Lời nói đầu
Hiện nay trên thế giới, ô nhiễm môi trờng đang trở thành một đề tài nóng
bỏng, một vấn đề thảo luận của nhiều hội thảo quốc tế. Các tác động của con
ngời đã xâm hại rất lớn đến sự sống trên Trái đất. Vấn đề đặt ra là: làm thế nào
để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng ô nhiễm môi trờng? Nói cách khác,
làm thế nào để sự phát triển kinh tế phải gắn liền với việc bảo vệ môi trờng?
Sự ô nhiễm môi trờng do rất nhiều yếu tố gây nên, nó tác động sâu sắc đến
cuộc sống và sinh hoạt của con ngời. ở một số vùng nông thôn hiện nay, phong
trào chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn đã tác động rất lớn đến môi trờng. Chất
thải chăn nuôi đã trở thành một vấn đề nan giải, một bài toán khó cho nhiều nhà
khoa học, nhiều cơ quan chức năng và đông đảo những ngời quan tâm đến vấn
đề môi trờng.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của chuyên đề, những vấn đề đợc nêu ra, những
ý kiến xây dựng và kiến nghị chắc hẳn còn nhiều thiếu sót, hạn chế. Tác giả rất
mong nhận đợc sự góp ý chân thành của các chuyên gia về môi trờng, các bạn
đồng nghiệp, các em học sinh và toàn thể những ngời quan tâm đến vấn đề môi
trờng.
Để hoàn thành chuyên đề này, tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, góp ý
của Ban giám hiệu, đồng chí Tổ trởng Tổ Tổng hợp, các bạn đồng nghiệp trờng
THPT Bán công Nam Sách cùng đông đảo các em học sinh quan tâm. Trong
quá trình thực hiện chuyên đề tôi cũng nhận đợc sự giúp đỡ, cung cấp nhiều t
liệu quý của Hợp tác xã chăn nuôi Hợp Tiến. Tôi xin chân thành cảm ơn những
sự giúp đỡ quý báu trên!
Nam Sách, ngày 20 tháng 03 năm 2004I. Mở đầu:
tình hình chăn nuôi lợn ở địa phơng và vấn đề ô nhiễm
môi trờng phát sinh
Trong những năm gần đây, phong trào phát triển kinh tế V.A.C nói chung
và chăn nuôi lợn nói riêng đã mang lại những đổi thay đáng kể cho bộ mặt nông
con ngời gây ra đã cản trở những hoạt động bình thờng của nó. Hoạt động chăn
nuôi không phải là hoạt động lớn, không tác động sâu sắc đến sự phát triển bền
vững, song sự ảnh hởng của nó mang tính chất trực tiếp đến đời sống con ngời.
Do đó cần có chiến lợc hợp lý để sao cho sự phát triển vừa thoả mãn nhu cầu
của con ngời, đồng thời lại không ảnh hởng tới môi trờng - vốn đã mất hẳn vẻ tự
nhiên. Mục đích của sự phát triển ấy gồm 2 nội dung:
- Nâng cao chất lợng cuộc sống của con ngời
- Đảm bảo sự phát triển bền vững của các hệ sinh thái.
Trong bài viết này, tác giả xin đợc trình bày các thực trạng do vấn đề chất
thải chăn nuôi tác động và đề nghị các biện pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi tr-
ờng. Hy vọng rằng mặc dù khuôn khổ hạn hẹp song tài liệu này cũng có những
giá trị ứng dụng nhất định để góp phần cải thiện môi trờng nông thôn. Giúp ng-
ời dân thấy đợc vai trò của môi trờng tự nhiên đối với đời sống, từ đó nâng cao
ý thức bảo vệ môi trờng ở họ.
