Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
LỜI MỞ ĐẦU
Đào tạo là một nhu cầu không thể thiếu đối với bất cứ một loại hình tổ chức
nào. Một xã hội tồn tại được hay không là do có đáp ứng được với sự thay đổi của
xã hội hay không. Một xã hội phát triển hay chậm phát triển cũng do các nhà lãnh
đạo có thấy trước được sự thay đổi để kịp thời đào tạo tốt lực lượng lao động của
mình hay không.
Ngày nay trước yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, yếu tố con
người thực sự trở thành nhân tố quyết định, một điều kiện tiên quyết của mọi giải
pháp để phát triển kinh tế xã hội. Xét ở góc độ doanh nghiệp, đào tạo nguồn nhân
lực trong các doanh nghiệp là một hoạt động cần nhiều thời gian, tiền bạc và công
sức, là một điều kiện để nâng cao năng suất lao động, phát triển cán bộ công nhân
viên nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh. Một doanh nghiệp muốn
tồn tại và phát triển phải luôn nằm trong quá trình đổi mới: đổi mới về quy mô hoạt
động, mục tiêu và công việc cần phải hoàn thành, đổi mới về công nghệ kinh
doanh…Vì vậy, nhu cầu về đổi mới là tất yếu khách quan, cần thiết và thường xuyên
trong doanh nghiệp. Sự đổi mới này chỉ có thể đạt được nhờ vào hoạt động đào tạo
nguồn nhân lực.
Công ty cổ phần gỗ GAGO là một Công ty thương mại theo đúng nghĩa của
nó, mà đối với một Công ty thương mại thì ngoài chất lượng sản phẩm ra thì đội ngũ
nhân viên nói chung và nhân viên bán hàng nói riêng góp một phần không nhỏ vào
kết quả hoạt động kinh doanh.
Đạt được thành tựu như ngày nay là nhờ nhân tố con người trong quá trình
quản lý, kinh doanh của Công ty cổ phần gỗ GAGO. Công tác đào tạo luôn giữ một
vai trò hết sức quan trọng và trở thành công tác thường xuyên được quan tâm đúng
mức.
- 1 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
Qua đợt thực tế tại Công ty cổ phần gỗ GAGO tôi thấy công tác đào tạo nhân
viên của Công ty luôn được chú trọng vì vậy mà đã thu được kết quả tốt. Nhưng bên
cạnh đó vẫn bộc lộ những tồn tại, hạn chế do đó làm thế nào để nâng cao hơn nữa
mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Nhu cầu đào tạo nhân viên trong các tổ chức
tăng nhanh cùng với sự phát triển của hợp tác và cạnh tranh quốc tế, của khoa học
công nghệ tiên tiến, của sự bùng nổ thông tin toàn cầu, và những áp lực về kinh tế –
xã hội. Vì vậy, ở các doanh nghiệp hàng đầu của Mỹ và Nhật Bản, các nhà quản trị
luôn quan tâm và chú trọng tới đào tạo nhân viên trong doanh nghiệp, coi đó là
nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản trị nhân sự. Đào tạo nhân viên không chỉ có ý
nghĩa to lớn đối với người lao động mà còn có vai trò to lớn đối với doanh nghiệp
cũng như toàn xã hội.
Đối với người lao động
- 3 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
Đào tạo nhân viên giúp cho người lao động trong doanh nghiệp thực việc
công việc tốt hơn. Đối với nhân viên mới, quá trình đào tạo lần đầu thông qua hội
nhập giúp cho họ giải quyết những khó khăn, bỡ ngỡ trong những ngày đầu làm
việc, cung cấp cho họ những thông tin cần thiết về công việc mà họ phải đảm nhận,
giúp họ mau chóng thích ứng với môi trường làm việc mới. Đối với nhân viên đang
làm việc tại doanh nghiệp quá trình đào tạo giúp họ phát triển hệ thống tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo, tạo tiền đề cho việc nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng lao
động, nhờ đó giúp người lao động tự tin hơn, làm chủ được các phương tiện khoa
học kỹ thuật tiên tiến trong quá trình đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp và do
vậy làm việc có hiệu quả hơn. Đối với nhà quản trị, đào tạo năng lực quản trị giúp
họ tiếp cận với những phương pháp quản lý hiện đại, kỹ năng quản trị tiên tiến, phù
hợp với những thay đổi về quy trình công nghệ và môi trường kinh doanh, từ đó
tránh được tình trạng lạc hậu và nâng cao chất lượng công tác quản trị doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp
Đào tạo nhân viên nhằm đến một lợi ích sâu xa đó là góp phần thực hiện mục
tiêu chung của doanh nghiệp. Nói cách khác, mục tiêu của đào tạo nhân viên là
nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
Đào tạo nhân viên tạo ra sự chủ động thích ứng với các biến động và nhu cầu
tương lai của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, trong doanh nghiệp luôn xảy
---- > Thông tin phản hồi
1. Xác định nhu cầu đào tạo nhân viên trong doanh nghiệp
- 5 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
Xác định nhu cầu đào tạo nhân viên là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa quan
trọng trong tiến trình đào tạo nhân viên của doanh nghiệp. Nếu việc xác định nhu
cầu đào tạo nhân viên không chính xác, đầy đủ có thể gây ra nhiều lãng phí trong
việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, hơn nữa, kết quả đào tạo nhân viên
có thể không đạt mục tiêu đề ra, làm giảm chất lượng công tác quản trị nhân lực
trong doanh nghiệp.
