xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán cho trẻ 5 6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON


BÁO CÁO NGHIỆM THU
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CƠNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
(Đã chỉnh sử a theo Hộ i đồ n g nghiệ m thu ngà y 31/12/2010)

XÂY DỰNG CÁC THÍ NGHIỆM ĐƠN GIẢN
NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DỰ ĐỐN CHO TRẺ
5 - 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC

Mã số: CS.2009.19.49

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đỗ Chiêu Hạnh

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 12 – 2010


Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Giám Hiệu, phòng
Nghiên cứu Khoa học và các đồng nghiệp khoa Giáo dục Mầm non
trường Đại học Sư phạm TPHCM đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi
trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ và động viên của gia đình và bạn
bè trong quá trình nghiên cứu.
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song đề tài nghiên cứu
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô và đồng nghiệp.
Trân trọng cảm ơn!
TPHCM, ngày 20 tháng 12 năm 2010

3.2. Tổ chức thử nghiệm...............................................................................44
3.3. Phân tích kết quả thử ngiệm ..................................................................46
3.4. Kết luận chương 3 .................................................................................60
KẾT LUẬN CHUNG ..................................................................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................63
PHỤ LỤC.....................................................................................................65
ii.


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDMN

Giáo dục Mầm non

KN

Kỹ năng



Hoạt động

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

GVMN

Giáo viên Mầm non


Bảng 2.1.

Phương pháp và đối tượng điều tra

21

Bảng 2.2.

Trình độ chuyên môn, thâm niên công tác

23

Bảng 2.3.

Tầm quan trọng của thí nghiệm

24

Bảng 2.4.

Vai trò của thí nghiệm

24

Bảng 2.5.

Lứa tuổi có thể sử dụng thí nghiệm

26



SUMMARY OF RESEARCH FINDINGS

Project title:
Designing simple science experiments to develop predicting skill for 5-6
years old children through exploring activities in preschool settings
Project code

: CS.2009.19.49.

Principle researcher

: Do Chieu Hanh.

Email

: [email protected]

Implementing Institution : HoChiMinhCity University of Pedagogy
Duration of Research
1.

: from April 2009 to April 2010.

Research objectives
This research aims to designing simple science experiments in order to

develop predicting skill for 5-6 years old children through exploring
activities in preschools. Based on theoretical research and survey results of
using experiments to develop predicting skill for 5-6 years old children

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
Tên đề tài:
Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển kỹ năng dự đoán
cho trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động khám phá khoa học

Mã số

: CS.2009.19.49.

Chủ nhiệm đề tài

: ThS. Đỗ Chiêu Hạnh.

Điện thoại
E-mail

: 0908585253.
: [email protected]

Cơ quan chủ trì đề tài : Trường Đại học Sư phạm Tp.HCM - Khoa GDMN
Thời gian thực hiện
1.

: tháng 4 - 2009 đến tháng 4 - 2010.

Mục tiêu:

Nghiên cứu việc xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN
dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN, nâng



Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi

MỞ ĐẦU
1.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đứng trước yêu cầu đổi mới Giáo dục Mầm non (GDMN), để hội nhập

với GDMN của các nước trong khu vực và trên thế giới, ngành GDMN đã và
đang từng bước đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến hình thức
giáo dục trẻ. Những phương hướng quan trọng của mục tiêu đổi mới được thể
hiện trước hết trong việc đổi mới chương trình GDMN. Từ năm 1998 đến
2009, trong mười một năm, chúng ta đã nghiên cứu và đưa ra các chương
trình như chương trình GDMN đổi mới hình thức tổ chức (thí điểm 1998) và
chương trình GDMN mới (thí điểm 2006, đại trà 2009). Các chương trình
này đều có điểm nổi bật là lấy trẻ làm trung tâm của hoạt động (HĐ) giáo
dục, dạy học tích hợp và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực. Chương
trình GDMN mới khuyến khích giáo viên mầm non (GVMN) áp dụng các
phương pháp dạy học khác nhau một cách sáng tạo, chú trọng sử dụng các
phương pháp thực hành, trải nghiệm, trò chơi; chú ý phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của trẻ nhiều hơn; trẻ được tạo nhiều cơ hội hơn để tham
gia các HĐ trải nghiệm... Tuy nhiên, do mới chuyển từ cách dạy học cũ của
chương trình cải cách (dạy theo bộ môn, GV là trung tâm, sử dụng các
phương pháp dạy học truyền thống) sang cách dạy học tích cực của chương
trình mới nên GVMN còn nhiều băn khoăn, lúng túng và phụ thuộc nhiều vào
tài liệu hướng dẫn, vào sự định hướng của Ban giám hiệu (BGH). GVMN
vẫn còn máy móc, rập khuôn khi tổ chức các HĐ giáo dục; trẻ vẫn chưa được
trải nghiệm, chưa được khám phá môi trường xung quanh một cách tích cực


thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua
HĐ khám phá khoa học ở trường MN hiện nay, xây dựng và thử nghiệm một
số thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi, góp phần nâng
cao hiệu quả sử dụng thí nghiệm cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa
học ở trường MN.
3.

KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng và thử nghiệm một số thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển
KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển
KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học.
4.2. Tìm hiểu thực trạng sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán
cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở một số trường MN tại
TPHCM.
4.3. Xây dựng và thử nghiệm một số thí nghiệm theo hai chủ đề “Nước” và
“Không khí” nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua
HĐ khám phá khoa học ở trường MN.
5.

PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do hạn chế về thời gian và kinh phí nghiên cứu thực hiện đề tài nên

chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

MN trên địa bàn TPHCM. Sau khi dạy thử nghiệm trên trẻ, chúng tôi rút ra
những bài học kinh nghiệm cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng thí
nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
2.3.4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm tìm hiểu cơ sở
lý luận của việc sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6
tuổi trong HĐ khám phá khoa học ở trường MN. Các tài liệu mà chúng tôi
tìm hiểu bao gồm: chương trình GDMN mới (Ban hành theo thông tư số
17/2009/TT-BGDĐT ngày 25/7/2009); các tài liệu có liên quan đến KN dự
đoán, HĐ khám phá khoa học; thí nghiệm cho trẻ MN, kế hoạch GD của
GVMN, các giáo án tổ chức HĐ thí nghiệm của GVMN…

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đỗ Chiêu Hạnh (CS.2009.19.49)

3


Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi

2.3.4.2. Phương pháp điều tra
Chúng chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến dành cho
các GVMN đang dạy ở một số trường MN bao gồm cả nội và ngoại thành
TP.HCM. Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm hiểu nhận thức của
GVMN khi sử dụng thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi
trong HĐ khám phá khoa học, những thuận lợi và khó khăn của GVMN trong
quá trình tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho
trẻ... GVMN sẽ trả lời một hệ thống bao gồm 17 câu hỏi đã được chuẩn bị
sẵn và in thành phiếu. Sau đó, chúng chúng tôi tiến hành xử lý số liệu thu
được từ những phiếu trưng cầu ý kiến này và phân tích kết quả điều tra thực


Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm giải quyết nhiệm vụ thứ ba
của đề tài. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực trạng phát triển KN
dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi khi sử dụng thí nghiệm, chúng tôi xây dựng và tổ
chức cho trẻ tham gia khám phá chuỗi thí nghiệm theo hai chủ đề “Nước” và
“Không khí” nhằm kiểm tra tính khả thi của các thí nghiệm mà đề tài đã xây
dựng.
2.3.4.6. Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học được sử dụng nhằm xử lý số liệu nghiên
cứu thu được từ phiếu trưng cầu ý kiến.
7.