3
ii. sự tác động của chất thải chăn nuôi với môi trờng
và thực trạng của sự tác động ấy
Những năm gần đây, sự phát triển của nông nghiệp cùng với việc ứng
dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật tiên tiến đã mang lại những sự khởi sắc
cho ngành kinh tế vốn đã già cỗi và lạc hậu này. Nhiều mô hình phát triển kinh
tế nông nghiệp xuất hiện và có những đóng góp không nhỏ cho nền Kinh tế
quốc dân. Thuật ngữ V.A.C đã trở nên quen thuộc với mỗi ngời. Nếu sự phát
triển kinh tế nông nghiệp đợc duy trì theo kiểu "phát triển bền vững" với mô
hình Hệ sinh thái V.A.C kể trên thì không có nhiều vấn đề phải bàn. Ngợc lại ở
một số nơi, sự phát triển thờng chú trọng hơn đối với ngành chăn nuôi, đó là lý
do tại sao vấn đề ô nhiễm môi trờng lại trở nên nóng bỏng trong nhiều "trang
địa phơng" của các tờ báo.
Trong quá trình công tác, tôi đã cùng học sinh thảo luận rất nhiều về vấn
đề ô nhiễm môi trờng, về bảo vệ môi trờng và phát triển bền vững. Nhng không
có một trờng nào có thể truyền thụ đầy đủ các kiến thức cho học sinh bằng
1 Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi lợn Mùi thuốc bảo vệ thực vật
2 Đờng bị úng lụt Vỏ chai, thuốc bảo vệ thực vật
3 Mùi thuốc bảo vệ thực vật Ngập lụt
4 Chất thải sinh hoạt Mùi xơng ở nhà máy Cầu Bình
5 Khí than, mùi hành sấy Mùi khói do NM nhiệt điện Phả Lại
6 Mùi phân, chuồng chăn nuôi lợn Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi lợn
2. Hiện tợng ô nhiễm sinh học
Sự ứ đọng của các chất thải chăn nuôi còn tạo điều kiện cho các vi sinh
vật gây bệnh, các côn trùng, ký sinh trùng có hại có điều kiện phát sinh và
phát triển gây nên hiện tợng ô nhiễm sinh học. Điều gì sẽ xảy ra nếu trong
5
các môi trờng ấy có chứa các mầm bệnh kiểu virut cúm gà nh vừa qua? Khả
năng tạo ra các ổ dịch nguy hiểm cho gia súc và con ngời trong các vùng
chăn nuôi là không nhỏ.
Môi trờng ứ đọng các chất thải đó cũng tạo điều kiện cho các sinh vật
gây hại nh ruồi, muỗi phát triển. Đó là các vật trung gian truyền bệnh nguy
hiểm đối với ngời và vật nuôi.
3. Sự phì dỡng và hậu quả của nó
Sản phẩm thải của chăn nuôi tích tụ ở các cống rãnh, ao hồ còn gây nên
một hiện tợng gọi là phì dỡng. Đó là sự tích luỹ một hàm lợng lớn các muối
và chất hữu cơ, tạo điều kiện cho sự phát triển của các sinh vật yếm khí, làm
hàm lợng CO
2
trong ao hồ tăng lên.
Phì dỡng là quá trình biến đổi của các hệ sinh thái dới nớc do trong nớc
có chứa lợng muối khoáng và chất hữu cơ quá lớn trong khi khả năng đồng
hoá các chất đó của các quần thể sinh vật là có hạn. Ban đầu nó gây nên sự
bùng nổ số lợng sinh vật thuỷ sinh, đặc biệt là các sinh vật phù du. Sự tích tụ
các chất đó ngày càng cao làm cho các sinh vật đó chết đi, tiếp đó là sự phân
huỷ xác chết của các vi sinh vật, đặc biệt là vi khuẩn yếm khí. Kết quả là
Nh vậy, nếu lợng chất thải chăn nuôi quá lớn sẽ tác động lớn đến môi tr-
ờng nớc, làm thay đổi tính chất lý hoá của nớc. Đó là nguyên nhân gây ra cái
chết cho nhiều sinh vật quan trọng trong hệ sinh thái ao nớc ngọt. Ngoài ra,
nó còn tác động đến tính chất lý hoá của hệ thống nớc ngầm, ảnh hởng tới
sức khoẻ đối với những ngời sử dụng nguồn nớc trên làm nớc sinh hoạt.
