THIẾT kế và sử DỤNG TRÒ CHƠI học tập NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG QUAN sát CHO TRẺ 5 6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG làm QUEN với TOÁN - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----˜&™-----

NGUYỄN THỊ TRIỀU TIÊN

THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN
KHẢ NĂNG QUAN SÁT CHO TRẺ 5-6 TUỔI THÔNG QUA
HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN
Chuyên ngành: Giáo dục học (Giáo dục mầm non)
Mã số: 60.14.01.01

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Giảng viên hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Minh Liên

HÀ NỘI - 2014


Lời cảm ơn
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn
PGS.TS. Đỗ Thị Minh Liên, Giảng Viên khoa Giáo dục Mầm non, Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội - Người đã tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình
học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể các Thầy, Cô trong Khoa Giáo dục
Mầm non, Phòng sau Đại Học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – là cơ sở
đào tạo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt 2 năm học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu và tập thể Giáo viên
trường Mầm non 20/10, trường Mầm non 19/5 thuộc quận Hải Châu – TP Đà
Nẵng đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tiến hành thực nghiệm đề tài.

:

Giáo viên

GVMN

:

Giáo viên mầm non

KNQS

:

Khả năng quan sát

MG

:

Mẫu giáo

MN

:

Mầm non

TC


THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG QUAN SÁT CHO TRẺ 56 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN..............................................................1
 Bảng 2.4. Thống kê ý kiến của giáo viên về vấn đề QS

48

2.7.2.2. Kết quả điều tra mức độ phát triển KNQS của trẻ MG 5-6 tuổi

56


DANH MỤC BẢNG BIỂU
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG QUAN SÁT CHO TRẺ 56 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN..............................................................1
 Bảng 2.4. Thống kê ý kiến của giáo viên về vấn đề QS

48

 Bảng 2.5. Thống kê ý kiến của giáo viên về hình thức tổ chức TCHT nhằm phát triển KNQS cho
trẻ MG 5-6 tuổi thông qua hoạt động LQVT.................................................................48
2.7.2.2. Kết quả điều tra mức độ phát triển KNQS của trẻ MG 5-6 tuổi

56


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG QUAN SÁT CHO TRẺ 56 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN..............................................................1
 Bảng 2.4. Thống kê ý kiến của giáo viên về vấn đề QS

48

 Bảng 2.5. Thống kê ý kiến của giáo viên về hình thức tổ chức TCHT nhằm phát triển KNQS cho

phát triển KNQS. Đặc biệt là đối với trẻ mẫu giáo (MG) 5 – 6 tuổi, KNQS lại
càng cần thiết và cần được phát triển để làm tiền đề cho cấp học tiếp theo.

1


Trên thực tế tại các trường mầm non hiện nay, nhận thức của giáo viên
(GV) về tầm quan trọng của giác quan đối với sự phát triển cả thể chất và tinh
thần của trẻ được nâng lên đáng kể. Việc tổ chức cho trẻ chơi các TCHT
được tổ chức thường xuyên trong hoạt động LQVT nhưng hầu hết các trò
chơi này chỉ nặng về cung cấp và cũng cố kiến thức nên chưa thực sự quan
tâm đến việc phát triển KNQS cho trẻ.
Có nhiều lý do dẫn đến thực trạng này, một phần là do GV chưa nhận
thức đầy đủ quá trình thiết kế và sử dụng TCHT nhằm phát triển KNQS cho
trẻ, phần khác là do GV chưa biết cách tận dụng ưu thế của TCHT trong việc
phát triển KNQS cho trẻ MG 5 – 6 tuổi, hơn nữa nhiều GV còn gặp khó khăn
trong việc thiết kế và sử dụng TCHT để hình thành KNQS cho trẻ MG 5-6
tuổi. Mặt khác do khi áp dụng các trò chơi này GV không chú ý đến quy trình
sử dụng, cách thức tiến hành trò chơi nhằm phát triển KNQS cho trẻ MG 5 –
6 tuổi… Chính vì những lí do trên nên chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Thiết kế và sử dụng trò chơi học tập nhằm phát triển khả năng quan sát
cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với toán”
2. Mục đích nghiên cứu
Thiết kế và sử dụng một số TCHT nhằm phát triển KNQS cho trẻ
MG 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động LQVT.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển KNQS cho trẻ MG 5 – 6 tuổi ở trường mầm non.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Cách thức thiết kế và sử dụng TCHT nhằm phát triển KNQS cho trẻ

