Đồ án tốt nghiệp
Trang 1
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn
với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự
tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Du lịch sinh thái là loại hình khai thác
tìm hiểu đa hệ sinh thái tự nhiên gồm: Đa hệ sinh thái động vật, thực vật, hệ sinh thái
nhân văn của núi, của rừng, của hồ
Ở Việt Nam có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và nhiều rừng
cấm, đó là những di sản thiên nhiên của quốc gia, chứa đầy tiềm năng cho phát triển du
lịch sinh thái như Vịnh Hạ Long, hồ Ba Bể, động Phong Nha, vườn quốc gia Cát Tiên,
vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, khu du lịch Hồ Núi
Cốc… đặc biệt là đã có tới 8 khu dự trữ sinh quyển Việt Nam được UNESCO công
nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới nằm ở khắp ba miền. Nhưng việc quản lý và cải
tạo các khu du lịch sinh thái ở nước ta vẫn chưa mang lại hiệu quả cao như mong
muốn.
Để có thể phát huy được tiềm năng du lịch sinh thái và đưa loại hình du lịch này
phát triển mạnh mẽ thì việc chúng ta cần quan tâm hơn về chất lượng của loại hình du
lịch này và những tác động của nó đến môi trường là vấn đề đang được nhà nước và
các ban ngành rất quan tâm. Vì cho đến hiện nay vấn đề quy hoạch du lịch sinh thái để
mang lại hiệu quả cao mà không tác động nhiều đến hệ sinh thái tự nhiên vẫn chưa có
được sự quan tâm đúng mực của xã hội.
Tỉnh Phú Yên là một nơi có nhiều điểm du lịch hấp dẫn.Tuy nhiên còn chưa
được phát hiện và khai thác hết tiềm năng. Đã bỏ lỡ nhiều cơ hội, có nhiều dự án đến,
và cuối cùng không được đầu tư. Đây là vấn đề nan giải mà tỉnh phải tìm cho ra và
Đồ án tốt nghiệp
Trang 2
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Phát triển du lịch đồng thời đạt hiệu quả trên nhiều mặt: kinh tế, văn hóa,
chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, vệ sinh
môi trường.
Quy hoạch du lịch đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách để đảm
bảo đầu tư, xây dựng có hiệu quả, chú trọng đến đầu tư chiều sâu, nâng cao chất
lượng dịch vụ.
Sử dụng nguồn lực một cách bền vững: bảo tồn và sử dụng bền vững
nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, xã hội, nó sẽ giúp cho việc kinh doanh du
lịch phát triển lâu dài.
Duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa, xã hội là hết
sức quan trọng cho du lịch bền vững và cũng là chổ dựa sinh tồn của ngành du lịch.
Lồng ghép vấn đề du lịch bền vững vào thực tiễn.
Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí
tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng du
lịch.
Phát triển DLST đảm bảo phát triển cân bằng ba mục tiêu: mục tiêu về
kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu bảo vệ tài nguyên và môi trường.
Phương pháp cụ thể:
Phương pháp thu nhập và xử lý số liệu
Tiến hành thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn để đảm bảo khối lượng
thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho việc nghiên cứu.
Thống kê số liệu thực tế để phục vụ cho việc quản lý và tính thực thi của dự án.
Đồ án tốt nghiệp
Trang 4
Tổng hợp điều kiện tự nhiên, đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái, nghiên cứu
phân vùng địa lý và đề xuất định hướng quy hoạch DLST.
về tự nhiên và sự phân hóa môi trường tự nhiên trong không gian dùng để
vạch tuyến, cụm, điểm của du lịch sinh thái ở những vị trí địa lý khác nhau.
Kết quả đạt được của đề tài
Hiểu rõ được hiện trạng phát triển du lịch và thực trạng của các dự án đầu tư du
lịch của tỉnh Phú Yên.
Đưa ra các định hướng, giải pháp xây dựng các tuyến điểm du lịch nhằm phát
triển hoạt động du lịch sinh thái cho tỉnh Phú Yên.
