TI LIU HNG DN THC HIN
CHUN MC KIM TON S 315
xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu
thông qua hiểu biết về đơn vị đợc kiểm toán và môi tr-
ờng của đơn vị
MC LC
PHN I. QUY NH CHUNG
1. Cỏc chun mc kim toỏn liờn quan n VSA 315
2. Phm vi ỏp dng
3. i tng ỏp dng
4. Mc tiờu
5. Gii thớch thut ng ch yu
PHN II. CC YấU CU V HNG DN
1. ỏnh giỏ ri ro v cỏc hot ng liờn quan
1.1. Yờu cu v ỏnh giỏ ri ro
1.2. Th tc ỏnh giỏ ri ro
1.3. S dng cỏc thụng tin thu thp c t th tc ỏnh giỏ chp nhn hoc duy trỡ
khỏch hng hoc cỏc thụng tin ó cú trc õy ỏnh giỏ ri ro
1.4. Tho lun nhúm kim toỏn
2. Nhng hiu bit cn cú v n v c kim toỏn v mụi trng ca n v, trong ú cú
kim soỏt ni b
2.1 Hiu bit v n v c kim toỏn v mụi trng ca n v
2.2 Tỡm hiu v kim soỏt ni b ca n v c kim toỏn
2.3 Ni dung v mc hiu bit v kim soỏt cú liờn quan
2.4 Cỏc thnh phn ca kim soỏt ni b
3. Xỏc nh v ỏnh giỏ ri ro cú sai sút trng yu
3.1. ỏnh giỏ ri ro cú sai sút trng yu cp bỏo cỏo ti chớnh v cp c s
dn liu:
3.2. Cỏc th tc phi thc hin khi ỏnh giỏ ri ro :
3.3. Ri ro phi c bit lu ý khi kim toỏn:
3.4. Nhng ri ro m nu ch thc hin cỏc th nghim c bn s khụng cung cp
Ví dụ: Khác với các nước là cá nhân được hành nghề kiểm toán nên chuẩn mực kiểm toán
chỉ quy định cho kiểm toán viên, Việt Nam chỉ có doanh nghiệp kiểm toán mới được
cung cấp dịch vụ kiểm toán, do đó từng kiểm toán viên và cả doanh nghiệp kiểm toán
đều phải tuân thủ các quy định và hướng dẫn tại chuẩn mực kiểm toán VSA 315.
Đơn vị được kiểm toán (khách hàng) và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải có
những hiểu biết cần thiết về các quy định và hướng dẫn của Chuẩn mực này để phối
hợp công việc và xử lý các mối quan hệ liên quan đến quá trình cung cấp và thu thập
bằng chứng kiểm toán.
Chất lượng của cuộc kiểm toán không chỉ phụ thuộc vào kiểm toán viên và công ty
kiểm toán mà còn phụ thuộc vào việc cung cấp tài liệu, giải trình và cùng xử lý các sai
sót do kiểm toán viên phát hiện của đơn vị được kiểm toán. Do đó, đơn vị được kiểm
toán cần phải có những hiểu biết nhất định về chuẩn mực kiểm toán để phối hợp thực
hiện kiểm toán.
Các bên sử dụng kết quả kiểm toán (như cơ quan quản lý nhà nước; cơ quan thanh
tra, kiểm tra; tổ chức tín dụng; các quĩ đầu tư; nhà đầu tư; đơn vị, tổ chức có giao dịch
kinh tế; người lao động trong doanh nghiệp ) cũng phải có những hiểu biết nhất định
khi sử dụng báo cáo tài chính đã được kiểm toán cũng như sử dụng báo cáo kiểm toán
và khi làm việc với kiểm toán viên và công ty kiểm toán.
4 Mục tiêu
(VSA 315, 03)
Mục tiêu của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán là xác định và đánh giá rủi ro có sai
sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu,
thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm
soát nội bộ, từ đó cung cấp cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý đối với
rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá.
5 Giải thích thuật ngữ chủ yếu
(VSA 315, 04)
a Cơ sở dẫn liệu: Là các khẳng định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán một cách
trực tiếp hoặc dưới hình thức khác về các khoản mục và thông tin trình bày trong báo
cáo tài chính và được kiểm toán viên sử dụng để xem xét các loại sai sót có thể xảy ra;
đổi vốn chủ sở hữu và báo cáo khác.
(VSA 240, 04-05)
g Thuật ngữ “Gian lận” và “Sai sót”:
Gian lận: Là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều
người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện,
làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính.
Sai sót: Là những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính, như:
- Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai;
- Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các khoản mục, các nghiệp vụ kinh tế;
- Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính
sách tài chính nhưng không cố ý.
(VSA 610, 04)
h Kiểm toán nội bộ: Là một bộ phận trong kiểm soát nội bộ của một đơn vị, có chức năng
kiểm tra, đánh giá tính phù hợp, hiệu quả, sự tuân thủ pháp luật và các qui định của hệ
thống kế toán và kiểm soát nội bộ của đơn vị đó.
I.
II CÁC YÊU CẦU VÀ HƯỚNG DẪN
Kết cấu của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 (“VSA 315”) - "Xác định và đánh giá rủi ro
có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị””
bao gồm phần Nội dung yêu cầu và phần Hướng dẫn áp dụng. Tài liệu hướng dẫn này trình bày
chung hai phần nội dung và hướng dẫn áp dụng theo từng mục phù hợp.
Khi nghiên cứu và thực hiện Chuẩn mực kiểm toán này cần tham khảo các quy định và hướng
dẫn của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 và các chuẩn mực kiểm toán liên quan nêu tại
Mục 1 Phần I.
