DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG TRONG NỀN KINH TẾ TRI THỨC
TS. Nguyễn Phúc Chỉnh
Trường đại học sư phạm - Đại học Thái nguyên
1. ĐẶT VẦN ĐỀ
Từ những thập kỷ 80 của thế kỷ XX đến nay, dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng
khoa học và công nghệ, nền kinh tế tri thức đã hình thành ở các nước phát triển và đang trở
thành xu thế quốc tế. Để phát triển nền kinh tế - xã hội của Việt Nam, chúng ta phải tiến
hành một cuộc cách mạng trong giáo dục để tiến tới nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri
thức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục – đào tạo. Vì vậy, muốn có nền kinh tế tri thức
chúng ta phải có cách nhìn mới trong giáo dục và cần có sự tham gia của nhiều thành phần,
trước hết là sự đóng góp của giáo dục phổ thông.
2. THẾ NÀO LÀ NỀN KINH TẾ TRI THỨC?
Lịch sử phát triển sản xuất của loài người đã trải qua các thời kỳ: kinh tế nông
nghiệp; kinh tế công nghiệp và hiện nay đang chuyển sang kinh tế tri thức.
Nền kinh tế nông nghiệp kéo dài mấy ngàn năm, đây là nền kinh tế sức lao động, đặc
trưng chủ yếu của nền kinh tế này là dựa vào tư liệu sản xuất là sức lao động và ruộng đất.
Hiệu quả lao động rất thấp, đời sống của người dân rất khó khăn.
Tiếp đó, loài người đã chuyển sang nền kinh tế công nghiệp. Nền kinh tế công nghiệp
có tư liệu sản xuất là máy móc và vốn (tư bản). Những thành tựu khoa học ở thế kỷ 17 dẫn
tới cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất (cuối thế kỷ 18), thúc đẩy sự chuyển biến từ kinh
tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp. Kinh tế công nghiệp đã phát triển nhanh chóng
trong hơn hai trăm năm, làm cho của cải của loài người trên thế giới tăng lên hàng trăm
lần, cùng với đó là sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đời sống vật chất và tinh thần đã
tăng đáng kể.
Những thập niên cuối thế kỷ XX, loài người đã bước vào nền kinh tế tri thức, nền
kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức và thông tin; tri thức và thông tin trở thành tư liệu sản xuất
quan trọng hơn cả vốn và lao động, đồng thời tri thức và thông tin là nguồn tài nguyên to
lớn.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về nền kinh tế tri thức (Knowledge Economy), nhưng
các định nghĩa đều nhằm diễn đạt một nội dung cơ bản: “tri thức – thông tin là tư liệu quan
trọng để sản xuất ra hàng hoá”. Có thể định nghĩa: kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó
Ở Việt nam, từ sau khi thực hiện chính sách đổi mới (1985) đã có ba xu hướng
chuyển đổi ảnh hưởng nhiều đến quan hệ kinh tế - xã hội. Thứ nhất: chuyển từ xã hội bao
cấp sang xã hội dịch vụ; Thứ hai: chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị trường;
Thứ ba: chuyển từ kinh tế công – nông nghiệp sang kinh tế tri thức. Để đáp ứng được với
các xu hướng chuyển đổi trên, trong dạy học ở trường phổ thông cần có những đổi mới để
đào tạo được một thế hệ con người thích ứng hơn.
5.1. Đổi mới mục tiêu dạy học
Những đòi hỏi của xã hội về việc cung cấp nguồn lao động có trình độ, có tay nghề
cao… đã tạo ra áp lực đối với giaó dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp ở Việt Nam.
Các nhà sử dụng nhân lực kỳ vọng vào ngành giáo dục đào tạo ra nguồn nhân lực có tri
2
thức và có năng lực nghề nghiệp. Thông qua những con người có khả năng như vậy sẽ
thực hiện được các hy vọng chính trị - kinh tế, chính trị - xã hội và cá nhân.