Hoàn thành đồ án tốt nghiệp với đề tài : “ Xây dựng các tuyến điểm du lịch
nhằm phát triển hoạt động du lịch sinh thái cho tỉnh Phú Yên”
Kết cấu của đồ án tốt nghiệp
Luận văn Tốt nghiệp được chia thành 4 chương với nội dung chính như sau:
Chương 1: Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa tỉnh Phú Yên
Chương 2: Cơ sở khoa học nghiên cứu quy hoạch du lịch sinh thái
Chương 3: Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
Chương 4: Xây dựng các tuyến điểm du lịch tỉnh Phú Yên
Chương 5 : Một số giải pháp và định hướng phát triển du lịch cho tỉnh Phú Yên
Đồ án tốt nghiệp
Trang 6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA
TỈNH PHÚ YÊN
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Phú Yên là tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý 12
o
42
’
36
thành phố Hồ Chí Minh 561km về phía nam theo tuyến quốc lộ 1A.
Đồ án tốt nghiệp
Trang 7 Hình 1.1. Bản đồ các huyện, thành phố, thị xã của tỉnh Phú Yên
1.1.2. Địa hình
- Địa hình Phú Yên đa dạng và phân cách mạnh, từ Tây sang Đông có thể gặp
các dạng chủ yếu như:
- Địa hình núi cao tạo thành vòng cung Đèo Cả, sườn Cao Nguyên Gia Lai –
Đắc Lắc và đèo Cù Mông. Độ cao trung bình giữa các núi là 1500m – 1600m. Địa hình
trung du phân bố chủ yếu dọc quốc lộ 1 và rải rác dọc bờ biển với độ cao trung bình
150m - 300m, địa hình trung du thường bị phân cách mạnh, nhưng đôi chỗ còn sót các
bề mặt cao nguyên bazan cổ như Sơn Hòa, Sơn Thành, Sông Hinh. Trên các cao
nguyên đất đỏ này còn sót nhiều nón núi lửa.
Đồ án tốt nghiệp
Trang 8
- Địa hình đồng bằng ven biển phân bố ở vùng cửa sông Đà Rằng, sông Bàn
Thạch, sông Kỳ Lộ và sông Cái. Đây là các dải đồng bằng hẹp tổng diện tích chừng
6.000ha có nguồn gốc sông – biển hỗn hợp.
- Tiếp giáp với đồng bằng là những gò đồi, những cồn cát, đụn cát ở ven biển.
Giữa hai vùng này có những đầm phá, những vùng đất trũng. Bờ biển dài khúc khuỷu,
có nhiều dải núi chạy sát ra biển, tạo thành các eo vịnh, đầm phá. Dọc bờ biển có các
cửa sông, lạch như các cửa: đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, Tiên Châu (cửa sông Kỳ
Lộ), Tân Quy (đầm Ô Loan), Đà Diễn (cửa sông Đà Rằng), Đà Nông (cửa sông Bàn
Thạch) và cửa vịnh Vũng Rô. Hai vịnh Vũng Rô và Xuân Đài là vùng nước rộng, sâu
và kín gió, thích hợp cho các loại tàu, thuyền lớn hơn 1000 tấn neo đậu, trú ẩn khi có
o
C, thấp nhất vào tháng 1(22 –
23)
o
C, lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.600 - 1.700mm.
Độ ẩm tương đối của không khí trung bình năm khoảng 80 – 82% ở vùng đồng
bằng ven biển 83 – 85% ở vùng đồi núi thấp và trên 85% ở vùng núi cao. Các tháng
mùa mưa đều có độ ẩm tương đối cao, đạt tới 80 – 90%, còn độ ẩm không khí trong
các tháng mùa khô tương đối thấp, nhất là vào các tháng 6, tháng 8.