1 Đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan
1 Yêu cầu về đánh giá rủi ro
1.1.1 Nội dung yêu cầu
(VSA 315, 05)
Kiểm toán viên phải thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro để có cơ sở xác định và đánh giá
rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu.
phải có. Vấn đề chính mà kiểm toán viên cần xem xét là những hiểu biết đã có liệu đã đáp
ứng được mục tiêu quy định trong chuẩn mực này hay chưa. Chuẩn mực này không yêu
cầu kiểm toán viên phải có hiểu biết tổng thể sâu sắc về đơn vị như yêu cầu đối với Ban
Giám đốc trong quá trình điều hành đơn vị. (VSA 315, A3)
Các bước đánh giá rủi ro được tổng hợp theo quy trình như sau
Đánh giá rủi ro Tiếp cận rủi ro Báo cáo
Những sự kiện (*) nào có
thể xảy ra dẫn đến các sai
sót trọng yếu trên báo cáo
tài chính
Các sự kiện (*) đã xác định
khi xuất hiện có làm nẩy
sinh các sai sót trọng yếu
trên báo cáo tài chính
không?
Ý kiến kiểm toán nào
là phù hợp đưa ra về
báo cáo tìa chính
dựa trên các bằng
chứng thu thập được
(*) Một sự kiện đơn giản là một nhân tố rủi ro kinh doanh hoặc rủi ro gian lận mà nếu nó
thực sự xảy ra thì có thể gây ảnh hưởng không tốt cho mục tiêu của đơn vị là lập các báo
cáo tài chính không chứa đựng các sai sót trọng yếu gây ra bởi lỗi hay gian lận. Nó cũng
có thể bao gồm những rủi ro phát sinh từ việc thiếu hoạt động kiểm soát nội bộ nhằm vào
việc ngăn ngừa các sai sót trọng yếu tiểm tàng trên các báo cáo tài chính.
Các yếu tố tạo ra rủi ro kinh doanh và gian lận:
Mục tiêu và
chiến lược
kinh doanh
• Các mục tiêu và chiến lược không phù hợp, thiếu thực tế hay quá táo bạo.
năng).
• Sự yếu kém trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là những kiểm soát không
được thực hiện bởi ban quản trị.
• Các mối quan hệ xấu với các nhà cấp vốn bên ngoài ví dụ như ngân hàng.
• Các vấn đề liên quan tới khả năng hoạt động liên tục hay tính thanh khoản,
bao gồm việc mất đi những khách hàng lớn.
• Đưa vào hoạt động những hệ thống mới liên quan tới báo cáo tài chính.
Các yếu tố
về hiệu quả
• Sự đo lường hiệu quả không được sử dụng bởi Ban quản trị nhằm đánh giá
kết quả hoạt động và việc có đạt được các mục tiêu của đơn vị không.
• Việc đo lường không dùng để cải thiện hoạt động hay thực hiện các hoạt
động hiệu chỉnh.
Các chính
sách kế toán
• Sự áp dụng không thống nhất các chính sách kế toán.
• Sự áp dụng không phù hợp các chính sách kế toán
Kiểm soát
nội bộ
• Sự không phù hợp trong việc giám sát các hoạt động hàng ngày
• Thiếu hoặc yếu kém các kiểm soát với các hoạt động ở cấp độ đơn vị như:
nhân lực, gian lận, lập các thông tin kế toán như ước tính và các báo cáo
tình chính.
• Thiếu hoặc yếu kém trong các kiểm soát đối với các giao dịch như: bán
hàng, mua hàng, chi phí, lương.
• Yếu kém trong quản lý, bảo vệ tài sản.
2 Thủ tục đánh giá rủi ro
Thủ tục đánh giá rủi ro hiệu quả thường có các đặc điểm sau:
Có sự tham gia của các thành viên có kinh nghiệm:
Thành viên Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán/Chủ nhiệm kiểm toán và các
Bước quan trọng nhất trong quy trình đánh giá rủi ro là phát hiện các rủi ro có liên quan.
Nếu các yếu tố rủi ro kinh doanh và gian lận không được kiểm toán viên nhận diện, chúng
sẽ không được đánh giá hoặc ghi chép lại, và các thủ tục kiểm toán cần thiết sẽ không
được thiết kế. Đó là lý do một thủ tục đánh giá rủi ro hiệu quả đặc biệt quan trong cho một
cuộc kiểm toán hiệu quả. Thủ tục đánh giá rủi ro cũng cần được thực hiện bởi các thành
viên có cấp bậc phù hợp của nhóm kiểm toán.
Khả năng đánh giá các biện pháp quản lý rủi ro của Ban Giám đốc đơn vị
Một bước quan trọng trong quá trình đánh giá rủi ro là đánh giá tính hiệu quả trong các
biện pháp quản lý rủi ro của Ban Giám đốc (các thiết kế kiểm soát và áp dụng), nếu có, để
giảm thiểu các rủi ro đã được phát hiện có thể gây ra các sai sót trọng yếu trong báo cáo
tài chính. Đối với các đơn vị nhỏ, kiểm toán viên sẽ dựa nhiều hơn vào môi trường kiểm
soát và giám sát các kiểm soát hơn là vào các thủ tục kiểm soát truyền thống.
Sử dụng các xét đoán nghề nghiệp
Kiểm toán viên cần sử dụng và ghi chép lại các xét đoán nghề nghiệp sử dụng trong cuộc
kiểm toán. Ví dụ của nhiệm vụ này bao gồm:
- Quyết định chấp nhận hay tiếp tục thực hiện một hợp đồng kiểm toán;
- Xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng thể;
- Xây dựng mức trọng yếu;
- Phát hiện rủi ro có sai sót trọng yếu, bao gồm việc xác định các rủi ro đáng kể và các
khía cạnh cần có sự xem xét đặc biệt của kiểm toán; và
- Xây dựng các kỳ vọng khi thực hiện các thủ tục phân tích.
Mỗi thủ tục đánh giá rủi ro cần được thực hiện phù hợp với từng khía cạnh mà kiểm toán
viên cần quan tâm. Trong một số trường hợp, kết quả do thực hiện một thủ tục này sẽ dẫn
đến việc cần thực hiện một thủ tục còn lại. Ví dụ, thông qua phỏng vấn trưởng phòng kinh
doanh, kiểm toán viên nhận thấy có một hợp đồng lớn nhưng có mức lợi tức cao bất
thường. Do đó, kiểm toán viên cần phải thực hiện các thủ tục kiểm tra hợp đồng, và thực
hiện phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu. Ngược lại, các
phát hiện thông qua thủ tục phân tích các kết quả kinh doanh ban đầu cần được Ban Giám
đốc giải thích. Từ giải thích này, kiểm toán viên có thể phải kiểm tra đến văn bản, giấy tờ
hoặc thực hiện các thủ tục quan sát thực tế.