4. ảnh hởng đến việc sử dụng nguồn nớc sinh hoạt và vệ sinh
Một thực trạng khá phổ biến hiện nay đó là những vùng nông thôn có
phong trào chăn nuôi phát triển mạnh, số lợng giếng đào và giếng khoan tăng
đáng kể. Nguyên nhân là do nguồn nớc sinh hoạt chính trớc kia là nớc ao bị ô
nhiễm nặng không thể sử dụng đợc. Tình trạng ô nhiễm đã cớp đi vẻ mĩ quan
của nhiều vùng nông thôn, ảnh hởng đến sinh hoạt bình thờng của mọi ngời.
Tình trạng ô nhiễm nguồn nớc ao hồ cũng tác động tới việc sử dụng
nguồn nớc vệ sinh trong chăn nuôi. Nhiều hộ gia đình đã bỏ hẳn thói quen
dùng nớc ao để vệ sinh chuồng trại.
5. Sự phát sinh các bệnh truyền nhiễm
Hiện nay, sự thiếu hiểu biết các kiến thức về môi trờng, về các bệnh
truyền nhiễm của ngời dân cũng gây nên những tác động không nhỏ. Điều đó
có thể thấy ở nhiều chuồng nuôi các gia súc bị bệnh, các chất thải từ đó vẫn
"tự nhiên" thải ra các ao hồ. Cha kể đến các ao hồ còn là nơi "phân huỷ"
nhanh chóng xác gia súc, gia cầm chết bệnh. Chúng ta còn không khỏi kinh
hoàng vì dịch cúm gia cầm xảy ra vừa qua ở Châu á và các nơi khác trên thế
giới. Điều gì sẽ xảy ra nếu trong các xác chết ấy mang các mầm bệnh nguy
hiểm nh virut cúm gà, virut tụ huyết trùng, dịch tả ?
7
iii. biện pháp khắc phục
Đối với nhân loại, khi đứng trớc một vấn đề khó khăn ngời ta thờng tập
trung nghiên cứu tìm ra các biện pháp khắc phục. Sự ô nhiễm môi trờng do
nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự phát triển của công nghiệp, giao
thông, đốt phá rừng, rác thải sinh hoạt, việc sử dụng chất hoá học bảo vệ thực
vật, chiến tranh Ngời ta đa ra nhiều biện pháp khác nhau để hạn chế và khắc
thiểu tác hại của chất thải chăn nuôi tới môi trờng? Chúng ta cùng nghiên cứu
một số biện pháp đợc áp dụng ở một số địa phơng hiện nay.
1. Biện pháp truyền thống: ủ phân
Trớc kia, khi chăn nuôi cha phát triển, việc chăn nuôi chủ yếu để tận
dụng nguồn lao động d thừa và lấy phân chuồng sử dụng cho trồng trọt, việc
ủ phân là một biện pháp tốt giúp cải tạo đất và tăng khả năng hấp thụ cho cây
trồng. Tuy nhiên, việc chăn nuôi phát triển với quy mô lớn nh hiện nay kéo
theo lợng phân tạo ra lớn. Biện pháp ủ phân chuồng để cung cấp phân bón
cho trồng trọt dờng nh không có hiệu quả cao.