Tốc độ gió trung bình năm khoảng 2 – 2,5 m/s ở vùng đồng bằng ven biển, 1,5 –
2 m/s ở vùng đồi núi. Tốc độ gió trung bình tháng cao nhất vào các tháng có gió Tây
khô nóng (tháng 6, tháng 8), riêng ở trạm Tuy Hòa do chịu ảnh hưởng của bão và áp
thấp nhiệt đới nên tốc độ gió trung bình tháng 11 và tháng 12 đạt tới 3,1 m/s. Tốc độ
gió trung bình tháng thấp nhất khoảng 1 m/s vào tháng 10 ở trạm Sơn Hòa và 1,7 m/s
vào tháng 9, tháng 10 tại trạm Tuy Hòa.
Hướng gió thịnh hành là hướng Tây Bắc vào các tháng 1,2,3 và tháng 11, 12,
hướng gió Đông Bắc vào các tháng 4, 6 và hướng Tây vào các tháng 7, 9.
Chế độ lũ ở Phú Yên khá đặc biệt. Đặc điểm thủy văn mùa lũ sinh ra do mưa
bao trùm lên một diện rộng. Trừ mùa lũ chính (từ tháng 9 đến tháng 12) còn có lũ sớm
(vào tháng 8), lũ muộn (vào tháng 1), lũ tiểu mãn (vào tháng 5, 6, 7), có khi xuất hiện
dị thường vào các tháng không có lũ. Lũ lớn thường xuất hiện vào tháng 10 và tháng
11, trong đó nhiều nhất là tháng 11. Do địa hình lưu vực dốc lớn, cường độ mưa rào
cao, nên tốc độ tập trung nước nhanh, làm cho mực nước trên các triền sông trong thời
gian mùa lũ lên xuống đột ngột, lũ thường có đỉnh nhọn. Như trận lũ lịch sử xuất hiện
vào tháng 10/1993 và 11/2009 gây thiệt hại rất lớn về người và của.
1.1.4. Sông suối
Phú Yên là tỉnh khá giàu về nước mặt do có hệ thống sông, suối rất phát triển và
phân bố khá đều trong phạm vi toàn tỉnh. Sông ở Phú Yên đều phát nguồn từ dãy núi
Trường Sơn ở phía Tây, Cù Mông ở phía Bắc và Đèo Cả ở phía Nam. Hướng chính
Đồ án tốt nghiệp
nước khoáng nóng ở Phú Yên đều có độ khoáng hóa thấp từ 0,3-0,7g/l, hàm lượng
HCO
3
, chiếm ưu thế. Riêng nguồn nước Phú Sen có hàm lượng Flo tương đối cao, hàm
lượng HCO
3
-
và Na
+
đều cao hơn hàm lượng các nguyên tố khác, hàm lượng các chất
độc hại không lớn. Một số nguồn nước như Phú Sen, Trà Ô, Sơn Thành có hàm lượng
Silic hơi cao, dao động từ 71,4-102,2 mg/l. Hầu hết các nguồn nước khoáng nóng trong
Đồ án tốt nghiệp
Trang 11
tỉnh đều có hàm lượng Flo khá cao, dao động từ 3,5-16,3 mg/l. Do đó cần chú ý xử lý
khi sử dụng vào mục đích giải khát và ăn uống. Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên trong
lòng đất như Diatomit (90 triệu m
3
), đá hoa cương nhiều màu (54 triệu m
3
), vàng sa
khoáng (300 nghìn tấn) (số liệu năm 2006 theo Cẩm nang xúc tiến thương mại du lịch
Phú Yên).