Ngoài Ban Giám đốc, kiểm toán viên cũng có thể phỏng vấn những cá nhân khác và nhân
viên ở các cấp bậc, chức vụ khác nhau trong đơn vị được kiểm toán để thu thập thông tin
hữu ích hoặc những quan điểm, ý kiến khác giúp cho việc xác định rủi ro có sai sót trọng
yếu. Ví dụ:
1 Phỏng vấn trực tiếp Ban quản trị có thể giúp kiểm toán viên nắm được:
- Môi trường lập báo cáo tài chính;
- Quy trình chung để phát hiện và quản lý rủi ro gian lận và sai sót trong đơn vị, và
kiểm soát nội bộ mà Ban quản trị đã thiết lập để giảm thiểu rủi ro.
- Hiểu biết về rủi ro gian lận ảnh hưởng đến đơn vị;
Kiểm toán viên nên xem xét việc tham dự một buổi họp của Ban quản trị để có thêm thông
tin và cần thiết phải tìm hiểu biên bản các cuộc họp của Ban quản trị trong năm tài chính
cũng như từ khi kết thúc năm tài chính đến khi phát hành báo cáo kiểm toán. Qua đó, kiểm
toán viên mới không bỏ lỡ những thông tin quan trọng mang tính chất trọng yếu ở tầm
quản lý cao nhất của đơn vị.
2 Phỏng vấn trực tiếp kiểm toán viên nội bộ có thể giúp cung cấp thông tin về cơ cấu tổ
chức của phòng kiểm toán nội bộ, nhân sự và năng lực, các thủ tục kiểm toán viên nội
bộ đã thực hiện trong năm, liên quan đến thiết kế và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội
bộ và liệu Ban Giám đốc đã có các biện pháp thích hợp đối với với những phát hiện của
kiểm toán viên nội bộ hay chưa. Điều này hết sức cần thiết giúp kiểm toán viên hình
thành dự định có thể sử dụng kết quả làm việc của kiểm toán nội bộ hay không.
3 Phỏng vấn nhân viên chịu trách nhiệm ghi chép, xử lý và hạch toán các giao dịch phức
tạp và bất thường có thể giúp kiểm toán viên đánh giá tính phù hợp của việc lựa chọn và
áp dụng chính sách kế toán của đơn vị;
4 Phỏng vấn trực tiếp luật sư của đơn vị có thể cung cấp thông tin về các vấn đề như
kiện tụng, tuân thủ pháp luật và các quy định, những thông tin về gian lận và các cáo
buộc gian lận ảnh hưởng tới đơn vị, nghĩa vụ bảo hành, hậu mãi, các thỏa thuận (ví dụ
liên doanh, liên kết) với đối tác kinh doanh và các điều khoản hợp đồng;
5 Phỏng vấn trực tiếp nhân viên tiếp thị và bán hàng có thể cung cấp thông tin về những
thay đổi trong chiến lược thị trường, xu hướng bán hàng của đơn vị hoặc các giao kết
hợp đồng với khách hàng. (VSA 315, A6 – tiếp)
xác định các đặc điểm của đơn vị mà kiểm toán viên chưa biết và giúp đánh giá rủi ro có
sai sót trọng yếu để làm cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán đối với
rủi ro đã đánh giá. Thủ tục phân tích sử dụng trong quy trình đánh giá rủi ro có thể liên
quan đến thông tin tài chính và phi tài chính, như mối quan hệ giữa doanh thu và số lượng
hàng bán. (VSA 315, A7)
Thủ tục phân tích có thể giúp kiểm toán viên xác định sự tồn tại của các giao dịch, sự kiện
bất thường, các số liệu, tỷ trọng và xu hướng có thể là dấu hiệu của các vấn đề có ảnh
hưởng đến cuộc kiểm toán. Phát hiện được những mối quan hệ bất thường và không
mong đợi có thể giúp kiểm toán viên xác định được rủi ro có sai sót trọng yếu, đặc biệt là
những rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận. (VSA 315, A8)
Cùng với thủ tục đánh giá rủi ro, thủ tục phân tích có thể được sử dụng như một thủ tục kiểm toán
để:
- Thu thập các bằng chứng về cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính. Đây là thủ tục
phân tích trong các thử nghiệm cơ bản;
- Tiến hành phân tích tổng thể báo cáo tài chính khi kết thúc kiểm toán.
Thủ tục phân tích sử dụng những dữ liệu tổng hợp (như trường hợp thực hiện thủ tục
phân tích để đánh giá rủi ro), kết quả phân tích chỉ cung cấp những thông tin chung ban
đầu về khả năng có thể xảy ra sai sót trọng yếu. Do đó, việc xem xét những thông tin khác
đã thu thập được khi xác định rủi ro có sai sót trọng yếu cùng với kết quả của thủ tục phân
tích có thể giúp kiểm toán viên hiểu và đánh giá kết quả của thủ tục phân tích. (VSA 315,
A9)
Ví dụ: Khi phân tích biến động của chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận năm trước ở bước đánh giá
rủi ro ban đầu, kiểm toán viên nhận thấy chỉ tiêu doanh thu giảm mạnh phù hợp với tình
hình suy thoái kinh tế nói chung, nhưng nhưng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu lại tăng
lên, dẫn đến những nghi ngờ về khả năng ghi thiếu giá vốn hoặc thay đổi chính sách kế
toán hàng tồn kho Tuy nhiên sau đó, qua tìm hiểu, kiểm toán viên được biết doanh
nghiệp khách hàng đã áp dụng chính sách thắt chặt chi tiêu và thay đổi cơ cấu sản phẩm,
đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng có lợi nhuận cao, và tăng cường bán hàng nội địa khi
thị trường xuất khẩu gặp khó khăn.
