xây dựng các tuyến điểm du lịch nhằm phát triển hoạt động du lịch sinh thái cho tỉnh phú yên - Pdf 14

Đồ án tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn
với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự
tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Du lịch sinh thái là loại hình khai thác
tìm hiểu đa hệ sinh thái tự nhiên gồm: Đa hệ sinh thái động vật, thực vật, hệ sinh thái
nhân văn của núi, của rừng, của hồ
Ở Việt Nam có nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và nhiều rừng
cấm, đó là những di sản thiên nhiên của quốc gia, chứa đầy tiềm năng cho phát triển du
lịch sinh thái như Vịnh Hạ Long, hồ Ba Bể, động Phong Nha, vườn quốc gia Cát Tiên,
vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long, khu du lịch Hồ Núi
Cốc… đặc biệt là đã có tới 8 khu dự trữ sinh quyển Việt Nam được UNESCO công
nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới nằm ở khắp ba miền. Nhưng việc quản lý và cải
tạo các khu du lịch sinh thái ở nước ta vẫn chưa mang lại hiệu quả cao như mong
muốn.
Để có thể phát huy được tiềm năng du lịch sinh thái và đưa loại hình du lịch này
phát triển mạnh mẽ thì việc chúng ta cần quan tâm hơn về chất lượng của loại hình du
lịch này và những tác động của nó đến môi trường là vấn đề đang được nhà nước và
các ban ngành rất quan tâm. Vì cho đến hiện nay vấn đề quy hoạch du lịch sinh thái để
mang lại hiệu quả cao mà không tác động nhiều đến hệ sinh thái tự nhiên vẫn chưa có
được sự quan tâm đúng mực của xã hội.
Tỉnh Phú Yên là một nơi có nhiều điểm du lịch hấp dẫn.Tuy nhiên còn chưa
được phát hiện và khai thác hết tiềm năng. Đã bỏ lỡ nhiều cơ hội, có nhiều dự án đến,
và cuối cùng không được đầu tư. Đây là vấn đề nan giải mà tỉnh phải tìm cho ra và
khắc phục các điểm yếu của mình. Để có thể khai thác hết tiềm năng du lịch và hạn chế
những tác động xấu đến môi trường có thể xảy ra ở các tuyến điểm tỉnh Phú Yên thì
việc giải quyết bài toán môi trường cũng như công tác quản lý không phải là chuyện
Trang 1
Đồ án tốt nghiệp
ngày một ngày hai, do đó cần phải có sự phối hợp giữa các ban ngành nhất là ngành du

 Sử dụng nguồn lực một cách bền vững: bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài
nguyên thiên nhiên, văn hóa, xã hội, nó sẽ giúp cho việc kinh doanh du lịch phát
triển lâu dài.
 Duy trì và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa, xã hội là hết sức quan
trọng cho du lịch bền vững và cũng là chổ dựa sinh tồn của ngành du lịch.
 Lồng ghép vấn đề du lịch bền vững vào thực tiễn.
 Giảm sự tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém
cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng du lịch.
 Phát triển DLST đảm bảo phát triển cân bằng ba mục tiêu: mục tiêu về kinh tế, mục
tiêu xã hội, mục tiêu bảo vệ tài nguyên và môi trường.
• Phương pháp cụ thể:
 Phương pháp thu nhập và xử lý số liệu
Tiến hành thu thập thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn để đảm bảo khối lượng
thông tin đầy đủ, chính xác đáp ứng cho việc nghiên cứu.
Thống kê số liệu thực tế để phục vụ cho việc quản lý và tính thực thi của dự án.
Tổng hợp điều kiện tự nhiên, đánh giá tài nguyên du lịch sinh thái, nghiên cứu
phân vùng địa lý và đề xuất định hướng quy hoạch DLST.
 Phương pháp khảo sát thực địa
Trang 3
Đồ án tốt nghiệp
Là phương pháp thu nhập trực tiếp số liệu thông tin du lịch trên địa bàn thuộc
đối tượng nghiên cứu.
Lượng thông tin thu thập được đảm bảo sát với thực tế, có độ tin cậy cao, tạo cơ
sở để đề xuất những định hướng phát triển và giải pháp thực hiện hợp lý.
 Phương pháp cân đối kinh tế
Là phương pháp tính toán lập kế hoạch phát triển, dự báo hệ thống các chỉ tiêu
và thiết lập sự cân đối giữa cung và cầu về các mặt sau:
- Cân đối giữa tiềm năng tài nguyên du lịch và nhu cầu của du khách.
- Cân đối giữa nhu cầu của du khách với khả năng cung ứng dịch vụ về cơ sở
hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.