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
3


Dự hoạt động dạy trẻ LQVT của GV, quan sát, ghi chép các TCHT
được GV sử dụng trong các hoạt động dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
Quan sát biểu hiện, kết quả QS của trẻ trong các hoạt động học LQVT
có sử dụng TCHT do GV tự thiết kế.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket
Dùng phiếu điều tra nhằm đánh giá nhận thức, thái độ, thực trạng về
việc thiết kế và sử dụng trò chơi học tập trong hoạt động LQVT của giáo viên
nhằm giúp trẻ MG 5-6 tuổi phát triển KNQS tại một số trường mầm non
thuộc Quận Hải Châu và Quận Liên Chiểu – TP Đà Nẵng.
7.2.3. Phương pháp đàm thoại
Trao đổi, trò chuyện trực tiếp với GV và trẻ về việc tổ chức TCHT
nhằm phát triển KNQS cho trẻ MG 5-6 tuổi trong hoạt động LQVT, từ đó thu
thập thông tin có liên quan tới đề tài, phát hiện ra thực trạng cần điều tra.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm cách thức sử dụng những TCHT đã được thiết kế, nhằm
kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng các TCHT đã thiết kế,
đối với việc phát triển KNQS cho trẻ MG 5 – 6 tuổi.
7.3. Phương pháp thống kê giáo dục
Sử dụng một số phép tính thống kê trong toán học để xử lí số liệu thu
được trong nghiên cứu đề tài.
8. Những đóng góp của đề tài
8.1. Về lí luận
Xây dựng cơ sở lý luận của việc thiết kế và sử dụng TCHT nhằm phát
triển KNQS cho trẻ MG 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động LQVT:



NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG TRÒ CHƠI
HỌC TẬP NHẰM PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG QUAN SÁT CHO TRẺ
MG 5-6 TUỔI THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN
1.1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về khả năng quan sát của trẻ mẫu giáo 56 tuổi của các nhà tâm lý- giáo dục
* Các công trình nghiên cứu về khả năng quan sát của trẻ mẫu giáo 56 tuổi của các nhà tâm lý- giáo dục trên thế giới
Theo một số tác giả: Ngô Công Hoàn, Nguyễn Ánh Tuyết, Hoàng Thị
Phương, Đinh Văn Vang…chuyên nghiên cứu tâm lý học trẻ em, giáo dục
học trẻ em thì QS là một khả năng không thể thiếu được. Khi bắt đầu tham gia
hoạt động đứa trẻ cần phải QS để tái tạo lại một cách tích cực và phong phú
nhất nhưng đồng thời QS đã được phát triển trong quá trình tham gia trò chơi.
Chính môi trường của trò chơi là nơi có thể phát triển mãnh liệt khả năng và
các phẩm chất của QS. Có thể đề cập A.Z. Xorokiana hay V. X . Mukhina là
những tác giả rất sâu sắc khi đề cập đến vấn đề này [42].
Nhà giáo dục lỗi lạc của Tiệp Khắc - Komenxki cho rằng: Việc học
tập không nên bắt đầu bằng việc giải thích bằng lời nói về các sự vật hiện
tượng mà bằng những QS, tiếp xúc trực tiếp với các sự vật hiện tượng đó.
Muốn cho biểu tượng của trẻ được chính xác, cần phải QS vật thật tất cả
những gì có thể, chỉ trong trường hợp không thể mới sử dụng tranh ảnh, mô
hình và bản vẽ [35]. Đây là quan điểm giáo dục tiến bộ mang tính duy vật,
những đề xuất của ông đối với việc tổ chức hướng dẫn trẻ QS tiếp xúc với các

6


sự vật hiện tượng xung quanh đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Nhà tâm lý học A.A Liu Blinxkaia đã khẳng định vai trò của QS tri giác