Nhu cầu đào tạo nhân viên thay đổi không chỉ đối với từng vị trí công tác
trong cơ cấu tổ chức mà còn đối với từng người trong doanh nghiệp, do vậy kiến
thức cơ bản, nhu cầu, bão hoà, nguyện vọng, sở thích, và tiềm năng của họ không
giống nhau. Do vậy, các nội dung, hình thức, phương pháp, thời gian đào tạo nhân
viên cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng.
2. Xây dựng kế hoạch đào tạo nhân viên trong doanh nghiệp
Một kế hoạch đào tạo nhân viên tổng thể cần phải xây dựng trong doanh
nghiệp thường bao gồm những nội dung sau:
- Các chính sách đào tạo nhân viên
- Các chương trình đào tạo nhân viên
- Ngân quỹ cho đào tạo nhân viên
- Các kế hoạch chi tiết về đào tạo nhân viên
- Mục tiêu đào tạo nhân viên
- Đối tượng được đào tạo
- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho đào tạo nhân viên
- Tính chất công việc của người lao động trong doanh nghiệp
3. Triển khai thực hiện đào tạo nhân viên trong doanh nghiệp
Trên nhu cầu đào tạo nhân viên đã được xác định, các hình thức, phương
pháp đào tạo nhân viên đã được lựa chọn, cần triển khai thực hiện theo đúng kế
- 6 -
Đánh giá kết quả đào tạo nhân viên có thể thông qua kết quả học tập của học
viên và tình hình thực hiện công việc của học viên sau đào tạo.
III. Nội dung và phương pháp đào tạo nhân viên trong doanh nghiệp
1. Nội dung đào tạo nhân viên trong doanh nghiệp
Đào tạo chuyên môn – kỹ thuật
Đào tạo chuyên môn – kỹ thuật cần được thực hiện thường xuyên, liên tục
trong suốt quá trình làm việc của người lao động ở doanh nghiệp, nhằm giúp cho
các cán bộ, nhân viên nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật để thực
hiện tốt nhất công việc hiện tại, cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới cho nhu cầu
phát triển tương lai. Ông Kim Woo Choong, người sáng lập tập đoàn Daewoo (Hàn
Quốc) cho rằng mỗi nhân viên trong doanh nghiệp phải đạt được trình độ chuyên
môn cao nhất trong mỗi lĩnh vực: “Ngày nay năng lực có được từ khả năng chuyên
môn. Uy tín và nổi tiếng bây giờ có được nhờ mình là người duy nhất có làm được
công việc nào đó”
Đào tạo chính trị và lý luận
Đào tạo chính trị và lý luận nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, nắm vững lý
luận, hoàn thiện nhân cách cho các thành viên trong doanh nghiệp, tạo ra con người
vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Đào tạo chính trị: Mỗi người lao động là một tế bào của doanh nghiệp, và
cũng là một tế bào của nền kinh tế – xã hội. Khi thực hiện công việc họ đều có các
mối quan hệ qua lại với nhau, gắn bó lợi ích với nhau. Vì vậy, con người cần phải có
thái độ đúng đắn trong công việc để không những làm lợi cho mình mà còn làm lợi
- 8 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
cho doanh nghiệp và xã hội. Mặt khác, cuộc sống và hoạt động kinh doanh luôn thay
đổi, đòi hỏi con người phải có bản lĩnh nhất định để thích ứng tồn tại và phát triển.