Chương 3: Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
Chương 4: Xây dựng các tuyến điểm du lịch tỉnh Phú Yên
Chương 5 : Một số giải pháp và định hướng phát triển du lịch cho tỉnh Phú Yên
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI, VĂN HÓA
TỈNH PHÚ YÊN
Trang 5
Đồ án tốt nghiệp
1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Phú Yên là tỉnh nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý 12
o
42

36
’’
đến
13
o
41

28
’’
vĩ độ Bắc và từ 108
o
40

00
’’
đến 109

- Địa hình đồng bằng ven biển phân bố ở vùng cửa sông Đà Rằng, sông Bàn
Thạch, sông Kỳ Lộ và sông Cái. Đây là các dải đồng bằng hẹp tổng diện tích chừng
6.000ha có nguồn gốc sông – biển hỗn hợp.
- Tiếp giáp với đồng bằng là những gò đồi, những cồn cát, đụn cát ở ven biển.
Giữa hai vùng này có những đầm phá, những vùng đất trũng. Bờ biển dài khúc khuỷu,
có nhiều dải núi chạy sát ra biển, tạo thành các eo vịnh, đầm phá. Dọc bờ biển có các
cửa sông, lạch như các cửa: đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, Tiên Châu (cửa sông Kỳ
Lộ), Tân Quy (đầm Ô Loan), Đà Diễn (cửa sông Đà Rằng), Đà Nông (cửa sông Bàn
Thạch) và cửa vịnh Vũng Rô. Hai vịnh Vũng Rô và Xuân Đài là vùng nước rộng, sâu
và kín gió, thích hợp cho các loại tàu, thuyền lớn hơn 1000 tấn neo đậu, trú ẩn khi có
gió bão.
Tóm lại, địa hình trong tỉnh Phú Yên thấp dần từ Tây sang Đông, đồi núi chiếm
khoảng 70% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phần còn lại là đồng bằng ven biển với tổng
diện tích khoảng 816 km
2
, trong đó đồng bằng Tuy Hòa chiếm 500 km
2
.
Địa hình phức tạp, đa dạng và chia cắt mạnh ở vùng đồi núi là nhân tố chủ yếu
gây nên sự biến đổi trong không gian của các yếu tố khí tượng thủy văn khá phức tạp;
phần lớn sông suối có hướng chảy từ Tây Bắc-Đông Nam hay từ Tây sang Đông hay từ
vùng đồi núi cao chảy ra biển.
1.1.3. Khí hậu
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm và chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương.
Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12 và mùa nắng từ tháng 1 đến tháng
8.
Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm 26,5 °C ở vùng đồng bằng ven biển,
khoảng 22,5
o
C ở vùng núi cao. Nhiệt độ không khí trung bình tháng dao động không

cao, nên tốc độ tập trung nước nhanh, làm cho mực nước trên các triền sông trong thời
gian mùa lũ lên xuống đột ngột, lũ thường có đỉnh nhọn. Như trận lũ lịch sử xuất hiện
vào tháng 10/1993 và 11/2009 gây thiệt hại rất lớn về người và của.
1.1.4. Sông suối
Phú Yên là tỉnh khá giàu về nước mặt do có hệ thống sông, suối rất phát triển và
phân bố khá đều trong phạm vi toàn tỉnh. Sông ở Phú Yên đều phát nguồn từ dãy núi
Trường Sơn ở phía Tây, Cù Mông ở phía Bắc và Đèo Cả ở phía Nam. Hướng chính của
Trang 9
Đồ án tốt nghiệp
các con sông là Tây Bắc - Đông Nam hoặc gần Tây Đông, nhưng lượng nước chủ yếu
tập trung ở các sông như: sông Ba, sông Bàn Thạch, Kỳ Lộ, sông Cầu. Các sông này là
nơi thu nước của hầu hết các suối chảy trong vùng. Tổng lượng nước các sông, suối
chảy qua Phú Yên là 11,8 tỉ m
3
, riêng sông Ba là 9,7tỉ m
3
, chiếm 82,2%. Song đáng lưu
ý là lượng nước trong các sông, suối phân bố không đều trong năm, có đến 70¸80%
lượng nước tập trung vào mùa mưa lũ, còn trong các tháng mùa khô, lượng nước trong
các sông, suối giảm thấp, chỉ chiếm 20¸30% cả năm. Do các sông ở Phú Yên đều ngắn
và dốc nên khi lượng mưa lớn khả năng thoát nước chậm, rất dễ gây nên lụt ở vùng hạ
lưu và lũ quét ở vùng thượng lưu. Lưu lượng nước sông trong mùa mưa và mùa khô
chênh lệch nhau rất lớn.
Nước sông ở Phú Yên thuộc loại nước trong, có độ đục bùn cát từ 31,0 – 51,0
mg/l. Riêng sông Ba thuộc loại nước hơi đục, có độ đục bùn cát là 245 mg/l. Độ pH
thay đổi từ 6,5-7,5, độ tổng khoáng hóa trung bình dưới 100 mg/l, độ cứng toàn phân
1,5 mg/l, thuộc loại nước rất mềm. Nước trong các sông, suối ở Phú Yên có chất lượng
khá tốt, có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như sinh hoạt, nông nghiệp,
công nghiệp Loại hình nước chủ yếu là Biacbonat Natri hoặc Clorua Bicacbonat
Natri Kali. Nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu là nước mưa và một phần là nước

