doanh nghiệp vẫn có ảnh hưởng rất lớn đối với tổng lợi nhuận và lợi
nhuần thuần của doanh nghiệp.
- Thu nhập ngoài kinh doanh: là những khoản thu không có quan hệ
trực tiếp với những hoạt động sản xuất kinh doanh. Thu nhập ngoài kinh
doanh là những thu nhập mà không tổn phí tiền vốn của doanh nghiệp, trên
thực tế là một loại thu nhập thuần tuý, doanh nghiệp không phải mất một loại
chi phí nào. Vì vậy, về mặt hạch toán kế toán cần phải phân chia ranh giới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status