Một số đơn vị có quy mô nhỏ có thể không cung cấp được cho kiểm toán viên các thông
(VSA 315, A11)
Quan sát và điều tra có thể hỗ trợ việc phỏng vấn Ban Giám đốc và các cá nhân khác
trong đơn vị, và cung cấp thêm những thông tin về đơn vị được kiểm toán và môi trường
của đơn vị. Ví dụ về những nội dung quan sát và điều tra bao gồm:
1 Hoạt động của đơn vị;
Ví dụ: Mở rộng sản xuất hay cắt giảm nhân công? Tăng cường xuất khẩu hay tăng cường tiêu
thụ nội địa? Tăng/giảm lương thưởng và phúc lợi?
2 Các tài liệu (như kế hoạch và chiến lược kinh doanh), hồ sơ, tài liệu hướng dẫn về kiểm
soát nội bộ;
Ví dụ: Biên bản họp Hội đồng Quản trị, Ngân sách và dự trù dòng tiền
3 Các loại báo cáo do Ban Giám đốc lập (như báo cáo quản lý hàng quý và báo cáo tài
chính giữa niên độ) và báo cáo do Ban quản trị lập (như biên bản họp Hội đồng quản trị);
4 Cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, máy móc thiết bị
Ví dụ: Mua thêm hay thanh lý bớt máy móc thiêt bị, thuê thêm đất để mở rộng sản xuất hay thu
hẹp nhà xưởng
Hướng dẫn thêm về thủ tục quan sát và điều tra
Quan sát và điều tra giúp cho kiểm toán viên chủ động trong việc tìm hiểu về khách hàng,
đặc biệt là khi tìm hiểu các vấn đề nhạy cảm hoặc mang tính bí mật mà kiểm toán viên khó
có thể được cung cấp thông qua phỏng vấn. Ngoài ra, thông tin thu thập được mang tính
chất khách quan hơn do kiểm toán viên thu thập một cách độc lập với khách hàng, ít bị ảnh
hưởng bởi quan điểm cá nhân hoặc các thông tin gây nhiễu của Ban Giám đốc đơn vị.
Do các ưu điểm của thủ tục này, kiểm toán viên thường sử dụng thủ tục quan sát và điều
tra để tìm hiểu những nội dung sau:
Quan sát:
- Cách thức đơn vị được tổ chức và hoạt động;
- Cơ sở vật chất của đơn vị;
- Phong cách quản lý và thái độ của Ban Giám đốc về kiểm soát nội bộ;
- Sự vận hành của các thủ tục kiểm soát; và
- Việc tuân thủ các chính sách chủ yếu.
Điều tra:
trước đến cuộc kiểm toán hiện tại có thể ảnh hưởng tới cuộc kiểm toán hiện tại hay không.
(VSA 315, 09)
1.3.2 Hướng dẫn thực hiện
(VSA 315, A12-A13)
Kinh nghiệm trước đó về đơn vị được kiểm toán và các thủ tục kiểm toán đã thực hiện
trong các cuộc kiểm toán trước có thể sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những thông tin
như:
1 Những sai sót trong quá khứ và liệu việc sửa chữa đã được thực hiện kịp thời hay chưa.
Rõ ràng là sai sót trong quá khứ là trọng yếu và thông thường việc sửa chữa không
được kế toán thực hiện kịp thời, thì rủi ro cao là các sai sót đó sẽ ảnh hưởng đến báo
cáo tài chính năm nay.
2 Đặc điểm của đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát
nội bộ (bao gồm những khiếm khuyết trong kiểm soát nội bộ);
3 Các thay đổi quan trọng của đơn vị hoặc trong các hoạt động của đơn vị kể từ kỳ kế toán
trước cho đến thời điểm hiện tại có thể giúp kiểm toán viên hiểu biết đầy đủ hơn về đơn
vị để xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu. (VSA 315, A12)
Kiểm toán viên phải đánh giá những thông tin đã có từ cuộc kiểm toán trước có còn phù
hợp hay không khi sử dụng cho cuộc kiểm toán hiện tại, vì những thay đổi trong môi
trường kiểm soát có thể ảnh hưởng tới tính thích hợp của những thông tin đã thu thập
được trước đây. Để xác định những thay đổi này có ảnh hưởng đến tính thích hợp của
thông tin hay không, kiểm toán viên có thể cần phỏng vấn và thực hiện các thủ tục kiểm
toán phù hợp khác như thực hiện thủ tục kiểm tra từng bước quy trình có liên quan. (VSA
315, A13)
Ví dụ: Khi tìm hiểu về nhân sự của một khách hàng kiểm toán năm trước, kiểm toán viên nhận
thấy trong năm tài chính vừa kết thúc, do thay đổi cơ cấu sở hữu, đơn vị khách hàng vừa
bổ nhiệm Tổng Giám đốc mới. Ông này nổi tiếng là mạo hiểm trong kinh doanh và có
phong cách quản lý độc tài và tùy tiện khác với vị tiền nhiệm. Sau đó một loạt các nhân
sự quản lý chủ chốt của các phòng ban rời công ty, và được thay thế bởi các nhân sự
mới. Khi đó thông tin về môi trường kiểm soát nội bộ cũng như các thủ tục kiểm soát nội
bộ của năm trước không còn phù hợp nữa, và kiểm toán viên sẽ phải tiến hành các thủ
3 Giúp các thành viên nhóm kiểm toán hiểu rõ hơn những sai sót trọng yếu tiềm tàng
trong báo cáo tài chính cụ thể theo từng khoản mục đã được phân công cho các
thành viên, cũng như hiểu được kết quả của các thủ tục kiểm toán họ đang thực hiện
có ảnh hưởng như thế nào tới cuộc kiểm toán, kể cả việc xác định nội dung, lịch trình
và phạm vi của các thủ tục kiểm toán tiếp theo;
4 Tạo cơ sở cho các thành viên nhóm kiểm toán trao đổi và chia sẻ những thông tin
mới thu thập được trong suốt quá trình kiểm toán có ảnh hưởng tới việc đánh giá rủi
ro có sai sót trọng yếu hoặc những thủ tục kiểm toán đã thực hiện đối với các rủi ro
này.