1.2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Phú Yên là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ - Việt Nam, nằm giữa đèo Cù
Mông và đèo Cả. Đây là vùng đất có truyền thống cách mạng vẻ vang, với bề dày lịch
sử và nền văn hóa đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Phú Yên có vị trí địa lý
thuận lợi, nằm trên trục giao thông chính - quốc lộ I Bắc-Nam, quốc lộ 25 Đông - Tây.
Có mạng lưới đường sắt, đường bộ, đường thủy, nối với cảng biển Vũng Rô, sân bay
Tuy Hòa rất thuận lợi cho giao thương, phát triển kinh tế, du lịch trong nước và quốc
tế. .
Phú Yên có bờ biển khá dài, gần 190km với nhiều đầm, vũng, vịnh, bãi biển đẹp như:
Cù Mông, Xuân Đài, Ô Loan, bãi Tiên, bãi Bàng, bãi Tràm, cùng nhiều di tích, danh
thắng cấp Quốc gia. Đặc biệt, di tích lịch sử Vũng Rô hào hùng - nơi tiếp nhận những
chuyến tàu không số chống quân xâm lược, và gành Đá Đĩa - một danh thắng thiên
nhiên cực kỳ độc đáo. Vùng lãnh hải Phú Yên rộng trên 6900 km2 có trữ lượng hải sản
lớn, với nhiều loại đặc sản quý hiếm, có giá trị xuất khẩu cao, là những điều kiện tốt
cho phát triển kinh tế biển và du lịch.
Phú Yên có nguồn tài nguyên đất đai và lao động dồi dào, với 290.000 ha đất là
tiềm năng tốt cho phát triển nông - lâm nghiệp và chăn nuôi; có lực lượng lao động dồi
dào, thôngminh, cần cù và sáng tạo; Đội ngũ cán bộ khoa học-kỹ thuật ngày càng đông
nhờ có chính sách ưu đãi, thu hút nhân tài tham gia xây dựng địa phương.

Trang 11
Đồ án tốt nghiệp
Trong những năm qua, Phú Yên đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong
phát triển kinh tế và chăm lo an sinh xã hội cho người dân. Trong giai đoạn 2006-2010,
GDP tăng bình quân gần 12.3%/năm. GDP bình quân đầu người tăng từ xấp xỉ 6,3 triệu
đồng năm 2005 lên 15,8 triệu đồng năm 2010. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách nhà
nước tăng bình quân 18,04%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể, còn 9% năm 2010
(giảm 2,42% so với năm trước). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng tăng
tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Sản xuất công nghiệp, dịch vụ đang chuyển từ quy mô
nhỏ, manh mún sang quy mô lớn. Năm 2010, giá trị công nghiệp- xây dựng chiếm