Theo tác giả Nguyễn Công Khanh (chuyên gia tâm lý trẻ em) thì khi bé
thường xuyên đặt những câu hỏi liên quan đến màu sắc, đó là biểu hiện cho
thấy bé đang muốn học thông qua KNQS. [49]
Vấn đề QS của trẻ trong các dạng hoạt động giáo dục cũng được khá
nhiều tác giả quan tâm. Có thể đề cập đến các tác giả như Nguyễn Ánh Tuyết,
Ngô Công Hoàn, Hoàng Thị Phương...đều khẳng định rằng QS trước khi tổ
chức hoạt động và QS diễn ra trong quá trình diễn ra hoạt động là một yếu tố
hết sức quan trọng.
Trong những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu và sử dụng các biện
pháp nâng cao KNQS của trẻ cũng được đề cập đến trong một số luận văn
thạc sĩ, luận án tiến sĩ. Tác giả Nguyễn Thị Xuân với đề tài " Một số biện
pháp hướng dẫn trẻ MG 5 - 6 tuổi làm quen với thiên nhiên nhằm phát triển
năng lực QS" [58]; Đề tài " Một số biện pháp nâng cao KNQS của trẻ 4 - 5
tuổi thông qua hoạt động làm quen với một số loại quả" của tác giả Phạm
Quỳnh Hương; Võ Thị Ánh Tuyết với đề tài " Một số biện pháp nâng cao
KNQS của trẻ qua trò chơi xây dựng" [41], Đề tài "Một số biện pháp hình
thành kĩ năng QS cho trẻ 5 - 6 tuổi trong giờ học làm quen với môi trường
xung quanh" của tác giả Nguyễn Thị Thu Phương [36], Đề tài “Một số biện
pháp hướng dẫn trẻ MG 5 – 6 tuổi khám phá thiên nhiên vô sinh nhằm phát
triển khả năng QS”của tác giả Nguyễn Thị Hà Lương [27]…
Như vậy có thể nói rằng, vấn đề phát triển KNQS cho trẻ mầm non nói
chung và trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng đã nhận được sự quan tâm nhất định

8


của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu đã
tập trung vào các vấn đề phát triển KNQS cho trẻ hầu hết đều thông qua hoạt
động khám phá môi trường xung quanh. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có
tác giả nào nghiên cứu về vấn đề phát triển KNQS cho trẻ thông qua TCHT

trẻ, nó thu hút trẻ bởi trẻ hiểu nó và có thể tự tạo ra nó. Sẽ không còn là TC nữa
nếu khi chơi đứa trẻ quá lệ thuộc vào thế giới hiện tại [12,tr.42].
Trong tác phẩm “TCHT” E.I.Chikhiêva đã xem TC là một quá trình sư
phạm trong trường MG, TC là một trong những phương tiện tác động toàn
diện lên nhân cách của trẻ. Bà cũng đánh giá rất cao ý nghĩa của TCHT về vai
trò của nó đối với sự phát triển mọi mặt của trẻ đặc biệt là những năng lực
trong đó có năng lực QS.
Riêng lí thuyết phát triển nhận thức của J.Piaget(1896-1980), đã ảnh
hưởng lớn tới việc xây dựng chương trình giáo dục cho trẻ em, đặc biệt là lứa
tuổi MG và đầu tiểu học. Ông đánh giá “khi chơi ở trẻ phát triển tri giác, trí
thông minh, những khuynh hướng thử nghiệm, những bản năng xã hội…”.
TC là đòn bẩy để thúc đẩy sự phát triển ở trẻ (học đọc, học làm tính, quá trình
sáng tạo…), do đó cần khuyến khích khả năng sáng tạo khi chơi [30].
Theo quan điểm của L.X.Vưgôtski, TC là phương tiện hiệu quả nhằm
hình thành và phát triển các biểu tượng về thế giới xung quanh ở trẻ, khi có sự
hướng dẫn sư phạm đúng đắn của người lớn. Bản chất của phương thức dạy
học này là dựa trên khả năng hiện tại của trẻ, đồng thời cần tính đến những
điều mà trẻ có thể thực hiện được dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của
người lớn, theo quy luật tác động “vùng phát triển gần nhất” của trẻ [59]. Như
vậy, với quan điểm này, khi sử dụng TCHT trong hoạt động LQVT nhằm
phát triển KNQS cho trẻ, các nhà sư phạm cần phải dựa vào đặc điểm tâm
sinh lí, khả năng nhận thức của của trẻ để đưa ra những yêu cầu, nhiệm vụ khi
sử dụng TC. Chính vì thế, để đạt được hiệu quả cao trong việc phát triển