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

7.1. Đề tài đã xác định và hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc sử dụng thí
nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi trong HĐ khám
phá khoa học ở trường MN.
7.2. Làm rõ thực trạng sử dụng thí nghiệm trong HĐ khám phá khoa học ở
một số trường MN trên địa bàn TPHCM.
7.3. Xây dựng và thử nghiệm một số thí nghiệm cho trẻ khám phá hai chủ đề
“Nước” và “Không khí” nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi
trong HĐ khám phá khoa học.
7.4. Thống kê được nguồn tài liệu chuyên môn về thí nghiệm gồm có sách,
tài liệu dịch, các bài báo và các website.
8.
-

CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận của thí nghiệm nhằm phát triển KN dự đoán


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÁC THÍ NGHIỆM
ĐƠN GIẢN NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG DỰ ĐOÁN
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC

1.1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Vấn đề rèn luyện và phát triển KN dự đoán nói riêng và các KN nhận
thức nói chung thông qua hoạt động thí nghiệm đã được một số nhà nghiên
cứu quan tâm.
Ở nước ngoài, tác giả James Belly đã chỉ ra rằng, để việc tổ chức thí
nghiệm cho trẻ MN đạt hiệu quả cao thì GVMN cũng tiến hành cho trẻ khám
phá giống như các nhà khoa học thường làm. Các nhà khoa học thường
nghiên cứu vấn đề bắt đầu bằng những câu hỏi, sau đó học sẽ theo một trình
tự hoặc các phương pháp nhất định để tìm ra câu trả lời. Đối với trẻ cũng vậy,
GVMN cũng cần tuân thủ theo trình tự các bước và thông thường cần bắt đầu
bằng một câu hỏi. Các bước nghiên cứu thường bắt đầu theo trình tự như sau:
Xác định câu hỏi hoặc vấn đề, dự đoán câu trả lời, thực hiện thí nghiệm, quan
sát kết quả, rút ra kết luận, ghi chép kết quả cuối cùng (Sprung, Frosschi &
Campbell,1995). Kế thừa quan điểm này, tác giả Jamice Bealy cho rằng,
trong hoạt động khám phá khoa học của trẻ MN, GVMN cũng cần tiến hành
theo trình tự tương tự như trình tự nghiên cứu của các nhà khoa học qua các
bước như sau: xác định câu hỏi mà cô muốn trẻ trả lời, đoán xem câu trả lời
sẽ ra sao, xác định cách thức làm sao để trả lời được và cố gắng tìm ra nó,
quan sát cái gì sẽ xảy ra, nói về cái đã xảy ra và tranh luận về các câu trả lời
đúng - sai, ghi nhận lại những việc đã làm và những gì đã diễn ra.
Trong nước, có nhiều tác giả quan tâm đến việc tổ chức thí nghiệm cho
trẻ MN. Tác giả Huỳnh Thị Bích Liên (2007) nghiên cứu việc sử dụng thí
nghiệm trong hoạt động làm quen môi trường xung quanh ở trường MN.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả chỉ đi sâu vào vấn đề GVMN cần quan

Dự đoán chính là những điều mà trẻ nghĩ sẽ xảy ra trong tương lai. Tính
chính xác của dự đoán tùy thuộc vào kinh nghiệm và hiểu biết của trẻ [11,
tr.109].
Theo Karen K.Lind và Roslin Charlesworth thì dự đoán là “khả năng
đưa ra một nhận định nào đó sẽ xảy ra trong tương lai. Những dự đoán này
căn cứ trên những gì trẻ quan sát được và suy luận” [14, tr. 80]
Như vậy, đối với trẻ 5 - 6 tuổi, KN dự đoán là khả năng có thể đưa ra
một kết quả nào đó sắp xảy ra dựa trên kinh nghiệm và hiểu biết của trẻ.
1.2.2. Thí nghiệm
Từ ‘thí nghiệm’ trong tiếng Anh là ‘experiment’. Nó có nguồn gốc từ
nguyên ‘experimentum’ trong tiếng La-tinh, có nghĩa là ‘thử, thử thách, kiểm
tra, xét nghiệm, bằng chứng’ [3]
Còn theo tác giả Trần Thị Thanh, “Thí nghiệm có nghĩa là sự tự mày mò
hành động tìm kiếm, thí nghiệm trong thực tiễn để đi đến kết luận về điều dự
đoán trước hoặc trả lời những thắc mắc trong suy nghĩ” [8, tr. 73].

