XU HƯỚNG CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT
TRỰC NINH A, TỈNH NAM ĐỊNH
Sinh viên: Đồng Thị Cúc, Triệu Thị Hậu, Nguyễn Thị Ly
Lớp: QH -2008- S Sư Phạm Vật lý
Giảng viên hướng dẫn: Ths. Trần Văn Tính
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, nghề nghiệp trong xã hội có những chuyển biến nhiều so với giai
đoạn trước đây. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang tạo điều kiện để nhân loại tiến từ
nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản
xuất, phân phối và sử dụng tri thức, thông tin, trong đó máy tính và các công nghệ truyền thông
viễn thông là những yếu tố chiến lược. Nghị quyết IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã xác định nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là phát huy nội lực, cần kiệm để xây dựng đất nước...
Trong hoàn cảnh đất nước ta hiện nay, để đạt được mục tiêu trên, chúng ta cần một lực lượng lao
động có đủ trình độ năng lực và làm chủ được công nghệ kỹ thuật của đất nước, đủ điều kiện đảm
bảo hoàn thành tốt công việc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nếu chúng ta không chiếm
hữu được tri thức, không sáng tạo và sử dụng được thông tin trong các ngành sản xuất thì không
thể thành công trong sự cạnh tranh quyết liệt của thị trường. Chính vì vậy việc nâng cao trình độ
học vấn, trình độ văn hóa cho nhân dân, đặc biệt là việc định hướng bậc học và định hướng
nghề nghiệp cho thế hệ trẻ hôm nay, chủ nhân tương lai của đất nước, cần được quan tâm hơn
bao giờ hết.
Như vậy nghề nghiệp luôn được coi là một trong nhiều yếu tố quan trọng quyết định đến
tương lai mỗi con người. Vì thế lựa chọn cho mình một ngành nghề phù hợp là vấn đề được nhiều
bạn trẻ quan tâm, đặc biệt là học sinh trung học phổ thông (THPT). Trong xã hội hiện nay học sinh
THPT có rất nhiều lựa chọn sau tốt nghiệp: học tiếp lên ĐH, CĐ, học nghề, đi làm, du học… Vậy
họ lựa chọn thế nào? Trong quá trình lựa chọn ngành nghề, đã xuất hiện những yếu tố cơ bản nào
tác động, tầm ảnh hưởng đến đâu ?
Từ những vấn đề trên chúng tôi quyết định tiến hành đề tài: “Xu hướng chọn nghề của học
sinh THPT hiện nay”
2.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và khảo sát thực trạng về xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12
sinh.
2.Tổng quan về thực trạng chọn nghề của các nhóm ngành tiêu biểu
+ Về nhóm ngành kinh tế:
Năm 2009, theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khối ngành kinh tế - quản trị kinh
doanh nhận đến 814.072 lượt thí sinh đăng ký, chiếm 38% tổng số hồ sơ đăng ký dự thi. Trong đó
ngành tài chính - ngân hàng có 214.566 hồ sơ, kế toán 218.367 hồ sơ, kinh tế 127.431 hồ sơ và
quản trị kinh doanh 253.708 hồ sơ.
Năm 2010, dù tổng số hồ sơ đăng ký dự thi giảm khá mạnh nhưng khối ngành kinh tế -
quản trị kinh doanh vẫn chiếm tỉ lệ áp đảo so với các khối ngành khác. Tuy nhiên, một điều thí
sinh cần hết sức quan tâm là số thí sinh đăng ký dự thi vào các trường chuyên đào tạo khối ngành
kinh tế tăng thật sự không đáng kể. Điều này đồng nghĩa với việc một lượng lớn thí sinh theo đuổi
nhóm ngành kinh tế đã không vào các trường chuyên ngành kinh tế bằng mọi giá. Thay vào đó, họ
đã chọn vào khối ngành kinh tế ở rất nhiều trường đào tạo đa ngành lớn nhỏ khác nhau.
Có một thực tế là các ngành quản trị kinh doanh, kế toán hay tài chính - ngân hàng đều
nằm trong tốp 5 ngành đang được nhiều trường tuyển sinh nhất. Trong đó, ngôi quán quân thuộc
về ngành quản trị kinh doanh với ít nhất 360 trường tuyển sinh. Kế đến là kế toán với 298 trường.