Những mục tiêu cụ thể được đặt ra cho mỗi chương trình đào tạo. Sau quá trình đào
tạo, người học phải đạt được những yêu cầu cụ thể về hiểu biết, về năng lực tư duy, về
năng lực hành động và về thái độ - tình cảm. Mỗi cá nhân phải được cung cấp những kiến
thức và kỹ năng để làm chủ được các tình huống trong cuộc sống.
Mục tiêu cuối cùng của dạy học ở phổ thông là hình thành nét văn hoá ở mỗi người
trong cộng đồng. Những nét văn hóa đó là: văn hóa ứng xử, văn hóa giao thông, văn hóa
sinh thái ... các yếu tố văn hóa sẽ chi phối các hành vi của con người, tạo ra con người
thích ứng trong xã hội.
5.2. Đổi mới phương thức giáo dục
Giáo dục để hình thành văn hoá , điều này cũng có nghĩa việc hình thành kiến thức ở
học sinh không còn đơn giản là dạy - học mà phải làm cho các môn học này trở thành môn
khoa học về sự sống.
Những mục tiêu đào tạo đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức đào tạo. Những nhà
trường trước đây đào tạo theo một chương trình thống nhất, cứng nhắc sẽ không đáp ứng
được những yêu cầu của thị trường lao động.
Đổi mới phương thức giáo dục theo hướng gắn liền kiến thức khoa học với những
vấn đề kinh tế xã hội ở địa phương. Làm cho học sinh và phụ huynh học sinh hiểu rằng
viên làm trung tâm. Theo mô hình này có các phương pháp dạy học đặc trưng như:
giảng giải, trình diễn, dạy khái niệm.
Mô hình dạy học tương tác lấy học sinh làm trung tâm, với các phương pháp dạy
học phát huy tính tích cực học tập của học sinh (Học tập mang tính hợp tác, Dạy học
theo vấn đề, Thảo luận trong lớp (tương tác nhóm), Dạy học định hướng hành động,
Dạy học theo dự án ...) các mô hình dạy học này giúp học sinh vừa có kiến thức vừa
có kỹ năng giải quyết những mối quan hệ xã hội. Trong các mô hình dạy học trên thì
dạy học hợp tác và dạy học theo vấn đề có nhiều tiềm năng nhất để giáo dục văn hóa
cho học sinh.
Dạy học mang tính hợp tác (dạy học hợp tác) có thể gọi là một mô hình dạy học
vì khi thực hiện phải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp và biện pháp dạy học. Mô
hình học mang tính hợp tác được phát triển để đạt được ít nhất ba mục tiêu quan trọng
đó là: thành công mang tính học thuật, sự chấp nhận tính đa dạng và phát triển kỹ
năng xã hội.
Thành công mang tính học thuật tức là thông qua các hoạt động nhóm, khả năng
thu nhận và vận dụng kiến thức của các thành viên trong nhóm được nâng lên một
cách đáng kể. Slavin tin rằng cách học mang tính hợp tác có thể thay đổi các giá trị
văn hoá của giới trẻ và khiến nó trở nên dễ chấp nhận hơn khi đạt thành tích xuất xắc
trong kết quả học tập. Học mang tính hợp tác có thể có lợi cho cả những học sinh có
kết quả học tập cao và thấp cùng phối hợp trong học tập. Những người có kết quả học
tập cao sẽ dạy những người yếu hơn do vậy mang lại sự giúp đỡ đặc biệt từ những
người ngang hàng, người mà cùng chia xẻ ngôn ngữ và quyền lợi theo cách định
hướng giới trẻ. Trong tiến trình đó, người có kết quả học tập cao hơn đạt được về mặt
lý thuyết, bởi vì làm việc như một gia sư yêu cầu họ nghĩ nhiều hơn, sâu hơn về mối
liên quan giữa các ý kiến trong một đề tài cụ thể.
4
Hiệu quả quan trọng thứ hai của cách học mang tính hợp tác là sự chấp nhận
rộng rãi của mọi người. Những người khác nhau về chủng tộc, văn hoá, tầng lớp xã
hội, hoặc người tàn tật có thể chấp nhận nhau trong những mâu thuẫn về quyền lợi.
Mục tiêu quan trọng thứ ba của cách học mang tính hợp tác là cách dạy học sinh