Một số gia đình chăn nuôi lớn còn xây dựng một hố chứa phân với diện
tích phù hợp để chứa phân, phía trên có phủ kín bằng bạt. Biện pháp này có
những tác dụng tích cực nhất định trong việc bảo quản phân, hạn chế mùi
phân bốc lên, song nớc thải của nó vẫn ảnh hởng tới môi trờng, đặc biệt là
gây bệnh cho các loài cá, phát sinh nhiều ruồi, muỗi
2. Sử dụng công nghệ khí sinh học: tạo nguồn nhiên liệu sạch sử dụng
hàng ngày
Việc sử dụng khí sinh học (Biogas) làm chất đốt trong gia đình từ nhiều
năm nay là biện pháp cải thiện môi trờng rất có hiệu quả. Phân gia súc luôn
là vấn đề nan giải đối với đa số các hộ nông dân, gây ô nhiễm đất, nớc,
không khí. Việc dùng phân gia súc làm nguồn cung cấp chất đốt trong từng
9
gia đình đã giải quyết đợc nguồn chất thải bẩn vào môi trờng nớc, giảm đáng
kể lợng ruồi, muỗi, mùi hôi
Cơ sở khoa học của việc sử dụng công nghệ khí sinh học là lợi dụng khả
năng phân huỷ chất hữu cơ trong môi trờng của một loại vi khuẩn yếm khí
gọi là vi khuẩn sinh mêtan (Methanobacter). Loại vi khuẩn này tồn tại trong
tự nhiên dới đáy các ao hồ, nơi thiếu không khí và lợng chất hữu cơ ứ đọng
lớn. Khả năng của loại vi khuẩn này là phân cắt các phân tử hữu cơ lớn
(prôtêin, saccarit ) thành các phân tử hữu cơ nhỏ (thờng là hiđrôcácbon dới
dạng khí mêtan - CH
PE (poly-êtylen). Đây là một biện pháp tốt để thay thế cho hầm ủ, và hấp dẫn
hơn với ngời sử dụng là giá thành chi phí thấp. Một túi ủ chi phí chỉ bằng
1/10 hầm ủ và không tốn công xây dựng, dễ làm vệ sinh và có thể lấy phân
dễ dàng. Đặc biệt túi ủ có thể lắp đặt nổi lên xuống theo con nớc, phù hợp với
các vùng hay ngập lụt. Những hộ chăn nuôi nhỏ (từ 10 - 15 con lợn) có thể sử
dụng túi ủ phân. Thời gian sử dụng khí đốt trung bình từ 4 - 5 giờ/ngày, tiết
kiệm than củi và các dụng cụ luôn sạch sẽ.
Lợi ích của việc sử dụng công nghệ khí sinh học là rất lớn. Hơn nữa phân
sau khi ủ thờng có hàm lợng đạm và các nguyên tố vi lợng cao là loại phân
bón tốt cho cây trồng, đặc biệt trong việc sản xuất rau sạch. Ngoài ra lợng
phân sau khi ủ là nguồn tạo phù du tốt cho các ao cá. Nớc tiểu sau khi qua
hầm cũng đợc xử lý không gây độc hại cho các loài sinh vật.
3. Xây dựng hệ thống lọc nớc tiểu
Nớc tiểu là sản phẩm bài tiết của cơ thể vật nuôi nên thờng chứa nhiều
hợp chất gây độc hại cho các sinh vật thuỷ sinh. Nhiều hộ gia đình sau khi
thu lợng phân thờng thải nớc thải ra môi trờng. Đây là một việc làm hết sức
nguy hại cho môi trờng. Để hạn chế tác động tiêu cực đó, nhiều địa phơng đã
khuyến khích xây dựng hệ thống lọc nớc tiểu. Mô hình này thực chất là hệ
thống bể chứa (thờng là bể 3 ngăn), khi nớc thải đi qua các bể sẽ có quá trình
lắng đọng các chất và quá trình phân huỷ của vi sinh vật. Đến bể chứa cuối
cùng, các chất độc hại bị phân huỷ gần nh hoàn toàn. Nớc thải sau khi đợc xử
lý qua các bể chứa có thể sử dụng để tới cây hoặc tạo nguồn phù du cho ao
cá.
11
Một số gia đình còn hạn chế tác hại của nớc thải bằng cách làm hệ thống
van và cống ngầm. Phân gia súc khi rửa chuồng đợc đa xuống ao làm nguồn
thức ăn cho một số loài cá (lợng phân vừa đủ cho cá nên ít ảnh hởng tới môi
trờng) nhng nớc thải đợc lọc giữ bằng hệ thống ngầm, sau khi phân huỷ nó sẽ
đợc sử dụng để chăm sóc cho cây trồng.