1.2. Đặc điểm kinh tế
1.2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phú Yên là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ - Việt Nam, nằm giữa đèo Cù
Mông và đèo Cả. Đây là vùng đất có truyền thống cách mạng vẻ vang, với bề dày lịch
sử và nền văn hóa đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Phú Yên có vị trí địa lý
2009. Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong từng ngành, lĩnh vực đang
có sự chuyển dịch theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế mà Phú Yên đạt được trong năm 2011
Chỉ tiêu
Kết quả (2011, ước tính)
Tốc độ tăng trưởng kinh tế chung (GDP):
tăng 13,1%
Ngành công nghiệp, xây dựng:
tăng 15,6%
Ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp:
tăng 7,2%
Ngành dịch vụ:
tăng 13,9%
GDP bình quân đầu người/năm:
952 USD
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn cả
năm:
7.695 tỷ đồng
Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh:
1.460 tỷ đồng
Đồ án tốt nghiệp
Trang 13
Chỉ tiêu
Kết quả (2011, ước tính)
Tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa
bàn tỉnh:
nghiệp Hòa Hiệp. Đồng thời xây dựng mới một số nhà máy cấp nước cho các thị trấn
huyện lỵ với công suất khoảng 13.000 m
3
/ngđ.
Hệ thống thủy nông Đồng Cam có đập dâng đầu mối bắc ngang sông Ba dài
680m, là một trong những hệ thống thủy lợi tự chảy lớn nhất miền Trung với chiều dài
2 tuyến kênh chính Nam và Bắc cùng hệ thống kênh cấp 1, 2 lên tới 250 km. Ngoài ra,
còn có hàng nghìn km kênh mương nội đồng lấy nước tưới cho hơn 19.000 ha lúa 2 vụ
tập trung của đồng bằng Tuy Hòa.
Hệ thống thông tin liên lạc: Phú Yên có mạng lưới viễn thông khá tốt. Bưu điện
trung tâm Tỉnh, huyện, xã được trang bị : Vi ba, cáp quang…đảm bảo liên lạc thông
suốt.
Hệ thống Internet qua đường truyền ADST cũng là một kênh liên lạc quan trọng
hiện nay đối với sự phát triển của toàn tỉnh.
1.2.4. Du lịch
Du lịch là một trong những ngành ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong quá
trình đi lên của Phú Yên. Mặc dầu có xuất phát điểm thấp, nhưng đến nay du lịch Phú
Yên đã vươn lên trở thành một trong những mũi nhọn kinh tế của tỉnh.
Phú Yên được ban tặng cho một hệ thống cảnh quan thiên nhiên khá đa
dạng, đầy đủ với núi, cao nguyên, đồng bằng châu thổ, sông, hồ, đầm, vịnh, hải
đảo….Nét đặc trưng nổi bật của phong cảnh tự nhiên nơi đây rất nên thơ, hung vĩ
và độc đáo…Một số danh thắng tiêu biểu có thể kể ra: Gành Đá Dĩa, Đầm Ô
Loan, núi Đá Bia, vịnh Xuân Đài, bãi Môn – mũi Điện, di tích lịch sử cấp quốc
gia như vũng Rô, núi Nhạn – sông Đà v.v
Cơ sở hạ tầng du lịch của Phú Yên gần đây được đầu tư mạnh. Hàng loạt
khách sạn, nhà nghỉ, resort, khu giải trí – sinh thái đạt tiêu chuẩn cao xây dựng
Đồ án tốt nghiệp
Trang 15
, chiều dài bờ biển 189km.
Đồ án tốt nghiệp
Trang 16
Dân số Phú Yên là 868.514 người ( năm 2010 - Theo cổng thông tin điện tử Ủy
Ban Nhân Dân tỉnh Phú Yên ) trong đó thành thị 20%, nông thôn 80%, lực lượng lao
động chiếm 71,5% dân số.
Phú Yên có gần 30 dân tộc sống chung với nhau. Chăm, Êđê , Ba Na, Hrê, Hoa,
Mnông, Raglai là những tộc người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên.
