Đề cương môn nguyên lý mác - lênin 1 2013 - Pdf 13

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ XÃ HỘI
BỘ MÔN NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MÔN
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN
HỌC PHẦN 1

Người soạn: Lê Văn Hùng
- Tài liệu được soạn trên cơ sở giáo trình và tham khảo nhiều tài liệu khác;
- Tài liệu không có giá trị chứng nhận bản quyền tác giả;
- Lưu hành nội bộ.
HÀ NỘI, 2013
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
I. Khái lược về chủ nghĩa Mác – Lênin
1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và ba bộ phận cấu thành
- Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống các quan điểm và học thuyết khoa học do
C.Mác (Karl Marx 1818 – 1883) và Ph.Ăngghen (Friedrich Egels, 1820 - 1895) xây
dựng, V. I. Lênin (Vladimir Ilich Lênin 1870 - 1924) bảo vệ và phát triển; được hình
thành và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và kế thừa những giá trị tư tưởng của
nhân loại; là thế giới quan, phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và
thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng
nhân dân lao động khỏi mọi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người.
- Nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm 3 bộ phận lý luận là:
+ Triết học Mác - Lênin
+ Kinh tế chính trị Mác - Lênin
+ Chủ nghĩa xã hội khoa học
- Đối tượng, vị trí, vai trò và tính thống nhất của 3 bộ phận lý luận cấu thành
chủ nghĩa Mác - Lênin
+ Triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung

ngày càng gay gắt. Từ đó dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại
giai cấp tư sản: Ở Pháp có khởi nghĩa của công nhân dệt ở Liông 1831 và 1834; ở Anh
có phong trào Hiến Chương (10 năm) vào cuối những năm 30, đầu những năm 40 của
thế kỷ XIX; Đức có phong trào đấu tranh của công nhân dệt ở Xilêdi => Những phong
trào đấu tranh trên là bằng chứng lịch sử thể hiện giai cấp vô sản đã trở thành lực
lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và
tiến bộ xã hội.
+ Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản nổ ra mạnh mẽ nhưng lần lượt thất bại,
nó đặt ra yêu cầu khách quan là cần phải được soi sáng bằng lý luận khoa học. Chủ
nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng nhu cầu khách quan đó, đồng thời chính thực tiễn cách
mạng đó cũng trở thành tiền đề cho sự khái quát và phát triển không ngừng lý luận của
chủ nghĩa Mác.
* Tiền đề lý luận
Chủ nghĩa Mác ra đời là sự kế thừa di sản lý luận của nhân loại mà trực tiếp nhất
là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng
Pháp và Anh.
- Triết học cổ điển Đức (G.W. Ph.Hêghen, và L.Phoiơbắc)
-> Triết học cổ điển Đức (triết học của Hêgghen và Phoiơbắc) đã ảnh hưởng sâu
sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác.
+ Hêghen:
-> Công lao của Ph.Hêghen: phê phán phương pháp siêu hình; là người đầu tiên
diễn đạt được nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặt chẽ thông qua hệ
thống các quy luật, phạm trù
-> Hạn chế trong triết học Hêgghen: hệ thống triết học của ông mang tính chất
duy tâm thần bí. Vì vậy, phép biện chứng của ông cũng chỉ là biện chứng của tư duy.
> C.Mác, Ph. Ăngghen đã phê phán tính chất duy tâm thần bí và kế thừa phép
biện chứng của Hêghen để xây dựng nên phép biện chứng duy vật.
+ L.Phoiơbắc:
-> Công lao của L.Phoiơbắc: đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo,
tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII; khẳng định quan

đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội.
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX (H.Xanh
Ximông, S.Phuriê, R.Ôoen)
+ Công lao lịch sử của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng: thể hiện
đậm nét nhân văn, đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản và vạch trần nỗi khốn khổ
của người lao động trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa; đưa ra nhiều quan điểm sâu
sắc về quá trình phát triển của lịch sử cũng như dự đoán về những đặc trưng cơ bản về
xã hội tương lai.
+ Hạn chế: không luận chứng được một cách khoa học về bản chất của chủ
nghĩa tư bản; không phát hiện được quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản; chưa
nhận thức được vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng xã hội
có khả năng xoá bỏ chủ nghĩa tư bản xây dựng một xã hội mới bình đẳng, không có
bóc lột.
+ C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không
tưởng và kế thừa những mặt tích cực, đặc biệt là quan điểm đúng đắn về lịch sử, về đặc
trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trong những tiền đề lý luận khoa học về
chủ nghĩa xã hội trong chủ nghĩa Mác.
* Tiền đề khoa học tự nhiên
- Những thành tựu của khoa học tự nhiên vừa là tiền đề, vừa là luận cứ để
khẳng định tính đúng đắn về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Thế kỷ XIX có 3 phát minh vĩ đại:
-> Quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng đã chứng minh một cách khoa
học về mối quan hệ không tách rời nhau, sự chuyển hóa lẫn nhau và được bảo toàn của
các hình thức vận động của vật chất trong giới tự nhiên.
-> Thuyết tế bào là một căn cứ khoa học chứng minh sự thống nhất về mặt nguồn
gốc, hình thái và cấu tạo vật chất của cơ thể thực vật, động vật và giải thích quá trình
phát triển sự sống trong mối liện hệ của chúng.
-> Thuyết tiến hoá đã đem lại cơ sở khoa học về sự phát sinh, phát triển đa dạng
bởi tính di truyền, biến dị và mối liên hệ hữu cơ giữa các loài thực vật, động vật trong
quá trình chọn lọc tự nhiên.

thức khoa học.
+ Làm cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có cơ sở trở thành khoa học.
+ Làm cho triết học Mác trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động.
c. Giai đoạn V.I.Lênin trong sự phát triển triết học Mác (đọc giáo trình)
V.I.Lênin (1870 - 1924) đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết
những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đó, ông đã đóng góp to lớn vào sự phát triển lý
luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.
d. Chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới (đọc giáo
trình)
II. Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phương pháp học tập, nghiên cứu môn học
những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
1. Đối tượng và mục đích học tập, nghiên cứu
a. Đối tượng
* Trong phạm vi triết học Mác – Lênin, đó là những nguyên lý cơ bản về thế giới
quan và phương pháp luận chung nhất, bao gồm:
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân lý luận của thế giới
quan khoa học
+ Phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự
phát triển, về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã
hội và tư duy
+ Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là sự vận dụng, phát triển chủ nghĩa duy
vật và phép biện chứng vào việc nghiên cứu đời sống xã hội
* Trong phạm vi kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm: Học thuyết
về giá trị (giá trị lao động), học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về chủ nghĩa tư bản
độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, khái quát những quy luật kinh tế
cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ giai đoạn hình thành đến giai
đoạn phát triển cao.
* Trong phạm vi chủ nghĩa xã hội khoa học bao gồm: Sứ mệnh lịch sử của giai

quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình
trong đời sống cá nhân và trong cộng đồng xã hội.
- Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận “mở”, không ngừng phát triển trên cơ
sở phát triển của thực tiễn thời đại. Vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu, một mặt phải
là quá trình tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học, tính
nhân văn vốn có của nó. Mặt khác, phải đặt nó trong lịch sử phát triển của tư tưởng
nhân loại vì nó là sự kế thừa tinh hoa nhân loại trong điều kiện lịch sử mới.
PHẦN I
THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
CHƯƠNG I
CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
I. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng
1. Quan niệm về triết học và sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
a. Quan niệm về triết học
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về
bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó.
b. Sự đối lập giữa CNDV và CNDT trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết
học
* Định nghĩa vấn đề cơ bản của triết học:
- Ăngghen cho rằng: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết
học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”.
- Sở dĩ đây là vấn đề cơ bản của triết học vì nó là nền tảng và điểm xuất phát để
giải quyết những vấn đề triết học khác. Trên thực tế các hệ thống triết học đều phải giải
quyết vấn đề này bằng cách này hay cách khác.
* Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
- Mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất,
cái nào là tính thứ hai, cái nào quyết định, cái nào phụ thuộc?
- Mặt thứ hai trả lời câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới

Chịu sự tác động của phương pháp tư duy siêu
hình, máy móc, thế giới được coi như tổng số các
sự vật biệt lập, không vận động, không phát triển.
Thế kỷ XIX –
XX
CNDV biện chứng Là sự thống nhất giữa CNDV khoa học và
phương pháp biện chứng, phản ánh đúng đắn
hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến
và sự phát triển.
II. Quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật
chất và ý thức
1. Vật chất
a. Phạm trù vật chất
* Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cổ đại
Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật cổ đại: Đi tìm bản nguyên
vật chất đầu tiên và coi đó là nguyên tố đầu tiên tạo ra mọi sự vật, hiện tượng trong thế
giới, chẳng hạn, Ta lét: nước; Anaximen: không khí; Hêraclít: Lửa; Đêmôcrít: nguyên
tử
* Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cận đại
- Thế kỷ XVII – XVIII, KHTN phát triển, thu được nhiều thành tựu mới trong
việc nghiên cứu thế giới khách quan (Cơ học, toán học, vật lý học, sinh vật học….).
Tuy vậy, những quan niệm siêu hình vẫn chi phối những hiểu biết triết học về thế giới:
Nguyên tử vẫn tiếp tục được coi là phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia; vận
động của vật chất chỉ được coi là vận động cơ học, nguồn gốc của vận động nằm ngoài
sự vật, thừa nhận “cái hích” đầu tiên của thượng đế.
- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vật lý học hiện đại phát triển, nhất là vật lý
học vi mô đã có những phát hiện mới về cấu trúc của vật chất… làm biến đổi sâu sắc
quan niệm của con người về nguyên tử: 1895: Rơnghen tìm ra tia X - Một loại sóng
điện từ có bước sóng cực ngắn); 1896: Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ ⇒
Quan niệm về sự bất biến của nguyên tử trước đây là không chính xác; 1897: Tômxơn

phát triển -> Thấy được vai trò của triết học đối với khoa học tự nhiên, giữa chúng có
mối quan hệ biện chứng với nhau: thành tựu của KHTN giúp triết học khái quát thế
giới một cách chính xác hơn ngược lại triết học phát triển đúng đắn định hướng về mặt
thế giới quan đúng đắn, chính xác cho KHTN…
- Với định nghĩa này, phạm trù vật chất không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tự nhiên
mà còn mở rộng sang cả lĩnh vực xã hội, khẳng định đâu là vật chất/ý thức trong lĩnh
vực xã hội -> Định nghĩa này là cơ sở lý luận khoa học để khẳng định rằng, trong lĩnh
vực xã hội, vật chất được biểu hiện dưới dạng tồn tại xã hội, yếu tố quan trọng nhất tạo
nên tồn tại xã hội là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất… nó đã làm sáng tỏ quan
điểm duy vật về lịch sử.
b. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
* Vận động
- Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất là một phương thức tồn tại của vật chất,
là thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm mọi sự thay đổi nói chung, mọi quá trình
diễn ra trong vũ trụ, kể cả từ thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.
- Vật chất tồn tại bằng cách vận động, nghĩa là thông qua vận động, vật chất biểu
thị sự tồn tại của mình và chỉ thông qua vận động, vật chất mới tồn tại được. Nghĩa là,
không có vật chất không vận động.
- Vn ng ca vt cht l t thõn, do ngun gc bờn trong bn thõn vt cht quy
nh. Vn ng ca vt cht khụng bao gi mt i, ch chuyn t hỡnh thc vn ng
ny sang hỡnh thc vn ng khỏc.
- Vn ng gn lin vi ng im, ng im l vn ng trong thng bng, trong
s n nh tng i.
* Khụng gian v thi gian l nhng hỡnh thc tn ti ca vt cht
- Khụng gian l hỡnh thc tn ti ca vt cht xột v mt qung tớnh (tớnh 3
chiu: di, rng, cao), biu hin s cựng tn ti v tỏch bit cng nh trt t phõn b
ca cỏc s vt.
- Thi gian l hỡnh thc tn ti ca vt cht xột v mt di din bin, s k
tip ca cỏc quỏ trỡnh, biu din trỡnh t xut hin, mt i ca s vt (quỏ kh, hin ti,
tng lai).