• Đường Phước Tân – Bãi Ngà chạy từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến
cảng Vũng Rô.
Phú yên cũng có đường sắt Bắc-Nam đi qua với ga chính là ga Tuy Hòa.
Về hàng không, Phú Yên hiện đang vận hành Sân bay Đông Tác (Hoạt động từ
tháng 4/2003) với 2 đường bay chính: Tuy Hòa-Hà Nội và Tuy Hòa-Thành phố Hồ Chí
Minh.
1.2.3. Cơ sở hạ tầng
• Hệ thống điện: Nhà máy Thủy điện Sông Hinh với công suất 72 MW và hệ thống
đường dây 500 KVA Bắc – Nam đi qua tỉnh đảm bảo cung cấp nhu cầu sử dụng điện
cho sản xuất, sinh hoạt.
Năm 2008 đã đưa vào hoạt động nhà máy thủy điện Sông Ba hạ với công suất
lớn gấp 3 lần so với nhà máy thủy điện Sông Hinh hiện nay.
• Hệ thống cấp nước: Nhà máy cấp thoát nước Phú Yên với công suất 28.500 m
3
/ngđ,
phục vụ cho khu vực Thành phố Tuy Hòa, các vùng lân cận và khu công nghiệp Hòa
Hiệp. Đồng thời xây dựng mới một số nhà máy cấp nước cho các thị trấn huyện lỵ với
công suất khoảng 13.000 m
3
/ngđ.
Hệ thống thủy nông Đồng Cam có đập dâng đầu mối bắc ngang sông Ba dài
680m, là một trong những hệ thống thủy lợi tự chảy lớn nhất miền Trung với chiều dài
2 tuyến kênh chính Nam và Bắc cùng hệ thống kênh cấp 1, 2 lên tới 250 km. Ngoài ra,
Trang 13
Đồ án tốt nghiệp
còn có hàng nghìn km kênh mương nội đồng lấy nước tưới cho hơn 19.000 ha lúa 2 vụ
tập trung của đồng bằng Tuy Hòa.
• Hệ thống thông tin liên lạc: Phú Yên có mạng lưới viễn thông khá tốt. Bưu điện trung
tâm Tỉnh, huyện, xã được trang bị : Vi ba, cáp quang…đảm bảo liên lạc thông suốt.
• Hệ thống Internet qua đường truyền ADST cũng là một kênh liên lạc quan trọng hiện

công ăn việc làm cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
1.2.6. Thủy – hải sản
Phú Yên có diện tích vùng biển trên 6.900 km
2
với trữ lượng hải sản lớn: trên
500 loài cá, 380 loài tôm, 15 loài mực và nhiều hải sản quý.
Sản lượng khai thác hải sản Phú Yên năm 2010 đạt 26.310 tấn, tăng 10,2%.
Trong đó sản lượng các loại 22.710 tấn tăng 10,1%, tôm 670 tấn tăng 8,1%, thủy sản
khác 2.930 tấn tăng 10,6% ( trong đó mực tăng 10,5%) so với năm 2009. Riêng sản
lượng khai thác cá ngừ đại dương 4.825 tấn tăng 14,9% so với sản lượng khai thác của
năm 2009.
1.3. Đặc điểm xã hội
1.3.1. Diện tích – dân số
• Phú Yên có diện tích là 5.045,3 km
2
, chiều dài bờ biển 189km.
• Dân số Phú Yên là 868.514 người ( năm 2010 - Theo cổng thông tin điện tử Ủy Ban
Nhân Dân tỉnh Phú Yên ) trong đó thành thị 20%, nông thôn 80%, lực lượng lao động
chiếm 71,5% dân số.
• Phú Yên có gần 30 dân tộc sống chung với nhau. Chăm, Êđê , Ba Na, Hrê, Hoa,
Mnông, Raglai là những tộc người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên.
• Sau ngày miền Nam được giải phóng, sau khi thành lập huyện Sông Hinh ( 1986 ) có
những dân tộc từ miền núi phía Bắc di cư vào vùng đất Sông Hinh như Tày, Nùng,
Dao, Sán Dìu,…
1.3.2. Giáo dục
Trang 15
Đồ án tốt nghiệp
Phú Yên có hệ thống trường đại học ( Phú Yên, Xây dựng số 3 ) đào tạo 300
sinh viên, Cao đẳng ( Công Nghiệp ) mỗi năm đào tạo khoảng 1.200 học viên, một chi
nhánh học viện ngành tài chính ngân hàng đào tạo trên 300 học viên và các trường và