4. Xây dựng mô hình V.A.C khép kín
đồng thời nêu tên các hộ vi phạm, gây ô nhiễm môi trờng.
6. Một số biện pháp khác
Đối với các cống rãnh đã bị ô nhiễm, trớc hết cần cỡng chế buộc các hộ
gia đình phải có biện pháp khai thông trả lại mĩ quan cho đờng làng, ngõ
xóm. Xây dựng hệ thống chứa phân hợp lý không tác động, ảnh hởng tới môi
trờng. Các hộ gia đình có thể trồng thêm nhiều cây xanh quanh khu vực chăn
nuôi để cải thiện môi trờng, đồng thời có thể che nắng cho vật nuôi.
Đối với các ao hồ có hiện tợng phì dỡng cao, cần có biện pháp lu thông
nớc, thay nớc thờng xuyên để hạn chế tác động tiêu cực cho các quần thể
sinh vật nuôi thả nh các loài cá, tôm. Có thể thả xuống một phần ao các loại
rau, bèo tây, muống để cải thiện môi trờng ao, tăng lợng thức ăn cho cá.
Cần dựa vào khả năng tiêu thụ của cá để điều chỉnh hợp lý lợng phân cho cá
ăn.
ở một số địa phơng nh ngoại thành Hà Nội, Thanh Hoá ngời ta còn sử
dụng một loại giun đốt có khả năng sử dụng phân gia súc làm thức ăn. Loại
giun này có khả năng sinh trởng nhanh và sinh sản tốt. Nếu sử dụng loại giun
đó để "tiêu hoá" phân gia súc, sau đó dùng chính loại giun đó làm thức ăn
cho vật nuôi và các loại cá thì hiệu quả sẽ rất tốt.
13
7. Kiến nghị
Qua việc nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trờng ở các địa phơng, tác
giả xin mạnh dạn đa ra một số kiến nghị đối với chính quyền các cấp, các tổ
chức môi trờng cũng nh các hợp tác xã chăn nuôi nh sau:
a. Chính quyền địa phơng (nhất là các xã sở tại có phong trào chăn nuôi
phát triển mạnh) cần có các biện pháp tuyên truyền để mọi ngời có ý thức
bảo vệ môi trờng. Đối với các tổ hợp, các hợp tác xã chăn nuôi, chính quyền
cần có biện pháp cỡng chế để bảo vệ môi trờng khi cần thiết. Cần phải cử ra
một cán bộ chuyên trách về môi trờng để hớng dẫn, kiểm tra việc thực hiện
các quy định về môi trờng, đồng thời t vấn cho uỷ ban nhân dân xã về việc
thực hiện các chính sách và các hoạt động liên quan đến môi trờng.
I. Mở đầu: tình hình chăn nuôi lợn ở địa phơng và
vấn đề ô nhiễm môi trờng phát sinh
2
ii. sự tác động của chất thải chăn nuôi với môi tr-
ờng và thực trạng của sự tác động ấy
1. ảnh hởng của chất thải chăn nuôi tới sinh hoạt và cảnh quan môi trờng
2. Hiện tợng ô nhiễm sinh học
3. Sự phì dỡng và hậu quả của nó
4. ảnh hởng đến việc sử dụng nguồn nớc sinh hoạt và vệ sinh
5. Sự phát sinh các bệnh truyền nhiễm
5
6
7
7
9
9
iii. Biện pháp khắc phục
1. Biện pháp truyền thống: ủ phân
2. Sử dụng công nghệ khí sinh học: tạo nguồn nhiên liệu sạch sử dụng hàng ngày
3. Xây dựng hệ thống lọc nớc tiểu
4. Xây dựng mô hình V.A.C khép kín
5. Nâng cao ý thức - trách nhiệm cho ngời dân
6. Một số biện pháp khác
7. Kiến nghị
10
11
12
14
15
16