Đoạn 15 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 quy định nội dung thảo luận giữa các
thành viên nhóm kiểm toán về rủi ro do gian lận. (VSA 315, A14)
Ví dụ: Cuộc thảo luận thường được diễn ra ở cuối giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, khi người
phụ trách cuộc kiểm toán đã có đủ thông tin cần thiết và đã hoàn thành việc đánh giá rủi
ro ban đầu của cuộc kiểm toán. Các thành viên của nhóm kiểm toán qua đó được cung
cấp những hiểu biết nhất định về khách hàng, mức độ rủi ro cũng như cách thức tiến
hành công việc của mình để đạt được mục tiêu kiểm toán.
Cuộc thảo luận có thể được diễn ra khi đang tiến hành kiểm toán, nhằm cập nhật cho các
thành viên về những thông tin mới phát hiện, những thay đổi trong kế hoạch kiểm toán và
các thủ tục mới cần được tiến hành, mức độ và phạm vi của các thủ tục đang tiến hành.
Thông thường, cuộc thảo luận như vậy sẽ được thực hiện khi kiểm toán viên phát hiện ra
các dấu hiệu gian lận hoặc sai sót có hệ thống.
Một cuộc thảo luận của nhóm kiểm toán (nhất là những cuộc kiểm toán ở nhiều địa điểm)
có thể không cần phải có sự tham gia của toàn bộ thành viên nhóm kiểm toán và cũng
không nhất thiết phải thông báo mọi nội dung thảo luận cho từng thành viên. Thành viên
Ban Giám đốc phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán có thể chỉ thảo luận với những thành viên
chính trong nhóm kiểm toán, kể cả các chuyên gia và những người chịu trách nhiệm đối
với kiểm toán công ty con, đơn vị thành viên, nếu cần thiết. Thành viên Ban Giám đốc phụ
trách tổng thể cuộc kiểm toán có thể ủy quyền lại việc trao đổi với những thành viên khác,
có xem xét đến những thông tin cần truyền đạt cho toàn bộ nhóm kiểm toán. Việc truyền
đạt thông tin nên được lập kế hoạch với sự phê duyệt của thành viên Ban Giám đốc phụ
Các nội dung thường đề cập trong cuộc thảo luận nhóm
Chia sẻ những hiểu biết về đơn vị: con người, hoạt động và các mục tiêu
Về đơn vị:
- Lịch sử và các mục tiêu kinh doanh;
- Văn hóa doanh nghiệp;
- Thay đổi trong hoạt động kinh doanh, nhân sự hay hệ thống;
- Ứng dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính mới phù hợp với công ty.
Về Ban Giám đốc:
- Bản chất/cấu trúc của doanh nghiệp và Ban Giám đốc;
- Thái độ của Ban Giám đốc với hệ thống kiểm soát nội bộ;
- Các khuyến khích /lợi ích dễ dẫn đến gian lận;
- Những thay đổi không thể giải thích liên quan đến lối sống của các thành viên chủ
chốt trong công ty;
- Những dấu hiệu về việc Ban Giám đốc có định kiến về một vấn đề nào đó.
Về các yếu tố rủi ro đã được phát hiện
- Kinh nghiệm từ các cuộc kiểm toán trước;
- Các nhân tố rủi ro kinh doanh đáng kể;
- Cơ hội nảy sinh gian lận.
Suy nghĩ nhằm tìm ý tưởng và phương pháp kiểm toán phù hợp
Về các sai sót và gian lận có thể có:
- Chỉ tiêu nào trên báo cáo tài chính dễ có sai sót trọng yếu (sai sót và gian lận)? Bước
công việc này cần được thực hiện tại mọi cuộc kiểm toán.
- Làm thế nào để Ban Giám đốc gian lận và che giấu gian lận tài chính? Câu trả lời có
thể giúp phát triển các bối cảnh cho gian lận xảy ra. Xem xét các bút toán ghi sổ, các
khuynh hướng của Ban Giám đốc trong việc lập dự phòng/các ước tính kế toán, thay
đổi chính sách kế toán
- Làm thế nào mà tài sản bị lạm dụng hoặc sử dụng cho mục đích cá nhân?
- Các khoản phúc lợi chung (ví dụ duy trì một khoản tài trợ cho các tổ chức phi lợi
nhuận) bị phản ánh sai lệch trên báo cáo tài chính.
Biện pháp xử lý:
nhưng nó cũng chỉ ra các vấn đề lớn hơn như tính chính trực của Ban Giám đốc.
2 Những hiểu biết cần có về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó
có kiểm soát nội bộ
1 Hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị
2.1.1 Nội dung yêu cầu:
(VSA 315, 11)
Kiểm toán viên phải tìm hiểu các thông tin sau:
a Ngành nghề kinh doanh, các quy định pháp lý và các yếu tố bên ngoài khác, bao gồm cả
khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng
b Đặc điểm của đơn vị, bao gồm:
i Lĩnh vực hoạt động;
ii Loại hình sở hữu và bộ máy quản trị;
iii Các hình thức đầu tư mà đơn vị đang và sẽ tham gia, kể cả đầu tư vào các đơn vị
có mục đích đặc biệt;
iv Cơ cấu tổ chức, sản xuất kinh doanh và quản lý và cơ cấu nguồn vốn của đơn vị.
Các thông tin này giúp kiểm toán viên hiểu được những nhóm giao dịch, số dư tài
khoản và các thông tin thuyết minh cần được trình bày trên báo cáo tài chính của đơn
vị.
c Các chính sách kế toán mà đơn vị lựa chọn áp dụng và các lý do thay đổi (nếu có). kiểm
toán viên phải đánh giá các chính sách kế toán mà đơn vị đang áp dụng có phù hợp với
lĩnh vực hoạt động kinh doanh của đơn vị, có nhất quán với quy định chung/ khuôn khổ
về lập và trình bày báo cáo tài chính và các chính sách kế toán mà các đơn vị trong cùng
lĩnh vực hoạt động đang áp dụng hay không.
d Mục tiêu, chiến lược của đơn vị và những rủi ro kinh doanh có liên quan có thể dẫn đến
rủi ro có sai sót trọng yếu.
e Việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị.