góc độ tiếp cận khác nhau. Đối với một số người, du lịch sinh thái chỉ đơn giản là sự
ghép nối ý nghĩa của hai khái niệm Du lịch và Sinh thái vốn đã quen thuộc từ lâu. Tuy
nhiên, đứng ở góc nhìn nhận rộng hơn, tổng quát hơn thành một số quan niệm rằng du
lịch sinh thái là một loại hình du lịch thiên nhiên. Như vậy, với cách tiếp cận này mọi
hoạt động có liên quan tới thiên nhiên như: tắm biển, leo núi đều được hiểu là du
lịch sinh thái.
Du lịch sinh thái còn được biết đến bởi nhiều tên gọi khác nhau:
 Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism)
 Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature_ Based Tourism)
 Du lịch môi trường (Environmental Tourism)
 Du lịch đặc thù (Particular Tourism)
 Du lịch xanh (Green Tourism)
 Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism)
 Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism)
 Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism)
 Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism)
 Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
 Du lịch bền vững (Sustainable Tourism)
Du lịch sinh thái bắt nguồn từ thiên nhiên và du lịch ngoài trời. Có người quan
niệm du lịch sinh thái là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu
cực đến sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động du lịch, cũng
Trang 17
Đồ án tốt nghiệp
có ý kiến cho rằng du lịch sinh thái đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có trách
nhiệm, du lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững.
Ở Việt Nam, trong lần hội thảo về "Xây dựng chiến lược phát triển sinh thái ở
Việt Nam" từ ngày 7 đến ngày 9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa về du lịch sinh thái là
"Loại hình du lịch thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có
đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng
đồng địa phương".

vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương
(Hiệp hội du lịch sinh thái Hoa Kỳ,1998).
 Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và định
hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững và
có lợi cho sinh thái (Hiệp hội du lịch sinh thái Autraylia).
 Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản
địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho bảo tồn và phát triển bền
Trang 19
Đồ án tốt nghiệp
vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương (Định nghĩa về du lịch
sinh thái ở Việt Nam).
Cho đến nay, khái niệm du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ
khác nhau, với những tên gọi khác nhau. Mặc dù, những tranh luận vẫn còn đang tiến
diễn nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về du lịch sinh thái nhưng đa số các ý
kiến của các chuyên gia hàng đầu về du lịch sinh thái đều cho rằng du lịch sinh thái là
loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi
dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái. Du khách sẽ được hướng dẫn
tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận
được giá trị thiên nhiên và văn hoá mà không gây ra những tác động không thể chấp
nhận đối với các hệ sinh thái và văn hoá bản địa. Du lịch sinh thái nói theo một định
nghĩa nào đi chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần:
 Sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường.
 Trách nhiệm với xã hội trong cộng đồng.
Các loại hình du lịch sinh thái được phân loại chủ yếu dựa trên các loại tài
nguyên du lịch sinh thái cơ bản:
 Các hệ sinh thái điển hình và đa dạng sinh học:
• Hệ sinh thái rừng nhiệt đới
• Hệ sinh thái đất ngập nước
• Hệ sinh thái san hô, cỏ biển
• Hệ sinh thái vùng cát ven biển

 Tham quan nghiên cứu đa dạng sinh học ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên : là hình thức du lịch sinh thái phổ biến thu hút sự quan tâm đặc
biệt của khách du lịch đến từ những thị trường khác nhau. Tuy nhiên, ở Việt
Nam hiện nay hình thức này còn chưa phát triển.
 Tham quan miệt vườn : là hình thức du lịch sinh thái với sản phẩm chủ yếu
là tham quan nghiên cứu hệ sinh thái nông nghiệp, đặc biệt ở các miệt vườn
đồng bằng sông Cửu Long. Hình thức này mặc dù mới phát triển trong thời
gian gần đây, song đã thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước.
 Quan sát chim : các sân chim ở Việt Nam, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu
Long có số lượng chim lớn, thành phần loài phong phú với nhiều loài đặc
hữu, quý hiếm cần được bảo vệ, là nơi thu hút nhiều nhà khoa học và du
khách tới nghiên cứu tham quan. Hình thức du lịch quan sát chim ở các sân
Trang 21
Đồ án tốt nghiệp
chim, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên chỉ mới phát triển, chưa
phổ biến nhiều ở Việt Nam.
 Thăm bản làng dân tộc : việc thăm các bản làng dân tộc trong các vườn quốc
gia, khu bảo tồn thiên nhiên thường được kết hợp tổ chức trong các tour du
lịch mang sắc thái du lịch sinh thái ở Việt Nam hiện nay. Khách du lịch có
cơ hội để tìm hiểu các giá trị văn hoá bản địa (tập tục sinh hoạt, sản xuất,
hoạt động lễ hội, văn hoá dân gian, các sản phẩm thủ công truyền thống, các
di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, các đặc sản ẩm thực …) được hình
thành và phát triển gắn liền với đặc điểm sinh thái tự nhiên của khu vực.
 Du thuyền: Việt Nam có nhiều sông hồ cùng với bờ biển dài hơn 3200 km.
Đây là tiền đề thuận lợi để tổ chức loại hình du lịch tham quan thắng cảnh
trên du thuyền đầy hấp dẫn. Hiện nay các tour du lịch trên sông nước…đồng
bằng sông Cửu Long kết hợp tham quan các miệt vườn trên các cù lao hoặc
hai bên bờ sông, du lịch trên sông Hương (Huế), sông Hồng (Hà Nội) … du
lịch trên hồ Hoà Bình (Hoà Bình), hồ Thác Bà (Yên Bái) … ngày càng thu
hút sự tham quan của du khách.