Sau ngày miền Nam được giải phóng, sau khi thành lập huyện Sông Hinh (
1986 ) có những dân tộc từ miền núi phía Bắc di cư vào vùng đất Sông Hinh như Tày,
Nùng, Dao, Sán Dìu,…
1.3.2. Giáo dục
Phú Yên có hệ thống trường đại học ( Phú Yên, Xây dựng số 3 ) đào tạo 300
sinh viên, Cao đẳng ( Công Nghiệp ) mỗi năm đào tạo khoảng 1.200 học viên, một chi
nhánh học viện ngành tài chính ngân hàng đào tạo trên 300 học viên và các trường và
trung tâm đào tạo nghề ( mỗi năm đào tạo khoảng 1.400 kỹ thuật viên và trên 800 công
nhân có tay nghề cao – từ bậc 3/7 trở lên ).
1.3.3. Văn hóa xã hội
Dân Phú Yên thường được gọi là dân xứ “ nẫu”, đó là tiếng nói đặc trưng của
họ, tiếng nẫu ( nẫu = người ta ).
Dân Phú Yên còn có thể loại hát chòi, đó là một thể loại hát dân gian từng rất
phổ biến ở Phú Yên.
Phú Yên cũng chính là nơi đã phát hiện ra nhiều di sản văn hóa, như bộ trường
ca quý giá của các dân tộc thiểu số, bộ đàn đá Tuy An có độ chuẩn về cung bậc thuộc
loại chính xác nhất và những chiếc kèn đá có một không hai.
Du lịch sinh thái còn được biết đến bởi nhiều tên gọi khác nhau:
Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism)
Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature_ Based Tourism)
Đồ án tốt nghiệp
Trang 18
Du lịch môi trường (Environmental Tourism)
Du lịch đặc thù (Particular Tourism)
Du lịch xanh (Green Tourism)
Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism)
Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism)
Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism)
Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism)
Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
Du lịch bền vững (Sustainable Tourism)
Du lịch sinh thái bắt nguồn từ thiên nhiên và du lịch ngoài trời. Có người quan
niệm du lịch sinh thái là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu
cực đến sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động du lịch, cũng
có ý kiến cho rằng du lịch sinh thái đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có trách
nhiệm, du lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững.
Ở Việt Nam, trong lần hội thảo về "Xây dựng chiến lược phát triển sinh thái ở
Việt Nam" từ ngày 7 đến ngày 9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái là
"Loại hình du lịch thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có
đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng
đồng địa phương".
Là loại hình du lịch vừa dựa vào những hình thức du lịch truyền thống sẵn có,
nhưng có sự hòa nhập vào môi trường tự nhiên và nền văn hóa bản địa; du khách có
thêm những nhận thức về đặc điểm của môi trường tự nhiên, về những nét đặc thù vốn
có của nền văn hóa của điểm, vùng, khu du lịch và có phần trách nhiệm tự giác để
khám phá trong các khu vực này (Cebllos_Lascurain,1987).
Du lịch sinh thái là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến
đổi. Nó phải đóng góp vào bảo tồn tự nhiên và phúc lợi của dân địa phương
(L.Hens, 1998).
Du lịch sinh thái là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về
lịch sử văn hoá và lịch sử tự nhiên, tự nhiên của môi trường, không làm biến
đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội đối với phát triển kinh
tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng
địa phương (Hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kỳ,1998).
Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và định
hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững
và có lợi cho sinh thái (Hiệp hội du lịch sinh thái Autraylia).
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản
địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho bảo tồn và phát triển bền
vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương (Định nghĩa về du
lịch sinh thái ở Việt Nam).