10


KNQS cho trẻ, cần sử dụng TCHT một cách linh hoạt, các hình thức chơi
phong phú và đa dạng nhằm nâng cao hiệu quả khi dạy trẻ.
Như vậy từ những kết quả nghiên cứu trên đây, cho chúng ta cái nhìn

hoạt động cụ thể của trẻ.
Trong cuốn “Sử dụng TCHT nhằm hình thành những biểu tượng toán
học sơ đẳng cho trẻ MG”, tác giả Đỗ Thị Minh Liên đã nêu lên những vấn đề
như: cơ sở lí luận về TCHT, cách thức thiết kế, sử dụng TCHT thông qua các
nội dung chương trình hình thành những biểu tượng toán ban đầu cho trẻ. Bên
cạnh đó, tác giả cũng đã nêu lên những điều kiện, cách thức, phương tiện, bồi
dưỡng giáo viên cách thức việc sử dụng TCHT, cũng như xây dựng một số
TCHT trong việc dạy trẻ hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ
mầm non.
Bên cạnh đó có rất nhiều luận văn đã nghiên cứu về vấn đề thiết kế sử
dụng TCHT nhằm hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ, như tác giả
Lưu Ngọc Sơn qua đề tài “Kĩ năng thiết kế TCHT nhằm phát triển biểu tượng
không gian cho trẻ MG lớn (5-6 tuổi)”. Tác giả Phạm Thị Thu Thủy qua đề
tài “thiết kế và sử dụng TCHT nhằm hình thành biểu tượng hình dạng cho trẻ
5-6 tuổi”. Tác giả Lê Đình Hoàng qua đề tài “Thiết kế và sử dụng trò chơi
học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy trẻ 5-6 tuổi định hướng không gian” …
tất cả những đề tài trên đã đưa ra được những lí luận về cách thức thiết kế và
sử dụng TCHT nhằm hình thành và phát triển biểu tượng toán học cho trẻ.
Tuy nhiên, để hình thành và phát triển biểu tượng toán học thông qua TCHT
thì nhất thiết không thể thiếu tới sự QS của trẻ. Thế nhưng hiện nay, việc
nghiên cứu cách thức sử dụng TCHT theo một quy trình nhằm phát triển
KNQS thì chưa có cũng như chưa có công trình nào đi sâu vào việc nghiên cứu
riêng quá trình phát triển KNQS cho trẻ 5-6 tuổi thông qua TCHT trong hoạt
động LQVT một cách cụ thể. Do đó, bên cạnh việc tìm hiểu các công trình lý
luận nghiên cứu về KNQS nói chung của trẻ độ tuổi này, đề tài “Thiết kế và sử
dụng TCHT nhằm phát triển KNQS cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua hoạt động
LQVT” sẽ còn góp phần bổ sung, hệ thống hóa lại các công trình lí luận nghiên
12