2.1.2 Hướng dẫn áp dụng
(VSA 315, A17-A41)
Các yếu tố ngành nghề
Những yếu tố có ảnh hưởng đến ngành nghề bao gồm môi trường cạnh tranh, mối quan
Ví dụ: quy định về an toàn áp dụng cho ngành hàng không, vận tải biển; quy định về phòng
tránh chảy nổ trong ngành dầu khí; quy định về quản lý tài nguyên áp dụng cho các đơn vị
kinh doanh trong ngành khai khoáng
3 Hệ thống pháp luật và các quy định có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của đơn vị, trong đó
có các hoạt động giám sát trực tiếp;
Ví dụ: hoạt động tín dụng, kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng chịu sự giám sát chặt chẽ của
Ngân hàng nhà nước.
4 Thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp và các thuế khác);
Ví dụ: thuế tài nguyên, thuế nhập khẩu
5 Các chính sách do nhà nước ban hành hiện đang ảnh hưởng tới hoạt động của đơn vị,
ví dụ như chính sách tiền tệ, ngoại hối, tài khóa, các ưu đãi tài chính (ví dụ như các
chương trình hỗ trợ của chính phủ), hàng rào thuế quan hoặc các chính sách hạn chế
thương mại;
Ví dụ: Chính sách về hạn chế nhập khẩu ô tô đầu năm 2011.
6 Các quy định về môi trường áp dụng cho ngành nghề hoạt động của đơn vị. (VSA 315,
A19)
Ví dụ: quy định về bảo vệ môi trường đối với các ngành chế biến thực phẩm, hóa chất;
Đoạn 12 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 250 quy định cụ thể về hệ thống pháp luật và
các quy định áp dụng cho đơn vị và ngành nghề của đơn vị. (VSA 315, A20)
Các yếu tố bên ngoài khác
Kiểm toán viên có thể cần tìm hiểu các yếu tố bên ngoài khác có ảnh hưởng đến đơn vị
như tình hình chung về kinh tế, lãi suất và các nguồn tài chính nhàn rỗi, lạm phát hoặc
biến động tỷ giá. (VSA 315, A22)
Ví dụ: Chính sách thắt chặt tiền tệ, kiểm soát lạm phát thông qua việc tăng lãi suất cho vay,
giảm chi tiêu công sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của đơn vị theo nhiều hướng
khác nhau: khó khăn trong việc huy động vốn vay, tăng chi phí tài chính, giảm khả năng
thanh khoản, giảm doanh thu, khả năng bị chiếm dụng vốn cao
Đặc điểm của đơn vị
Hiểu biết về đặc điểm của đơn vị giúp kiểm toán viên hiểu được các vấn đề như:
1 Liệu đơn vị có cơ cấu tổ chức phức tạp, như có các công ty con hoặc địa điểm hoạt
Các hoạt động và chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển;
Các giao dịch với các bên liên quan.
2 Vấn đề liên quan đến các khoản đầu tư và các hoạt động đầu tư như:
Việc mua, bán hoặc chia tách doanh nghiệp đã được lập kế hoạch hoặc được
thực hiện gần đây;
Mua, bán chứng khoán và các khoản nợ;
Các hoạt động đầu tư vốn;
Các khoản đầu tư vào các đơn vị không hợp nhất trong đó có công ty hợp danh,
công ty liên doanh và các đơn vị có mục đích đặc biệt.
3 Vấn đề liên quan đến các khoản tài trợ và các hoạt động tài trợ như:
Các công ty con và các đơn vị liên kết lớn, kể cả các đơn vị được hợp nhất hay
không hợp nhất;
Cơ cấu nợ và các điều khoản liên quan, bao gồm cả các thỏa thuận tài trợ và
cho thuê tài chính được phản ánh ngoài bảng;
Đối tượng thụ hưởng (trong nước, ngoài nước, uy tín kinh doanh và kinh
nghiệm) và các bên liên quan;
Sử dụng các công cụ tài chính phái sinh.
4 Vấn đề liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính như:
Các nguyên tắc kế toán và các thông lệ riêng của từng ngành bao gồm cả các
ngành có đặc thù riêng (ví dụ, nguyên tắc áp dụng cho các khoản cho vay và
đầu tư của ngân hàng, hay nghiên cứu và phát triển của ngành dược);
Cách thức ghi nhận doanh thu;
Kế toán giá trị hợp lý;
Các tài sản, các khoản nợ phải trả và các giao dịch có nguồn gốc ngoại tệ;
Kế toán các giao dịch bất thường hoặc phức tạp bao gồm các giao dịch đang
tranh cãi hay các lĩnh vực mới (ví dụ kế toán cho khoản chi thưởng bằng cổ
phiếu). (VSA 315, A24)
Các thay đổi đáng kể của đơn vị từ các giai đoạn trước có thể làm phát sinh hoặc làm thay
đổi rủi ro có sai sót trọng yếu. (VSA 315, A25)
Đặc điểm của các đơn vị có mục đích đặc biệt
hay Bình quân gia quyền
2 Ảnh hưởng của các chính sách kế toán quan trọng đối với các vấn đề gây tranh cãi và
các lĩnh vực mới do thiếu hướng dẫn cụ thể hay chưa thống nhất;
Ví dụ: Hạch toán chênh lệch đánh giá lại tỷ giá của các khoản mục tiền tệ cuối năm tài
chính theo VAS 10 hay theo Thông tư 201.