Điều này có được thông qua đào tạo chính trị cho người lao động. Người lao động
có quan điểm đương đầu trước những biến động môi trường xung quanh, có định
hướng đúng cho sự phát triển của cá nhân và cả cộng đồng.
Đào tạo lý luận: giúp cho người lao động hiểu bản chất sự vật, biết cách hành
Đào tạo phương pháp công tác
Để đạt được kết quả cao trong công việc, mỗi thành viên trong doanh nghiệp
phải có phương pháp làm việc khoa học, đó là cách thức làm việc tốn ít thời gian,
công sức mà thu được hiệu quả cao. F.Taylor cho rằng mỗi công việc đều có cách
hoàn thiện tốt nhất nhiệm vụ, mỗi thành viên của doanh nghiệp phải có phương
pháp công tác khoa học, đó là cách thức làm việc tốn ít thời gian, công sức mà thu
được hiệu quả cao. Nhiệm vụ của nhà quản trị là phải tìm ra phương pháp đó để
hướng dẫn cho nhân viên của mình dưới dạng những thủ tục, quy trình làm việc, các
phương pháp làm việc khoa học sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động.
2. Phương pháp đào tạo nhân viên trong doanh nghiệp
Kèm cặp (hay còn gọi là đào tạo tại chỗ) là phương pháp sử dụng những nhân
viên có tay nghề cao, có kinh nghiệm làm việc để kèm cặp nhân viên mới vào nghề.
Đào tạo nghề : là phương pháp kết hợp học lý thuyết với kèm cặp tại nơi làm
việc. Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong việc đào tạo các công nhân kỹ thuật
trong các doanh nghiệp sản xuất, người làm nghề thủ công.
Sử dụng dụng cụ mô phỏng: Để đào tạo nhân viên một cách thiết thực, người
ta xây dựng các mô hình giống như trong thực tế. Dụng cụ có thể đơn giản là các mô
- 10 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
hình giấy cho tới các dụng cụ được tin học hoá. Người giảng dạy thường chuẩn bị
mô hình các quầy bán hàng, các loại hàng hoá khác nhau, các thiết bị bán hàng, các
phương tiện vận chuyển, chất xếp hàng hoá…mô phỏng tình huống kinh doanh có
thật để học viên thực tập
IV. Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nhân viên trong
doanh nghiệp
1. Nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Ngân sách đào tạo:
Đào tạo nhân viên là hoạt động đòi hỏi những khoản chi phí nhất định như:
chi phí tiền lương giáo viên và những người cộng tác trong đào tạo, huấn luyện, chi
phí trang thiết bị học tập, trợ cấp cho người học… Vì vậy cần phải có ngân quỹ
tạo tại chỗ.
Nhà quản trị
Nhà quản trị là một yếu tố quyết định đến vấn đề đào tạo nhân viên trong
doanh nghiệp. Doanh nghiệp quan tâm đến công tác đào tạo hay không, có theo sát
và nắm bắt được kịp thời nhu cầu đào tạo của nhân viên và của sự biến động thị
trường hay không phụ thuộc rất nhiều vào nhà quản trị, nhân viên có gắn bó với
doanh nghiệp hay không một phần cũng do nhà quản trị có được những đãi ngộ tốt
dành cho nhân viên hay không (đãi ngộ về lương, thưởng, chế độ, đào tạo…)
Chiến lược kinh doanh, chiến lược nhân sự của doanh nghiệp
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp cho biết mục tiêu của doanh nghiệp
trong từng giai đoạn phát triển. Những mục tiêu này đặt ra các yêu cầu khác nhau về
trình độ, năng lực chuyên môn… đối với tất cả các thành viên trong doanh nghiệp
- 12 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
để thích ứng với sự thay đổi của tổ chức, nhằm thực hiện tốt nhất mục tiêu đã đề ra.
Mục tiêu của đào tạo là là nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
Kế hoạch nhân sự của doanh nghiệp ở mỗi thời kỳ, doanh nghiệp thường quy
hoạch nhân sự để thực hiện các chiến lược kinh doanh. Kế hoạch nhân sự cho biết
sự thay đổi trong cơ cấu tổ chức như: số lượng lao động cần tuyển dụng mới, tỷ lệ
thuyên chuyển công tác, số lao động về hưu, vắng mặt dài hạn, chuẩn bị đội ngũ kế
cận… Kế hoạch nhân sự giúp nhà quản trị nhân sự nắm bắt được tình hình lao động
một cách chi tiết về số lượng cũng như chất lượng lao động hiện tại, từ đó có thể
lượng hoá được nhu cầu về số lượng cũng như chất lượng lao động, cơ cấu ngành
nghề và trình độ chuyên môn sẽ biến động trong tương lai để xác định nhu cầu đào
tạo nhân viên sát với thực tế.