Không chỉ thí sinh đổ xô vào dự thi mà cả các trường cũng đang ồ ạt tuyển sinh khối ngành
kinh tế. Nhờ vậy, thí sinh có nhiều phương án lựa chọn cho mình một trường phù hợp.
+ Về nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật:
Năm 2009, tổng số hồ sơ đăng ký vào khối ngành này chiếm đến 32% tổng hồ sơ đăng ký
dự thi. Đến năm 2010, khối ngành này tiếp tục giữ được ưu thế của mình, đặc biệt là những ngành
công nghệ.
Bên cạnh đó, dù không còn gây "sốt" như khoảng 10 năm trước, ngành công nghệ thông
tin vẫn được rất nhiều thí sinh chọn lựa. Năm 2009, có hơn 100.000 thí sinh đăng ký dự thi ngành
công nghệ thông tin, chiếm 5% tổng hồ sơ đăng ký dự thi cả nước.
+ Về nhóm ngành xây dựng kĩ thuật
Trong khi đó, nhóm các ngành kỹ thuật dù nhiều trường cho rằng là ngành khó tuyển
nhưng theo thống kê, đây vẫn là nhóm ngành thu hút khoảng 20% thí sinh lựa chọn mỗi năm. Ở
các trường có thế mạnh về khối ngành này như Trường ĐH Bách khoa (ĐHQG TP.HCM), Trường
ĐH Bách khoa Đà Nẵng, Trường ĐH Bách khoa Hà Nội, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật
Theo Sách giáo viên "GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP" lớp 9, Phạm Tất Dong chủ biên,
Nhà xuất bản Giáo Dục, năm 2005, trình bày về phân loại nghề như sau:
4.1.Phân loại theo đối tượng lao động
Căn cứ vào đối tượng lao động, người ta chia các nghề ra thành 5 kiểu. Đó là:
- Nghề “Người tiếp xúc với thiên nhiên” (trồng trọt, chăn nuôi, thú y, bảo vệ rừng…).
- Nghề “Người tiếp xúc với kỹ thuật” (các loại thợ nề, thợ tiện, thợ nguội, lắp ráp máy
truyền hình và máy tính, thợ sửa chữa công cụ…).
- Nghề “Người tiếp xúc với người” (nhân viên bán hàng, nhân viên phục vụ khách sạn, thầy
thuốc, thầy giáo, thẩm phán v.v…).
- Nghề “Người tiếp xúc với các dấu hiệu” (thư ký đánh máy, chế bản vi tính, ghi tốc ký, sắp
chữ in, lập trình máy tính…).
- Nghề “Người tiếp xúc với nghệ thuật” (họa sĩ, nhà soạn nhạc, thợ trang trí, thợ sơn…).
4.2. Phân loại theo mục đích lao động
Căn cứ vào mục đích lao động, người ta chia các nghề thành 3 dạng sau đây:
- Nghề có mục đích nhận thức đối tượng (thanh tra chuyên môn, điều tra vụ án, kiểm tra kho
hàng, kiểm kê tài sản…).
- Nghề có mục đích biến đổi đối tượng (dạy học, chữa bệnh, sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp, thủ công nghiệp…).
- Nghề có mục đích tìm tòi, phát hiện, khám phá những cái mới (nghiên cứu khoa học, sáng
tác văn học nghệ thuật, tạo giống mới, thiết kế thời trang…).
4.3. Phân loại theo công cụ lao động
Căn cứ vào công cụ lao động, người ta chia các nghề thành 4 loại sau đây:
- Nghề với những hình thức lao động chân tay (khuân vác, khơi thông cống rãnh, lắp đặt
ống nước, quét rác.
- Nghề với những công việc bên máy (tiện, phay, xây dựng, lái xe…).
- Nghề làm việc bên máy tự động (làm việc ở bàn điều khiển, các loại máy thêu, máy dệt,
máy in hoa trên vải, tiện hoặc phay các chi tiết theo chương trình máy tính…).
- Nghề lao động bằng những công cụ đặc biệt như ngôn ngữ, cử chỉ (dạy học, làm thơ, múa
hát, nghiên cứu lý luận…).
4.4. Phân loại theo điều kiện lao động
vậy, những nghề này được đào tạo trong gia đình và cũng thường chỉ liên quan đến người được
chọn để nối tiếp nghề của cha ông.
4.7. Phân loại nghề theo yêu cầu của nghề đối với người lao động