PA N,
ST
Kết luận: Sự xuất hiện của ý thức con người là kết quả đồng thời của hai quá
trình tiến hóa: tiến hóa về mặt tự nhiên và tiến hóa về mặt xã hội. Trong đó, nguồn gốc
trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là
thực tiễn xã hội. Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào óc người thông qua
lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
b. Bản chất và kết cấu của ý thức
* Bản chất của ý thức
Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong óc người. Thể hiện:
- Ý thức là sự phản ánh mang tính sáng tạo
+ Định hướng tiếp nhận, chọn lọc, xử lý, lưu giữ thông tin.
+ Trên cơ sở những thông tin đã có, có thể tạo ra những thông tin mới.
+ Có thể tưởng tượng ra những cái không có trong thực tế; có thể dự báo, tiên
đoán tương lai; có thể tạo ra những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng.
- Ý thức là sự phản ánh mang tính chủ quan
+ Phụ thuộc vào trình độ tổ chức bộ não của mỗi chủ thể phản ánh.
+ Phụ thuộc vào môi trường, hoàn cảnh xã hội mà chủ thể đó sống.
+ Hình ảnh thế giới khách quan tác động vào bộ não và được cải biến qua lăng
kính chủ quan.
- Ý thức là sự phản ánh mang tính xã hội
+ Ý thức ngay từ đầu đã là sản phẩm của xã hội: lao động, ngôn ngữ và các quan
hệ xã hội, cho nên người nào tách rời khỏi đời sống xã hội của con người sẽ không thể
có ý thức.
+ Ý thức phản ánh tồn tại xã hội và biến đổi cùng với sự biến đổi của tồn tại xã
hội. C.Mác đã khẳng định: “Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là
như vậy chừng nào con người còn tồn tại”.
* Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau,
trong đó gồm 3 yếu tố cơ bản sau:

b. Vai trò của ý thức đối với vật chất
* Bản chất của ý thức mang tính năng động, sáng tạo, ý thức là ý thức của con
người, chỉ có con người mới có ý thức nên nói tới sự tác động trở lại của ý thức đối với
vật chất chính là nói đến sự tác động của con người đối với vật chất thông qua hoạt
động thực tiễn.
- Ý thức
- Ý thức
chỉ đạo, hướng dẫn
chỉ đạo, hướng dẫn
c
c
on người trong hoạt động thực tiễn, (ý thức trang
on người trong hoạt động thực tiễn, (ý thức trangbị cho con người tri thức về thực tại khách quan), giúp con người xác định được: mục
bị cho con người tri thức về thực tại khách quan), giúp con người xác định được: mụctiêu, phương hướng, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ để đạt được mục tiêu
tiêu, phương hướng, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ để đạt được mục tiêucủa mình
của mình
- Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng
- Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng tích cực
hoặc tiêu cực , thể hiện:
+ Tác động tích cực: Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có
tình cảm cách mạng, có nghị lực thì hành động của con người phù hợp với các quy