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đỗ Chiêu Hạnh (CS.2009.19.49)

7


Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi

Tác giả Hoàng Thị Oanh cho rằng, đối với trẻ MN thì “thí nghiệm là
việc tổ chức cho trẻ hành động tác động vào đối tượng, làm thay đổi đối
tượng nhằm kiểm nghiệm một tính chất nào đó của sự vật hoặc tạo dựng lại
một hiện tượng nào đó trong tự nhiên”. [5, tr. 69].
Đồng ý kiến với các tác giả trên, theo chúng tôi, đối với trẻ MN, có thể
hiểu “Thí nghiệm là quá trình GV tổ chức cho trẻ tác động lên một sự vật,
hiện tượng nào đó, làm thay đổi nó trong một điều kiện nhất định để quan sát

kết quả thí nghiệm bằng cách sử dụng những hình vẽ đơn giản hoặc ký hiệu
để ghi nhớ hoặc mô tả quá trình trẻ đã làm thí nghiệm, hoặc “viết” lại kết quả
thí nghiệm mà trẻ vừa làm xong. Điều này sẽ giúp phát triển ở trẻ tư duy trực
quan sơ đồ, một bước quan trọng để hình thành và phát triển tư duy logic cho
trẻ. Đồng thời, việc “ghi chép” này cũng chính là tiền đề chuẩn bị cho sự lĩnh
hội ngôn ngữ viết sau này.

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đỗ Chiêu Hạnh (CS.2009.19.49)

9


Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi

Thứ tư, khi tham gia HĐ thí nghiệm, trẻ buộc phải dự đoán, phải suy
luận, qua đó hình thành kỹ năng suy luận cho trẻ, phát triển tư duy logic, hình
thành ở trẻ kỹ năng thiết lập mối quan hệ nhân - quả.
Đồng thời, khi tiến hành thí nghiệm, trẻ cần phải quan sát, mô tả và diễn
đạt bằng lời sự biến đổi của sự vật hiện tượng khi trẻ tác động tích cực vào và
trẻ giải thích các hiện tượng xảy ra theo cách hiểu của trẻ. Việc được mạnh
dạn diễn đạt lại những gì trẻ biết, hiểu và đã được làm như thế này không chỉ
giúp phát triển ngôn ngữ mạnh lạc cho trẻ mà còn hình thành ở trẻ tính tự tin,
mạnh dạn và duy trì hứng thú của trẻ đối với các HĐ nhận thức.
Ngoài ra, phần lớn các thí nghiệm đều được tổ chức dưới hình thức HĐ
nhóm nên trẻ có nhiều cơ hội để phát triển kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hợp
tác, kỹ năng làm việc theo nhóm (phân công công việc, thỏa thuận, bàn
bạc...). Đây là một trong những “KN mềm” rất cần thiết cho trẻ trong cuộc
sống sau này.
Cuối cùng, thí nghiệm là một dạng HĐ thực hành. Do đó, nó giúp trẻ
phát triển khả năng ứng dụng hiểu biết vào thực tiễn, phát triển khả năng

KHOA HỌC
Để phát triển KN dự đoán cho trẻ thông qua thí nghiệm, GVMN cần
đảm bảo trình tự tiến hành thí nghiệm như sau:


Bước 1: Xác định vấn đề / nội dung thí nghiệm

Đây là bước khơi dậy ở trẻ óc tò mò và sự hiếu kỳ.
Ở bước này, GVMN sẽ tiến hành đàm thoại, đặt câu hỏi cho trẻ hoặc
đưa trẻ vào một tình huống có vấn đề nhằm hướng sự chú ý của trẻ tới nội
dung muốn cho trẻ khám phá. Cuộc trò chuyện ngắn này cần kết thúc bằng
một câu hỏi và quá trình tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm chính là quá trình đi
tìm câu trả lời cho câu hỏi mà cô và trẻ vừa đặt ra. Ví dụ: khi cho trẻ làm thí
nghiệm “Hạt cần gì để nảy mầm”, GVMN cần trò chuyện với trẻ như thế nào
để cuối cùng là câu hỏi: Theo các con, hạt cần gì để nẩy mầm? Chúng ta phải
làm gì để hạt đậu xanh này nẩy mầm và lớn lên thành cây?”. Hoặc đối với
các thí nghiệm về “Nước”, GVMN có thể đặt các câu hỏi như sau: Bằng cách
nào để làm nổi một vật chìm trong nước? Làm sao để làm chìm một vật nổi
trong nước? Nước ở đâu sẽ bay hơi nhanh hơn (trong ly hay trong đĩa…)?
Mực nước sẽ cao hơn hay thấp đi khi đông thành đá? Nước mặn “nặng” hay
“nhẹ” hơn so với nước ngọt? Làm sao để biết được điều đó? Không khí là gì?
Có bắt và “nhốt” không khí được không nhỉ? Làm sao để “cân” được không
khí? Trong các loại như trái cây, bánh mì, gạo... không biết cái nào hư trước
nhất? Cầu vồng là gì? Chúng ta có thể tạo ra cầu vồng được không nhỉ? Làm
cách nào để tạo ra cầu vồng?...
Ngoài ra, GVMN có thể xây dựng một tình huống có vấn đề để trẻ giải
quyết. Ví dụ như đối với đề tài “Vật liệu nào thấm nước tốt nhất”, GVMN có
thể tạo tình huống là có một vũng nước bị đổ ở sàn và đề nghị trẻ ‘hiến kế’
những cách có thể làm khô chỗ nước đó đi? Hoặc với thí nghiệm về nhiệt,
GVMN có thể đưa ra một quả bóng bị méo và đề nghị trẻ “giúp đỡ cô”, làm

hay nặng hơn so với không khí lạnh”... Sau khi đặt câu hỏi hoặc đưa ra tình
huống có vấn đề, GV cần dành thời gian để cho trẻ đưa ra dự đoán. GV có
thể viết hoặc vẽ nhanh dự đoán của trẻ để sau khi làm thí nghiệm xong, trẻ có
thể so sánh kết quả cuối cùng với dự đoán ban đầu. Dự đoán của trẻ có thể
đúng, nhưng cũng có thể sai, và thường là sai vì trẻ thiếu kinh nghiệm. Tính
đúng/ sai của dự đoán không quan trọng và GVMN cần chấp nhận và khuyến
khích tất cả các dự đoán mà trẻ đưa ra và tạo cơ hội để trẻ kiểm chứng những
dự đoán này. Điều quan trọng ở đây là trẻ bắt buộc phải “động não”, phải sử
dụng các kỹ năng quan sát, suy luận, phân tích… để đưa ra dự đoán của mình
về những gì sắp/ sẽ xảy ra trong thí nghiệm sắp làm. Ở bước này, GVMN cần
khuyến khích, động viên trẻ nào cũng đưa ra dự đoán của riêng mình. Nếu có
nhiều thời gian, GVMN có thể hỏi trẻ lý do tại sao lại đưa ra dự đoán như vậy
để lắng nghe trẻ lý giải sự việc. Đây không chỉ là cơ hội để phát triển KN dự

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đỗ Chiêu Hạnh (CS.2009.19.49)

12


Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi

đoán cho trẻ mà còn phát triển ở trẻ các KN khác như suy luận, lập luận,
giao tiếp...


Bước 3: GV cho trẻ tiến hành làm thí nghiệm

Sau khi trẻ đưa ra dự đoán, GV tiến hành cho trẻ làm thí nghiệm để
kiểm chứng những dự đoán đã đưa ra.
Trong quá trình này, GV cần lưu ý cho trẻ được tự mình làm thí nghiệm.

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đỗ Chiêu Hạnh (CS.2009.19.49)