3 Những thay đổi trong chính sách kế toán của đơn vị;
Ví dụ: Thay đổi cách ghi nhận doanh thu, thay đổi cách hạch toán chênh lệch tỷ giá hoặc
thay đổi phương pháp kế toán hàng tồn kho
4 Các quy định về việc lập và trình bày báo cáo tài chính, pháp luật và các quy định mới
đối với đơn vị và thời điểm, cách thức đơn vị thực hiện các yêu cầu này. (VSA 315,
A28)
Ví dụ: Luật kế toán có hiệu lực yêu cầu Báo cáo tài chính của đơn vị phải được lập bằng
Đồng Việt Nam, trong khi đơn vị từ trước đến nay đều lập báo cáo bằng nghìn đồng
Việt Nam.
Mục tiêu, chiến lược và những rủi ro kinh doanh có liên quan
Đơn vị hoạt động trong bối cảnh ngành nghề, các yếu tố liên quan đến quy định pháp luật
và những yếu tố bên trong và bên ngoài khác. Để thích ứng với những yếu tố này, Ban
Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị phải đặt ra những mục tiêu để lập kế hoạch tổng thể
cho đơn vị. Chiến lược là những phương pháp mà Ban Giám đốc sử dụng để đạt được
mục tiêu đề ra. Mục tiêu và chiến lược của đơn vị có thể thay đổi theo thời gian. (VSA 315,
A29)
Để tìm hiểu về các mục tiêu chiến lược của đơn vị, kiểm toán viên cần tiến hành phỏng vấn các
thành viên của Ban quản trị, Ban Giám đốc, nghiên cứu các Biên bản họp của Ban quản trị
Rủi ro kinh doanh thường rộng hơn và bao gồm cả rủi ro có sai sót trọng yếu trong báo
cáo tài chính. Rủi ro kinh doanh có thể phát sinh từ những thay đổi trong đơn vị hoặc từ
những hoạt động phức tạp của đơn vị. Việc không nhận biết được nhu cầu thay đổi cũng
có thể làm phát sinh rủi ro kinh doanh. Rủi ro kinh doanh có thể phát sinh từ những vấn đề
như:
1 Chiến lược phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ mới không thành công;
Ví dụ: Hãng Coca-cola đã không thành công khi thay thế lon Coke truyền thống bằng một
3 Mở rộng phạm vi kinh doanh (có thể dẫn đến rủi ro kinh doanh liên quan như: ước tính
nhu cầu thị trường không chính xác);
4 Những yêu cầu mới về kế toán (có thể dẫn đến rủi ro kinh doanh liên quan như: thực
hiện không đầy đủ, không đúng những yêu cầu mới về kế toán hoặc chi phí thực hiện
tăng thêm);
5 Những quy định pháp lý (có thể dẫn đến rủi ro kinh doanh liên quan như: trách nhiệm
tuân thủ pháp luật sẽ tăng lên);
6 Những yêu cầu về tài chính của đơn vị trong thời điểm hiện tại và trong tương lai (có
thể dẫn đến rủi ro kinh doanh liên quan như: mất nguồn tài trợ vốn do đơn vị không
đáp ứng được những yêu cầu);
7 Sử dụng công nghệ thông tin (có thể dẫn đến rủi ro kinh doanh liên quan như: hệ
thống và các thủ tục không tương thích với nhau);
8 Ảnh hưởng của việc thực hiện một chiến lược, đặc biệt là những ảnh hưởng dẫn đến
những yêu cầu kế toán mới (có thể dẫn đến rủi ro kinh doanh liên quan như: việc thực
hiện không đầy đủ hoặc không phù hợp). (VSA 315, A32)
Một rủi ro kinh doanh có thể dẫn đến một rủi ro có sai sót trọng yếu đối với các nhóm giao
dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh ở cấp độ cơ sở dẫn liệu hoặc cấp độ báo
cáo tài chính. Ví dụ rủi ro kinh doanh xuất phát từ việc thu hẹp cơ sở khách hàng có thể
làm tăng rủi ro có sai sót trọng yếu trong việc đánh giá các khoản phải thu. Tuy nhiên, rủi
ro này cũng có thể dẫn đến hậu quả dài hạn, nhất là trong một nền kinh tế suy thoái và
kiểm toán viên phải cân nhắc khi đánh giá tính phù hợp của giả định đơn vị hoạt động liên
tục. Do đó, để xác định một rủi ro kinh doanh có thể dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu hay
không, kiểm toán viên cần xem xét một cách cụ thể kết hợp với hoàn cảnh thực tế của đơn
vị. (VSA 315, A33)
Thông thường, Ban Giám đốc xác định những rủi ro kinh doanh và đưa ra hướng giải
quyết rủi ro. Quy trình đánh giá rủi ro như trên là một phần của hệ thống kiểm soát nội bộ.
(VSA 315, A34)
Khi kiểm toán các đơn vị trong lĩnh vực công, những vấn đề liên quan đến trách nhiệm giải
trình trước công luận có thể ảnh hưởng lớn đến mục tiêu của Ban Giám đốc và mục tiêu
của Ban Giám đốc có thể bao gồm cả những mục tiêu theo quy định của pháp luật và các
Ví dụ: chỉ số P/E, EPS, lợi nhuận/doanh thu, thu nhập trên vốn đầu tư
Các tổ chức cá nhân bên ngoài cũng có thể đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của
đơn vị. Ví dụ, thông tin bên ngoài như các báo cáo phân tích và báo cáo xếp hạng tín
nhiệm có thể cung cấp cho kiểm toán viên thông tin hữu ích. Những loại báo cáo này
thường được thu thập từ đơn vị được kiểm toán. (VSA 315, A39)
Ví dụ: Các hệ thống xếp hạng tín nhiệm Standard & Poor, Moody’s có thể cung cấp cho kiểm
toán viên thông tin về khả năng kinh doanh, sức mạnh và khả năng tài chính của khách
hàng được kiểm toán. Hiện nay một số ngân hàng và doanh nghiệp lớn của Việt nam đã
được đánh giá xếp hạng trong các hệ thống này.