lối, chủ trương, chính sách đúng đắn thúc đẩy xã hội tiến lên.
lối, chủ trương, chính sách đúng đắn thúc đẩy xã hội tiến lên.
- Nếu chủ quan, duy ý chí, nôn nóng tất yếu dẫn đến sai lầm trong hoạt động
- Nếu chủ quan, duy ý chí, nôn nóng tất yếu dẫn đến sai lầm trong hoạt độngnhận thức và thất bại trong hoạt động thực tiễn.
nhận thức và thất bại trong hoạt động thực tiễn.
- Lưu ý: Nếu tuyệt đối hóa yếu tố vật chất sẽ rơi vào quan điểm duy vật tầm
- Lưu ý: Nếu tuyệt đối hóa yếu tố vật chất sẽ rơi vào quan điểm duy vật tầmthường.
thường.
* Xuất phát từ sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất:
* Xuất phát từ sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất:
Đòi hỏi phải
Đòi hỏi phảiluôn luôn chú ý phát huy đầy đủ tính năng động, chủ quan, sự sáng tạo của con người
luôn luôn chú ý phát huy đầy đủ tính năng động, chủ quan, sự sáng tạo của con ngườitrong việc nhận thức và cải tạo thế giới, muốn vậy:
trong việc nhận thức và cải tạo thế giới, muốn vậy:
- Tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức
- Tôn trọng tri thức khoa học; tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức
2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
- Phép biện chứng chất phác thời cổ đại: thô sơ, tự phát
+ Triết học phương Đông cổ đại: Biện chứng trong âm dương, ngũ hành (triết
học Trung Quốc),…
+ Triết học phương Tây cổ đại: Tiêu biểu là triết học HiLạp, Ăngghen đã từng
nhận xét "các nhà triết học Hilạp cổ đại, hầu hết họ đều là những nhà biện chứng bẩm
sinh", tiêu biểu là: Hêraclit, Platôn, đặc biệt là Arixtốt.
- Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức (Cantơ -> Hêghen): Tiêu biểu là phép
biện chứng trong triết học của Hê ghen, Ăngghen đã từng nhận xét: Hêghen là nhà triết
học vĩ đại người Đức, ông là người đầu tiên trong lịch sử, trình bày phép biện chứng
một cách đầy đủ nhất, sâu sắc nhất và súc tích nhất. Tuy nhiên, phép biện chứng lại bị
Hêghen trình bày một cách duy tâm, lộn ngược và không triệt để.
- Phép biện chứng duy vật: Có tính khoa học - cách mạng do C.Mác và Ph.
Ăngghen sáng lập, trên cơ sở kế thừa và cải tạo phép biện chứng của Hêghen.
3. Phép biện chứng duy vật - hình thức cao nhất của phép biện chứng trong lịch
sử
a. Định nghĩa phép biện chứng duy vật
- Cơ sở để C.Mác và Ph. Ăngghen, Lênin đưa ra khái niệm phép biện chứng:
+ Cơ sở thực tiễn (thực tiễn lịch sử loài người)
+ Kết quả khái quát thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại
+ Kế thừa phép biện chứng của Hêghen
- Định nghĩa phép biện chứng: Trong tác phẩm "Chống Đuy - rinh", Ph.
Ăngghen cho rằng: “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của
sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy”.
- Khi nhấn mạnh đến vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph. Ănghen
định nghĩa: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”.
- Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển, Lênin khẳng định:
“Trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu của phép biện chứng, tức là học
thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện,
học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật

trừng phạt của phép biện chứng đối với những ai khinh thường nó…
II. Các nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến
- Các nhà triết học siêu hình không thừa nhận mối liên hệ phổ biến, họ cho rằng
sự vật, hiện tượng có thể tồn tại một cách cô lập, tách rời, cái này bên cạnh cái kia…
- Các nhà triết học duy vật biện chứng cho rằng: thế giới có vô vàn các sự vật,
hiện tượng, chúng thống nhất với nhau ở tính vật chất nên tất yếu chúng phải có mối
liên hệ với nhau.
+ Khái niệm: Mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và sự chuyển hoá
lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện
tượng trong thế giới.
- Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ:
+ Tính phổ biến của các mối liên hệ (bởi vì mối liên hệ là cái vốn có của tất
thảy mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, không loại trừ một sự vật, hiện tượng nào,
lĩnh vực nào).
+ Chỉ những mối liên hệ tồn tại (được thể hiện) ở nhiều sự vật, hiện tượng của
thế giới.
-> Từ các khái niệm trên giải thích một số vấn đề trong thực tiễn: thời đại toàn
cầu hóa, nền kinh tế giữa các quốc gia có liên hệ với nhau như thế nào? Trong một
quốc gia, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự có liên hệ với nhau như thế
nào?
- Các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được phép biện chứng
duy vật khái quát thành các phạm trù cơ bản như cái riêng, cái chung, cái đơn nhất; tất
nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng; nguyên nhân và kết quả, khả năng và
hiện thực; nội dung và hình thức Chúng được hình thành và phát triển trong quá trình
hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự nhiên, xã hội. Trong đó, các phạm trù cái
riêng, cái chung, cái đơn nhất; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng là cơ sở
phương pháp luận của các phương pháp phân tích và tổng hợp; diễn dịch và quy nạp;
khái quát hóa, trừu tượng hóa để từ đó nhận thức được toàn bộ các mối liên hệ theo hệ

các sự vật, hiện tượng khác => Như vậy, mới nhận thức đúng về sự vật, hiện tượng và
xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn.
=> Liên hệ với thực tiễn (sinh viên).
* Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ, do đó, trong hoạt động nhận
thức và hoạt động thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết
hợp với quan điểm lịch sử – cụ thể.
- Quan điểm lịch sử – cụ thể
+ Trong nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải
xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết
khác nhau trong thực tiễn. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên
hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có những giải pháp đúng đắn và có
hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn.
* Từ quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử cụ thể thì trong nhận thức và thực
tiễn cần chống lại quan điểm phiến diện (xem xét qua loa một vài mối liên hệ đã vội đánh
giá sự vật một cách chủ quan); chống lại quan điểm chiết trung (san bằng các mối liên hệ,
xem chúng có vị trí, ý nghĩa như nhau); chống quan điểm ngụy biện, đánh tráo khái niệm
(những người ngụy biện cũng đề cập tới các yếu tố, các mặt cấu thành sự vật nhưng đánh
lộn vai trò của chúng, biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái
bản chất và ngược lại).
2. Nguyên lý về sự phát triển
a. Khái niệm phát triển
- Quan điểm siêu hình: Phát triển là sự thay đổi về lượng mà không có sự thay
đổi về chất; phát triển như là một quá trình liên tục, không có những bước quanh co,
thụt lùi
- Quan điểm biện chứng:
+ Khái niệm phát triển dùng để chỉ quá trình vận động của sự vật theo khuynh
hướng tiến lên: từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
+ Khái niệm “phát triển” không đồng nhất với khái niệm “vận động”?
b. Tính chất của sự phát triển