thái là các hệ thống môi trường ở các vùng khác nhau. Mỗi vùng có một đặc thù sinh
thái và cân bằng sinh thái riêng cùng với sự phong phú đa dạng thực vật, cảnh vật, cây
cỏ sông ngòi, ao hồ, rừng. Khách du lịch là những người thích thưởng thức sinh thái.
2.1.4. Phát triển du lịch sinh thái bền vững
DLSTBV đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững. Phát triển DLST làm
giảm tối thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa
phương được hưởng nguồn lợi do du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng
góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên. Phát triển DLST bền vững cần có sự cân
bằng giữa các mục tiêu Kinh Tế - Xã Hội và Môi trường trong khuôn khổ các nguyên
tắc và giá trị đạo đức.
- Mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên tự nhiên, môi trường và lợi ích kinh tế,
xã hội, văn hóa.
- Quá trình phát triển diễn ra trong một thời gian lâu dài.
- Đáp ứng nhu cầu hiện tại, song không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của các
thế hệ tiếp theo.
Trang 23
Đồ án tốt nghiệp
( Nguồn: Du Lịch Bền Vững – Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, XNB ĐHQG
Hà Nội, 2001 )
2.2. Định nghĩa quy hoạch du lịch sinh thái
2.2.1. Định nghĩa quy hoạch du lịch sinh thái
Quy hoạch du lịch là luận chứng khoa học về phát triển và tổ chức không gian
du lịch tối ưu trên lãnh thổ của quốc gia và vùng.
Quy hoạch du lịch sinh thái là công tác thiết kế sơ đồ quy hoạch mạng lưới các
khu du lịch sinh thái, các tuyến du lịch sinh thái dựa trên cơ sở những đặc điểm đặc
trưng của hệ sinh thái các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu rừng
lịch sử - văn hóa – môi trường và các miệt vườn, cơ sở hạ tầng.
( Nguồn: Quy hoạch du lịch – những vấn đề lý luận và thực tiễn, TS.Trần Văn
Thông, 2003 )
Quy hoạch du lịch sinh thái là việc tổ chức phân chia các đơn vị khôn gian lãnh

Sự tác động của du lịch sinh thái là quá rõ ràng. Xét về khía cạnh môi trường.
cái giá trị tiềm năng phải trả của du lịch sinh thái là sự suy thoái về môi trường, sự
không công bằng và sự không ổn định về kinh tế, và sự thay đổi tiêu cực về văn hoá xã
hội. Lợi ích tiềm tàng về du lịch sinh thái là tạo ra nguồn kinh phí cho các khu BTTN,
tạo công ăn việc làm cho những người sống gần với các khu BTTN, thúc đẩy giáo dục
môi trường và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn. Việc xác định cái giá phải trả
và lợi ích tiềm tàng nói trên đã làm xuất hiện những ý kiến khác nhau về du lịch sinh
thái. Nhiệm vụ của chúng ta giờ đây là phải nhìn nhận được điểm gặp của du lịch sinh
thái, bảo tồn và phát triển, tìm ra phương pháp để giảm thiểu cái giá phải trả và làm gia
tăng tối đa những lợi ích của du lịch sinh thái và bảo tồn.
2.2.3. Các bước cơ bản quy hoạch và thiết kế du lịch sinh thái
Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái phải được tiến hành trong khuôn khổ
quy hoạch quản lý tổng thể của khu vực thường là một làng quê có hệ sinh thái đặc
Trang 25

Trích đoạn Những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thá Nguyên tắc quy hoạch điểm du lịch HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN Khách du lịch XÂY DỰNG CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status