Điều kiện tổ chức công tác đào tạo:
Yếu tố này là một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến phương pháp đào tạo
nhân viên trong doanh nghiệp. Đây là điều kiện cần thiết để phục vụ cho công tác
đào tạo nhân viên. Mỗi phương pháp đào tạo đòi hỏi các phương tiện hỗ trợ phù
hợp, nên nếu thiếu chúng thì công việc giảng dạy khó có thể đạt được mục đích đề
Khả năng công việc, điều kiện đi học
Chất lượng đào tạo nhân viên có tốt hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào
khả năng trong công việc cũng nhu điều kiện đi học của nhân viên. Nhiều người rất
có khả năng nhưng doanh nghiệp không có điều kiện cho nhân viên đi học, tự tổ
chức đào tạo cho nhân viên học tại doanh nghiệp, kinh nghiêm tổ chức chưa có,
giảng viên chưa có nhiều kinh nghiệm cũng sẽ dẫn đến chất lượng công tác đào tạo
kém.
Mong muốn, nguyện vọng sau khi học xong
- 14 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
Trong doanh nghiệp nhu cầu đào tạo của mỗi người là khác nhau, điều đó tuỳ
thuộc vào phẩm chất, năng lực, ý chí phấn đấu vươn lên và cả điều kiện cá nhân của
họ khi làm việc tại doanh nghiệp. Nhu cầu thay đổi không chỉ đối với từng vị trí ở
cấp quản trị hay trong cơ cấu tổ chức mà còn đối với từng người. Do đó để xác định
chính xác nhu cầu đào tạo từ đó triển khai thực hiện quá trình đào tạo nhân viên có
hiệu quả, cần phải quan tâm đến nhu cầu đào tạo, nguyện vọng của người lao đ
3. Nhân tố thuộc về đặc thù công việc
Tính chất công việc của người lao động trong doanh nghiệp.
Căn cứ vào tính chất công việc của người lao động trong doanh nghiệp, nhà
quản trị có thể lựa chọn các hình thức và phương pháp đào tạo phù hợp
Tiêu chuẩn thực hiện công việc
Mỗi công việc đòi hỏi kỹ năng và các hành vi cần thiết để thực hiện tốt công
việc, đòi hỏi các năng lực, phẩm chất cần có của người lao động trong quá trình thực
hiện công việc. Vì vậy, tiêu chuẩn thực hiện công việc đặt ra nội dung cần phải đào
tạo đối với người lao động. Thông thường các doanh nghiệp thường dựa vào tiêu
chuẩn thực hiện công việc để xác định nhu cầu đào tạo nhân viên mới hoặc đào tạo
nhân viên mới thực hiện công việc lần đầu.
Chất lượng công tác đào tạo nhân viên trong doanh nghiệp còn phụ thuộc rất
nhiều vào đặc thù công việc, ngành hàng kinh doanh của doanh nghiệp. Có nhiều
công việc nếu không qua đào tạo thì nhân viên không thể làm được. Ví dụ như đối
Qua quá trình phát triển và trưởng thành GAGO.,JSC Đã có những thành tựu
đáng kể trên thị trường sàn gỗ. Là một nhà tiên phong trong lĩnh vực sàn gỗ công
nghiệp tại Việt Nam. Công ty cổ phần gỗ GAGO đã khẳng định được vị trí của mình
trên thương trường đó là 3 năm liền đạt danh hiệu “Hàng Việt Nam chất lượng cao”
do người tiêu dùng bình chọn (2004, 2005,2006), huy chương vàng hội chợ “Xuất
nhập khẩu và tiêu dùng”…
Sản phẩm chính của GAGO.,JSC là ván lát sàn công nghiệp, được sử dụng
cho nhiều mục đích khác nhau: lát sàn nhà ở, showroom, khách sạn, nhà hàng, công
trình công cộng, sàn thi đấu thể thao, phòng tập luyện đa năng…
- 17 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
2. Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của Công ty cổ phần gỗ GAGO
Loại hình doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh:
Công ty cổ phần gỗ GAGO là một công ty cổ phần, Công ty có quyền phát
hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật. Công ty có tư cách
pháp nhân và là doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn, cổ đông của Công ty chỉ
chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ về tài sản của Công ty trong phạm vi vốn
góp.