những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực
nhất định.
- Phạm trù hình thành là kết quả của quá trình nhận thức hiện thực khách quan của
con người, vì vậy phạm trù có những tính chất cơ bản sau:
+ Tính khách quan: nội dung phạm trù phản ánh thuộc về thế giới khách quan,
không phụ thuộc vào bất kỳ lực lượng siêu nhiên nào.
+ Tính chủ quan: vì phạm trù là sản phẩm hoạt động nhận thức nên nó phụ thuộc
vào đặc điểm nhận thức của con người ở thời đại lịch sử sinh ra nó.
+ Tính linh hoạt, mềm dẻo: trình độ nhận thức của con người không đứng một chỗ
mà luôn phát triển, càng ngày con người càng phát hiện tri thức mới về hiện thực,
những tri thức mới ấy không ngừng được bổ sung, làm cho phạm trù phản ánh thế giới
ngày càng đầy đủ, đúng đắn hơn.
2. Những cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật
a. Cái riêng, cái chung
* Định nghĩa: cái chung, cái riêng, cái đơn nhất
- Phạm trù cái chung: dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố,
những quan hệ… lặp lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng.
- Phạm trù cái riêng: dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình nhất
định.
- Phạm trù cái đơn nhất: dùng để chỉ những đặc tính, những tính chất… chỉ tồn
tại ở một sự vật, một hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác.
* Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
- Cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, thể hiện:
+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại
của nó, nó không tồn tại biệt lập, tách rời cái riêng (tức là cái chung không tách rời mỗi
sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ).
+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, vì bất cứ cái riêng nào
cũng tồn tại trong mối quan hệ với cái riêng khác, giữa những cái riêng ấy bao giờ
cũng có những cái chung giống nhau.
+ Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú, đa dạng còn cái cái chung là cái bộ phận

nhân gây ra tác động.
-> Lưu ý: Không phải sự nối tiếp nào về thời gian của sự vật, hiện tượng đều biểu
hiện mối quan hệ nhân quả, chẳng hạn, ngày luôn luôn “đến sau” đêm; sấm luôn luôn
“đến sau” chớp… những hiện tượng này cái nọ tiếp sau cái kia không phải vì chúng
nằm trong mối quan hệ nhân quả mà đơn thuần là vì chúng ở trong quan hệ nối tiếp
nhau về mặt thời gian.
+ Một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả.
+ Một kết quả được sinh ra bởi nhiều nguyên nhân khác nhau do tác động riêng lẻ
hoặc đồng thời.
-> Nhiều nguyên nhân phát huy tác động đồng thời - tổng hòa các nguyên nhân -
đưa lại kết quả (trong đời sống cần tìm ra nguyên nhân tốt, loại bỏ nguyên nhân xấu).
-> Nhiều nguyên nhân tác động riêng rẽ, đưa lại kết quả như nhau.
+ Nguyên nhân có nhiều loại, như nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên
ngoài; nguyên nhân chủ yếu và nguyên nhân thứ yếu… mỗi loại có vai trò khác nhau
đối với kết quả, cho nên, trong thực tiễn, phải nhận dạng được chúng để có thái độ ứng
xử đúng đắn.
- Thứ hai: Kết quả tác động trở lại nguyên nhân
Kết quả sau khi ra đời nó không thụ động, trái lại nó tác động trở lại nguyên nhân
đã sinh ra nó, ví dụ nghèo đói, thất học làm gia tăng dân số, đến lượt nó, gia tăng dân
số lại làm làm gia tăng nghèo đói, thất học
- Thứ ba: Nguyên nhân và kết quả chuyển hóa lẫn nhau
+ Liên hệ nhân quả là một chuỗi vô tận, do đó, không có nguyên nhân đầu tiên và
kết quả cuối cùng.
+ Nguyên nhân và kết quả luôn thay đổi vị trí cho nhau.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tôn trọng tính khách quan của mối
liên hệ nhân quả, không được lấy ý muốn chủ quan thay cho quan hệ nhân - quả.
- Muốn cho sự vật, hiện tượng nào đó xuất hiện cần tạo ra những nguyên nhân,
cùng những điều kiện cho những nguyên nhân đó phát huy tác dụng. Ngược lại, muốn
cho hiện tượng nào đó mất đi thì phải làm mất nguyên nhân tồn tại của nó, cũng như