13


Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi

trẻ làm thí nghiệm về Rác - “Rác nào tốt cho cây hơn” (GVMN tổ chức cho
trẻ chôn hai loại rác vào hai chậu cây khác nhau – chậu cây 1 chôn thức ăn
thừa, trái cây hư thối; chậu cây hai chôn túi ni lông, hộp sữa…, tưới nước đầy
đủ cho hai chậu cây và để nơi có ánh sáng. Sau một thời gian vừa đủ
(khỏang 7-10 ngày) sẽ thấy xuất hiện hiện tượng chậu cây chôn rác là thức ăn
thừa sẽ phát triển tốt hơn chậu kia), trẻ sẽ biết tác hại của túi ni lông và có
hành vi đúng đắn là bỏ rác đúng nơi quy định, hạn chế sử dụng túi ni lông và
tuyên truyền với những người xung quanh “Nói không với túi ni lông”.
Sau khi quan sát, phân tích thí nghiệm, tìm hiểu nguyên nhân của các
hiện tượng đã xảy ra, GVMN sẽ cùng trẻ rút ra kết quả cuối cùng của thí
nghiệm. Đây vẫn là lúc quan trọng nhất để củng cố tri thức cho trẻ, giúp trẻ
ghi nhớ nội dung của thí nghiệm. Ví dụ sau khi làm thí nghiệm “Vật nổi – vật
chìm”, cuối cùng GV cần cho trẻ rút ra được kết luận trong mười đồ vật mà
trẻ làm thí nghiệm thì những đồ vật nào sẽ nổi và những đồ vật nào sẽ chìm;
đối với thí nghiệm về nhiệt - đề tài “Khăn ở đâu mau khô hơn” – một cái xếp
làm tư để trong dĩa, một cái phơi trong lớp (chỗ mát) và một cái phơi ngoài
sân (có nắng) thì trẻ cần rút ra kết luận cuối cùng là “khăn phơi ngoài nắng
mau khô nhất”; hoặc đối với thí nghiệm đề tài “Nước bắp cải tím đổi màu”
thì trẻ cần rút ra kết luận cuối cùng là khi bỏ chanh vào thì nước màu tím biến
thành màu hồng, bỏ xà bông vào thì nước màu tím biến thành màu xanh, bỏ
đường, muối… vào thì nước bắp cải tím không đổi màu khác mà vẫn giữ
nguyên màu tím. Hoặc đối với thí nghiệm về hình dạng của nước, trẻ cần rút
ra kết luận là nước có hình dạng của những vật chứa nó. Đối với các thí

số ký hiệu hoặc dán đồ vật vào vị trí thích hợp. GVMN có thể chuẩn bị sẵn
bảng kết quả để trẻ sử dụng các ký hiệu như , , , , , , , , , ,
… hoặc sử dụng các biểu tượng    /   để ghi nhận lại kết quả thí
nghiệm. Tùy thuộc vào nội dung thí nghiệm và khả năng của trẻ lớp mình
phụ trách mà GVMN sẽ chọn hình thức ghi nhận kết quả thí nghiệm phù hợp
với trẻ nhất.


Bước 6: Chia sẻ kết quả thí nghiệm

Sau khi ghi nhận kết quả, GV cần cho trẻ “thuyết trình” trước lớp về kết
quả thí nghiệm mà trẻ vừa “khám phá” xong. Ở HĐ này, một mặt GV có thể
hình thành sự tự tin, mạnh dạn, khả năng nói trước đám đông của trẻ, mặt
khác GV tạo cơ hội cho tất cả mọi trẻ chia sẻ những hiểu biết mà trẻ vừa lĩnh
hội được để trẻ có thể học tập lẫn nhau. Cuối cùng, với bản ghi chép kết quả
thí nghiệm, GV có thể cho trẻ mang về nhà để khoe với bố mẹ, hoặc dán ở
bảng kết quả tại góc khoa học. Khi chuyển qua thí nghiệm khác, GV sẽ cho
trẻ cất các bản ghi kết quả này vào hồ sơ cá nhân của trẻ.
Như vậy, để phát triển KN dự đoán cho trẻ thông qua thí nghiệm trong
HĐ khám phá khoa học ở trường MN, GVMN cần lưu ý đảm bảo trình tự
theo sáu bước như trên. Trong sáu bước này, bước quan trọng nhất để phát
triển KN dự đoán cho trẻ chính là bước hai. Vì thế, GVMN không được nóng
vội, bỏ qua bước này mà cần kiên nhẫn, đặt câu hỏi, khuyến khích, động viên
trẻ đưa ra dự đoán của bản thân.
Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đỗ Chiêu Hạnh (CS.2009.19.49)