Công ty cổ phần gỗ GAGO là một công ty kinh doanh vật liệu xây dựng mà
sản phẩm chính của Công ty là ván lát sàn công nghiệp, được sử dụng cho nhiều
mục đích khác nhau: lát sàn nhà ở, showroom, khách sạn, nhà hàng, công trình công
cộng, sàn thi đấu thể thao, phòng tập luyện đa năng…
Mục tiêu và nhiệm vụ kinh doanh của Công ty cổ phần gỗ GAGO
- Nâng cao uy tín đối với khách hàng, khẳng định được hình ảnh và vị thế của
Công ty trên thương trường
- Cung cấp cho khách hàng sản phẩm một cách tốt nhất, đúng thời gian, địa
điểm, phương thức thanh toán thuận tiện, dịch vụ chu đáo
- Tăng cường nâng cấp kho bãi, phương tiện vận chuyển để tăng sức cạnh tranh
và mở rộng thị trường.
- Xác định rõ thị trường mục tiêu, nghiên cứu và mở rộng thị trường.
CỬA HÀNG BÁN LẺ
CỬA HÀNG BÁN LẺ
Bộ máy quản lý
Bộ máy quản lý của Công ty được bố trí thống nhất từ trên xuống đảm bảo
tính hợp lý và hiệu quả cao.
- 19 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
- Giám đốc quyết định những vấn đề quan trọng của Công ty, điều hành hoạt
động của Công ty
- Phó giám đốc giúp đỡ giám đốc giải quyết những vấn đề của Công ty, tham
gia bàn bạc, tham mưu, đề xướng những đường lối chính sách trong Công ty,
ký kết những văn bản hợp đồng thuộc thẩm quyền
- Phòng kinh doanh: chỉ đạo đôn đốc việc kinh doanh, lập kế hoạch, tìm kiếm
thị trường, đối tác, nghiên cứu mở rộng thị trường, tìm đầu mối khách hàng.
Đưa ra các chiến lược kinh doanh, chỉ đạo đôn đốc việc kinh doanh, trực tiếp
điều hành hoạt động phân phối, bán hàng ở các đại lý của Công ty, tổ chức
các hoạt động Marketing của Công ty.
- Phòng kế toán – tài vụ: có nhiệm vụ hạch toán các khoản thu chi, xác định các
khoản thanh toán, khoản nợ, chi trả lương cho nhân viên, huy động các nguồn
vốn cho kinh doanh.
Nhìn tổng thể cơ cấu tổ chức của Công ty ta thấy : Ban giám đốc chỉ đạo trực
tiếp tới các phòng ban, phòng kinh doanh, phòng kế toán – tài vụ. Phòng kinh doanh
tổ chức mạng lưới phân phối sản phẩm trên thị trường và thu thập thông tin phản
hồi
Các phòng ban này phải tổ chức thực hiện các kế hoạch, các hoạt động mà
cấp trên giao cho và phản hồi báo cáo kết quả hoạt động của mình lên cấp trên để
cấp trên có những phương hướng chỉ đạo làm sao cho hiệu quả kinh doanh của
Công ty là cao nhất
4. Sơ bộ ngành nghề kinh doanh
- Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất và buôn bán vật liệu xây dựng (Doanh
Công ty cổ phần gỗ GAGO là nhà phân phối độc quyền sản phẩm sàn gỗ công
nghiệp của tập đoàn Dongwha nên phụ thuộc nhiều vào nhà sản xuất về nguồn cung
cấp, những ràng buộc trong những thoải thuận và hình ảnh của tập đoàn này.
Yếu tố chính trị – luật pháp:
Nước ta có một thể chế chính trị – luật pháp vững vàng, ổn định về an ninh
trật tự, điều đó tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp.
Nhà nước có những chính sách ưu đãi trong việc vay vốn ngân hàng và có
những chính sách phát triển hệ thống tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho việc
thanh toán, chính sách pháp luật ổn định, thông thoáng tạo môi trường kinh doanh
lành mạnh cho các doanh nghiệp
Bên cạnh đó Công ty còn gặp phải những khó khăn như việc hàng ngoại nhập
và hàng không rõ nguồn gốc xuất hiện rất nhiều khiến việc kiểm soát hàng giả, hàng
kém chất lượng còn yếu, điều đó làm thiệt hại cho người tiêu dùng, làm giảm uy tín
của Công ty.