Việc đo lường và đánh giá nội bộ có thể cho thấy các kết quả hoặc xu hướng không mong
đợi đòi hỏi Ban Giám đốc phải xác định nguyên nhân và tiến hành những biện pháp khắc
phục (trong một số tình huống, phải phát hiện và sửa chữa sai sót một cách kịp thời). Việc
đo lường và đánh giá kết quả hoạt động cũng có thể chỉ ra cho kiểm toán viên thấy các rủi
ro có sai sót liên quan đến báo cáo tài chính là có thực. Ví dụ, qua việc đo lường và đánh
giá kết quả hoạt động có thể cho thấy sự tăng trưởng nhanh hoặc lợi nhuận bất thường so
với các đơn vị khác trong ngành. Đặc biệt, những thông tin này khi kết hợp với các yếu tố
khác như hình thức thưởng hoặc chế độ lương ưu đãi dựa trên kết quả đạt được có thể
cho thấy rủi ro tiềm tàng về sự thiếu khách quan của Ban Giám đốc khi lập báo cáo tài
chính. (VSA 315, A40)
Các đơn vị nhỏ thường không có quy trình đo lường và đánh giá kết quả hoạt động. Việc
phỏng vấn Ban Giám đốc sẽ cho kiểm toán viên biết được thông tin về những chỉ tiêu chủ
yếu để đo lường và đánh giá kết quả hoạt động và để có những biện pháp phù hợp. Nếu
kết quả phỏng vấn cho thấy đơn vị không thực hiện việc đo lường và đánh giá kết quả
hoạt động thì có thể có sự gia tăng rủi ro có sai sót không được phát hiện và sửa chữa.
(VSA 315, A41)
Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị được kiểm toán
Quy trình đánh giá rủi ro sẽ cung cấp thông tin cho các cấp quản lý trong việc quyết định
xem rủi ro kinh doanh hay gian lận nào cần được quản lý và hành động nào cần thực hiện.
Ban Giám đốc có thể lập ra các kế hoạch, chương trình hay hành động để nhận diện các
rủi ro cụ thể, hoặc có thể chấp nhận một rủi ro cụ thể bởi chi phí cao hay vì lý do nào khác.
- Các báo cáo tài chính
- Các bản ngân sách
- Các báo cáo
- Các báo cáo đánh giá hiệu quả
hoạt động
- Các báo cáo thuế
- Các chính sách kế toán
- Các đánh giá và ước tính
- Thông tin trên Internet
- Thông tin ngành
- Tin tức về cạnh tranh
- Các cơ quan xếp hạng tín dụng
- Các nhà cung cấp tín dụng
- Các cơ quan chính phủ
- Phương tiện truyền thông và
các đối tượng khác
Thông tin
phi tài
chính
- Tầm nhìn, các giá trị, mục tiêu và
các chiến lược của đơn vị
- Cơ cấu tổ chức
- Các mô tả công việc
- Hồ sơ nhân sự
- Các chỉ số hoạt động
- Các sổ tay hướng dẫn/cẩm nang
về thủ tục và chính sách
- Thông tin trên Internet
- Dữ liệu của hiệp hội thương mại
- Các dự đoán của ngành
đốc đơn vị, nhằm phát hiện các rủi ro kinh doanh và gian lận ảnh hưởng đến việc đạt được
các mục tiêu của đơn vị (ví dụ, mục tiêu về độ tin cậy của báo cáo tài chính).
Một kiểm soát được thiết kế nhằm giảm thiểu rủi ro có thể có. Một kiểm soát không phát
hiện được một rủi ro nào sẽ là một kiểm soát không cần thiết.
Bước đầu tiên trong đánh giá thiết kế kiểm soát là xác định rủi ro cần được kiểm soát.
Bước thứ hai là xác định các kiểm soát cần thực hiện để kiểm soát rủi ro đã xác định.
Mục tiêu của kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ là sự cố gắng của Ban Giám đốc nhằm giảm thiểu các yếu tố rủi ro hoặc
nhằm đạt được các mục tiêu về kiểm soát. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa các mục tiêu của
đơn vị và hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập cho việc đạt được các mục tiêu ấy. Một
khi mục tiêu đã được thiết lập, đơn vị có thể xác định và phát hiện các sự kiện (rủi ro) có
thể cản trợ việc đạt được các mục tiêu đó. Dựa trên nội dung này, Ban Giám đốc có thể
xây dựng các biện pháp phù hợp, bao gồm cả việc thiết kế một hệ thống kiểm soát nội bộ
Mục tiêu kiểm soát nội bộ có thể chia thành bốn nhóm
1 Chiến lược, các mục tiêu tầm cao phù hợp với tầm nhìn doanh nghiệp;
2 Hệ thống thông tin tài chính (kiểm soát nội bộ về hệ thống thông tin tài chính);
3 Hoạt động; và
4 Tuân thủ pháp luật và các quy định.
Kiểm toán viên quan tâm chính đến các kiểm soát nội bộ liên quan đến hệ thống thông tin
tài chính. Chúng giúp nhận diện các mục tiêu của đơn vị trong việc lập báo cáo tài chính và
phát hành thông tin ra bên ngoài. Các kiểm soát hoạt động, bao gồm quản lý sản xuất,
quản lý chất lượng, quản lý nhân sự tuân thủ các quy định về sức khỏe và an toàn, thông
thường không liên quan đến kiểm toán, trừ khi thông tin được sử dụng trong thủ tục phân
tích hoặc thông tin cần thiết cho việc trình bày thông tin trên báo cáo tài chính.
Ví dụ: Khi một phân tích sản xuất là cơ sở cho một thủ tục phân tích, một kiểm soát nhằm đảm
bảo sự chính xác của số liệu sử dụng sẽ là kiểm soát có liên quan. Sự không tuân thủ
pháp luật và các quy định có thể có ảnh hưởng trực tiếp và trọng yếu đến báo cáo tài
chính, do đó kiểm soát nhằm phát hiện các hành động không tuân thủ sẽ có liên quan đến
cuộc kiểm toán.
Hiểu biết về kiểm soát nội bộ giúp kiểm toán viên xác định các loại sai sót tiềm tàng và các