15


Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi


16


Xây dựng các thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển KN dự đoán cho trẻ 5 - 6 tuổi

những vật nào”?, Loại nước nào không tốt cho cây?, Rác phân hủy và rác
không phân hủy – loại rác nào tốt cho cây hơn? , Vật gì thấm nước mau hơn?
, Vật nào có thể sử dụng được nhiều lần, vật nào không? Đẩy một hộp nặng ở
đâu dễ hơn? (lên dốc, xuống dốc, ở chỗ gồ ghề hay ở chỗ trơn láng)… Nếu
như GVMN biết chọn những thí nghiệm mang tính ứng dụng vào cuộc sống sẽ
giúp trẻ thấy được ý nghĩa của những gì trẻ đang học, điều này càng nâng cao
hứng thú nhận thức của trẻ, đáp ứng yêu cầu của chương trình GDMN mới.
Hai là, sự an toàn của thí nghiệm. Nội dung của các cuộc thí nghiệm cần
phải an toàn và dễ thực hiện. Đó là những hiện tượng thường diễn ra trong
cuộc sống và gần gũi với trẻ. Các thí nghiệm này phải có sự thay đổi rõ ràng
trong khoảng thời gian nhất định để trẻ dễ dàng nhận biết và rút ra kết luận.
Ba là, trong quá trình tổ chức thí nghiệm, trẻ cần được nói nhiều hơn là
nghe cô nói. Thí nghiệm thường được tổ chức cho lứa tuổi chồi và lá. Ở lứa
tuổi này, ngôn ngữ của trẻ đã phát triển. Trẻ đã có khả năng nghe và hiểu
những gì GVMN nói. Do đó, trong quá trình tổ chức cho trẻ làm thí nghiệm,
GVMN cần kiên nhẫn lắng nghe những giải thích, cách lý giải vấn đề của trẻ,
khuyến khích trẻ “nói nhiều”, mạnh dạn đưa ra những dự đoán của bản thân,
động viên trẻ lý giải các nguyên nhân, giải thích theo cách hiểu của trẻ.
GVMN cần khuyến khích trẻ giao tiếp, chia sẻ ý tưởng, thông tin, kinh
nghiệm, trình bày kết luận. Trẻ có thể suy luận sai do thiếu kiến thức và kinh
nghiệm cần thiết, trong những trường hợp đó, GVMN cần khuyến khích trẻ
lặp lại thí nghiệm hoặc làm thêm những thí nghiệm phụ để trẻ hiểu rõ hơn,
hoặc GVMN sẽ sử dụng hệ thống câu hỏi gợi ý, tránh áp đặt kết luận của GV
trong khi trẻ chưa hoàn toàn bị thuyết phục. Đồng thời, GVMN cần trao đổi,

quan sát các tình huống nảy sinh (như nến không tắt khi trẻ chụp ly lên, bịch
sirô của trẻ không đông đặc lại mà vẫn còn loãng, cây vẫn sống mặc dù trẻ
không tưới nước…) để khai thác, giúp trẻ tìm ra nguyên nhân, tích cực suy
nghĩ (nến không tắt có thể do có chỗ hở, vẫn còn oxy, bịch sirô không đông
đặc có thể do trẻ không bỏ muối hột mà chỉ bỏ đá đập nhuyễn, cây sống mặc
dù trẻ không tưới nước nhưng có thể bạn khác trong lớp đã tưới…). GVMN
cần phải nhận thấy rằng, các tình huống xảy ra không theo sự sắp đặt của
mình, không được dự kiến trước trong giáo án chính là một cơ hội tốt để kích
thích trẻ suy nghĩ. Và điều này cũng chính là một trong những điều mà
GDMN mong muốn hướng đến - trẻ học bằng những trải nghiệm của chính
bản thân trẻ.
Ngoài ra, trong khi trẻ làm thí nghiệm, GVMN cần quan tâm sâu sát đến
từng trẻ. Nếu thấy thí nghiệm đó quá dễ so với khả năng của trẻ, GVMN cần
tạo tình huống để tiếp tục nảy sinh hứng thú khám phá của trẻ (Mình bỏ cái
kẹp giấy vào lọ thủy tinh thì không biết nam châm có hút được không nhỉ?
Nếu mình đặt thêm một tấm chắn bằng nhựa chứ không phải bằng gỗ thì liệu
nam châm có hút được đồ vật nữa không ta? Có cách nào khác để biết nước

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Đỗ Chiêu Hạnh (CS.2009.19.49)

18


Trích đoạn Tổ chức thử nghiệm Kết luận chương 3
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status