Yếu tố văn hoá - xã hội
Con người Việt Nam từ xưa đến nay luôn gần gũi với thiên nhiên, luôn có xu
hướng mang thiên nhiên đến gần mình hơn. Trong các ngôi nhà từ xưa đến nay, nếu
có không gian rộng thì trong nhà mọi người sẽ trồng cây, trồng hoa, nếu không gian
hẹp, nhà chật thì chúng ta trang trí vài lọ hoa sẽ khiến cho ngôi nhà trông sinh động
hơn, mát mẻ hơn.
Trước đây các gia đình giàu có thường làm nhà ngói 5 gian với các trụ chống
bằng gỗ, cột kèo đều bằng các loại gỗ quý để lâu năm. Đến bây giờ xu hướng mang
thiên nhiên vào gia đình không hề suy giảm, những gia đình giàu có, có điều kiện thì
lát trần, lát nền bằng các loại gỗ tự nhiên, các loại gỗ này thì giá thành cao, chi phí
lắp đặt cũng cao. Từ sau khi có gỗ ván sàn công nghiệp thì nhiều người có thể lắp
đặt hơn. Giá thành sàn gỗ công nghiệp thấp chỉ bằng 1/2 sàn gỗ tự nhiên mà độ cong
vênh lại không có như gỗ tự nhiên. Sàn gỗ công nghiệp có ưu điểm là không cong
- 22 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
vênh, không thấm hút nước, độ bóng cao và có các vân gỗ như gỗ tự nhiên. Với
Nhà cung cấp:
Công ty cổ phần gỗ GAGO là nhà phân phối độc quyền sản phẩm sàn gỗ công
nghiệp của tập đoàn Dongwha – một tập đoàn với trên 60 năm kinh nghiệm sản xuất
sản phẩm từ gỗ công nghiệp và là một trong những nhà sản xuất sàn gỗ công nghiệp
hàng đầu thế giới
Tuy nhiên Công ty cũng phụ thuộc rất nhiều vào nhà cung cấp về chất lượng
sản phẩm, thời gian giao hàng. Nếu chất lượng tốt thì sản phẩm dễ tiêu thụ và ngược
lại chất lượng sản phẩm kém thì việc tiêu thụ sản phẩm trở nên khó khăn hơn.
Đối thủ cạnh tranh:
Tại thị trường Hà Nội hiện nay, gỗ ván sàn được bán tập trung khá nhiều ở
các phố bán vật liệu xây dựng tại Hà Nội như Cát Linh, Trường Chinh…, tại TP Hồ
Chí Minh như Tô Hiến Thành…Theo liệt kê thì trên thị trường hiện nay có khoảng
15 công ty nhập khẩu và phân phối khoảng 20 thương hiệu sàn gỗ công nghiệp khác
nhau như Classen, Witex, Kronotex (CHLB Đức), Pergo (Thuỵ Điển, Malaysia),
Alsapan (Pháp), Lassi (Trung Quốc), GAGO (Hàn Quốc), Unifloors, , Classen,
EPI, , Kronoswiss, Kronospan, , Picenza, Hornitex, Robina, Lamy, Bante, Kandle,
Eurohome, Gesus, Universal…
Nhìn chung, các loại sàn gỗ công nghiệp đều có xuất xứ từ Đức, Pháp, Ý,
Thuỵ Điển, Malaysia, Hàn Quốc, Trung Quốc. Xuất xứ của sản phẩm không ảnh
hưởng nhiều đến chất lượng của sản phẩm, thậm chí nhiều loại sản phẩm có xuất xứ
từ nước thứ 3 (Malaysia, Trung Quốc) lại có khả năng thích ứng với điều kiện khí
hậu Việt Nam hơn các sản phẩm có xuất xứ từ Châu Âu do đã được nhiệt đới hoá
cho phù hợp với điều kiện khí hậu Châu Á. Nhưng điều quan trọng là chất lượng
thực của sản phẩm và thương hiệu của sản phẩm. Những sản phẩm của những hãng
có uy tín luôn có chất lượng ổn định cho dù xuất xứ là Châu Âu hay nước thứ ba.
- 24 -
Nguyễn Thu Hiền Lớp K36 – DQ2
Bên cạnh đó, nhiều công ty nhập hàng chất lượng kém từ Malaysia hoặc Trung
Quốc về bán lẫn với hàng có thương hiệu và chất lượng tốt để thu lợi nhuận cao. Đối
với loại hàng này, các công ty hoặc đại lý thường chất nhận giá nhiều nhưng họ