+ Những quy luật phổ biến – tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội
và tư duy (phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật phổ biến đó).
- Căn cứ vào lĩnh vực tác động, chia thành:
+ Quy luật của tự nhiên - nảy sinh, tác động trong lĩnh vực tự nhiên.
+ Quy luật của xã hội – nảy sinh và tác động trong lĩnh vực xã hội.
+ Quy luật của tư duy - nảy sinh, tác động trong lĩnh vực tư duy.
- Với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện
chứng duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong toàn bộ các lĩnh
vực tự nhiên, xã hội và tư duy của con người. Đó là: quy luật chuyển hóa từ những sự
thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại, chỉ ra cách thức vận
động, phát triển của sự vật, hiện tượng; quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập chỉ ra nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật; quy luật phủ định của
phủ định chỉ ra khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
2. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
a. Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về
chất và ngược lại
* Khái niệm chất và khái niệm lượng
- Khái niệm chất: Khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có
của các sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân
biệt nó với sự vật, hiện tượng.
Trong khái niệm về chất cần chú ý một số điểm sau:
+ Chất của sự vật là khách quan, phổ biến.
+ Chất của sự vật gồm các thuộc tính (thuộc tính là biểu hiện một khía cạnh nào
đó về chất của sự vật được bộc lộ ra khi tác động qua lại với các sự vật khác. Đó có thể
là tính chất, trạng thái, yếu tố,… của sự vật): Có thuộc tính cơ bản và không cơ bản,
tổng hợp các thuộc tính cơ bản tạo nên chất của sự vật, khi những thuộc tính cơ bản
thay đổi thì chất của nó thay đổi.
+ Chất của sự vật còn được xác định bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa
các yếu tố cấu thành sự vật đó, do đó, chất của sự vật không chỉ thay đổi khi thay đổi
những yếu tố cấu thành mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức liên kết giữa

thay đổi về chất được gọi là độ. Nói cách khác, độ là phạm trù triết học chỉ sự thống
nhất giữa lượng và chất, là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng (tăng lên
hoặc giảm đi) chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật
+ Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì sẽ dẫn đến sự thay đổi về
chất, giới hạn đó chính là điểm nút. Điểm nút dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay
đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật
+ Sự thay đổi về chất do những thay đổi về lượng trước đó gây ra gọi là bước
nhảy. Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển của sự vật và là điểm khởi đầu
của một giai đoạn phát triển mới.
- Những thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng: Chất mới ra đời sẽ
tác động trở lại tới sự thay đổi về lượng mới (làm thay đổi quy mô, nhịp điệu, tốc độ
phát triển của sự vật). Như vậy, không chỉ sự thay đổi về lượng gây nên những thay
đổi về chất mà cả sự thay đổi về chất cũng gây nên những thay đổi về lượng.
-> Ví dụ: Nhịp điệu vận động, phát triển của xã hội dưới cơ chế thị trường nhanh
hơn nhịp điệu vận động của xã hội dưới cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp; hay khi
trở thành cử nhân thì tốc độ đọc, hiểu vấn đề sẽ tốt hơn khi còn là sinh viên…
-> Một số vấn đề thực tiễn cần suy nghĩ: Có người cho rằng học ở đại học nhàn
hơn học phổ thông; có trường hợp học sinh lớp 7 mà chưa đánh vần thành thạo; bác sỹ
thú y không biết cầm kim tiêm, không biết mổ sẻ như thế nào?…-> Phải học thật sự để
chất nào lượng ấy, chất mới thì lượng cũng phải mới…
- Các hình thức của bước nhảy: Bước nhảy toàn bộ, bước nhảy cục bộ…
Tóm lại, sự thống nhất giữa lượng và chất trong sự vật tạo thành độ của sự vật.
Những thay đổi về lượng dần dần đến giới hạn nhất định thì xảy ra bước nhảy, chất cũ
bị phá vỡ, chất mới ra đời cùng với độ mới. Đó chính là cách thức phát triển của sự
vật. Quá trình này diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng vận động, biến đổi.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Vì bất kỳ sự vật, hiện tượng nào đó cũng có phương diện chất và lượng tồn tại
trong tính quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó, trong nhận
thức và thực tiễn cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và lượng,
tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật, hiện tượng.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status