Cho đến nay, khái niệm du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ
khác nhau, với những tên gọi khác nhau. Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang tiến
diễn nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về du lịch sinh thái nhưng đa số các ý
kiến của các chuyên gia hàng đầu về du lịch sinh thái đều cho rằng du lịch sinh thái là
loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi
dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái. Du khách sẽ được hướng dẫn
tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận
được giá trị thiên nhiên và văn hoá mà không gây ra những tác động không thể chấp
nhận đối với các hệ sinh thái và văn hoá bản địa. Du lịch sinh thái nói theo một định
nghĩa nào đi chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần:
Đồ án tốt nghiệp
Trang 21
Từ đó, ta có thể thấy có các loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam như sau:
Dã ngoại : là hình thức du lịch đưa con người đến với thiên nhiên, sản
phẩm du lịch chủ yếu là tham quan thắng cảnh, hiện khá phổ biến ở Việt
Nam. Leo núi : là loại hình du lịch chinh phục các đỉnh cao Phansipan,
Bidoup, Bạch Mã, … Ngoài ra có thể là các tour du lịch hành hương lễ hội
đến các điểm di tích lịch sử văn hoá ở các khu bảo tồn thiên nhiên như: chùa
Hương, Yên Tử …
Đi bộ trong rừng : là hình thức du lịch sinh thái được ưa chuộng ở nhiều
nước trên thế giới và ở Việt Nam, đi bộ trong rừng là hình thức du lịch kết
hợp tham quan các cảnh quan tự nhiên ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên đang phát triển.
Tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia, khu bảo
tồn thiên nhiên : là hình thức du lịch sinh thái phổ biến thu hút sự quan tâm
đặc biệt của khách du lịch đến từ những thị trường khác nhau. Tuy nhiên, ở
Việt Nam hiện nay hình thức này còn chưa phát triển.
Tham quan miệt vườn : là hình thức du lịch sinh thái với sản phẩm chủ
yếu là tham quan nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt ở các miệt
vườn đồng bằng sông Cửu Long. Hình thức này mặc dù mới phát triển trong
thời gian gần đây, song đã thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
Quan sát chim : các sân chim ở Việt Nam, đặc biệt là đồng bằng sông
Cửu Long có số lượng chim lớn, thành phần loài phong phú với nhiều loài
đặc hữu, quý hiếm cần được bảo vệ, là nơi thu hút nhiều nhà khoa học và du
khách tới nghiên cứu tham quan. Hình thức du lịch quan sát chim ở các sân
chim, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên chỉ mới phát triển, chưa
phổ biến nhiều ở Việt Nam.
Thăm bản làng dân tộc : việc thăm các bản làng dân tộc trong các vườn
quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên thường được kết hợp tổ chức trong các
Đồ án tốt nghiệp
Trang 23
Tài nguyên du lịch là toàn bộ các giá trị tự nhiên và nhân văn được sử dụng cho
mục đích phát triển du lịch.
Là đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta mà
nó có khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch gọi là tài nguyên du lịch tự
nhiên.
Là các đối tượng và hiện tượng được con người tạo ra trong quá trình sinh sống
và làm việc của mình được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn, không phụ thuộc vào
các điều kiện tự nhiên khác.
Tài nguyên du lịch còn được hiểu cụ thể hơn là cảnh quan thiên nhiên, di tích
lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người
có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các
điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch.
( Nguồn: Tổng Quan Du Lịch, TS.Trần Văn Thông, NXB Giáo Dục, 2001)
2.1.3. Hoạt động du lịch sinh thái
Hoạt động du lịch sinh thái là dạng hoạt động khai thác các tiềm năng du lịch (
tự nhiên và nhân văn ) trong lãnh vực môi tường sinh thái, đối tượng của du lịch sinh
thái là các hệ thống môi trường ở các vùng khác nhau. Mỗi vùng có một đặc thù sinh
thái và cân bằng sinh thái riêng cùng với sự phong phú đa dạng thực vật, cảnh vật, cây
cỏ sông ngòi, ao hồ, rừng. Khách du lịch là những người thích thưởng thức sinh thái.
2.1.4. Phát triển du lịch sinh thái bền vững
DLSTBV đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững. Phát triển DLST làm
giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa
phương được hưởng nguồn lợi do du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng
góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên. Phát triển DLST bền vững cần có sự cân
bằng giữa các mục tiêu Kinh Tế - Xã Hội và Môi trường trong khuôn khổ các nguyên
tắc và giá trị đạo đức.
Đồ án tốt nghiệp
Trang 25