Theo Từ điển tiếng Việt, 1992, Viện ngôn ngữ thì “Khả năng là cái có
thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điều kiện nhất định” Ở đây khả năng dựa
trên sự xuất hiện, tồn tại của hiện tượng nào đó. Ngoài ra, trong cuốn Từ điển
Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì “khả năng là cái có thể xuất hiện, có
thể xảy ra trong điều kiện nhất định”, vừa là “cái vốn có về vật chất và tinh
thần để có thể làm được việc gì.” [34, Tr528] khả năng được xem xét trên
phương diện như là một năng lực, phẩm chất của cá nhân. Từ điển ngôn ngữ
của Đại học Glasgow định nghĩa: Khả năng là năng lực thực hiện một nhiệm
vụ nào đó, được xem xét cả về mặt thể chất cũng như tinh thần, thậm chí cả
khả năng về mặt đáp ứng các yêu cầu mang tính vật chất” và chỉ ra nó có các
đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, khả năng là đa chiều và chỉ có một số khía cạnh của nó có
thể đo được.
Thứ hai, khả năng là sự kết hợp của những thiên hướng di truyền cộng
hưởng với môi trường, cá tính và các yếu tố theo ngữ cảnh.
Thứ ba, khả năng là phát triển. Điều này có nghĩa rằng những gì được
xem là khả năng cao với trẻ nhỏ có thể sẽ là có sự khác biệt nếu đặt trong địa
vị của người lớn.
Thứ tư, khả năng chỉ phát triển nếu như nó được nuôi dưỡng thông qua
các cơ hội hành động và sự hỗ trợ.
1.2.3. Khái niệm khả năng quan sát
Khả năng là năng lực thực hiện một nhiệm vụ nào đó cả về thể chất, tinh
thần, vật chất. QS là hình thức tri giác cao nhất, mang tính tích cực, chủ động
và có mục đích, có kế hoạch rõ rệt. Hình thức này diễn ra tương đối độc lập,

14


lâu dài nhằm phản ánh đầy đủ, rõ nét các sự vật, hiện tượng và những biến đổi
của chúng. Có một số nhà tâm lý học định nghĩa về KNQS, nhưng nhìn chung

- Tính tỉ mỉ, chu đáo của sự QS: Có KNQS đến cái chi tiết, chú ý đến
những mặt cá biệt của sự vật, cái tinh tế thậm chí những nét đặc trưng tương
đối kín đáo, thấy được sự khác biệt nhỏ nhặt nhất, chi tiết vụn vặt nhất.
- Tính liên tục của sự QS: Có khả năng kiên trì QS sự vật trong một
thời gian tương đối dài, không chuyển dịch đối tượng QS.
- Tính khái quát của sự QS: Khi QS một số đối tượng cùng loại, phát
hiện được những đặc điểm chung của các đối tượng đó để khái quát hóa và
phân loại chúng, thấy được mối liên hệ của một số sự vật, hiện tượng với nhau.
1.2.4. Khái niệm về trò chơi học tập
Tùy thuộc vào việc nhìn nhận TC theo chức năng, nguồn gốc, cấu
trúc… khác nhau mà TCHT được các tác giả gọi bằng các tên khác nhau như:
“TC dạy học”, “TC trí tuệ”, “TC phát triển”, “TC khó”…
Theo E.I.Chikhieva, TC được gọi là TCHT vì gắn liền với mục đích
dạy học nhất định và đòi hỏi phải có tài liệu dạy học phối hợp kèm theo,
P.G.Xamarucova cho rằng loại TC có nhiệm vụ chủ yếu là Giáo dục và phát
triển trí tuệ cho trẻ em. Như vậy, TCHT chủ yếu hướng vào việc giáo dục và
phát triển hoạt động nhận thức, tuy nhiên trong TCHT thì nhiệm vụ nhận thức
được đặt một cách gián tiếp thông qua nhiệm vụ chơi, TCHT được xem như
là phương pháp thực hành, trải nghiệm… một mặt củng cố kiến thức mặt khác
nhằm tiếp thu tri thức mới.
Theo nhà giáo dục nổi tiếng Macarenco (người Nga): “Trò chơi có một
ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của đứa trẻ chẳng khác gì sự làm việc,

16


sự phục vụ của người lớn…”. Không chơi đứa trẻ không phát triển được,
không chơi đứa trẻ chỉ tồn tại chứ không phải đang sống.
Xét về nguồn gốc, TCHT có nội dung và luật chơi do người lớn nghĩ ra
cho trẻ chơi. theo A.P.Uxôva, TCHT sẽ nhanh chóng trở thành bài tập nếu

Theo từ điển Tiếng Việt, thiết kế được hiểu theo hai nghĩa:
- Thiết kế (động từ) là làm đồ án, xây dựng một bản vẽ với tất cả những
tính toán cần thiết để theo đó mà xây dựng công trình sản xuất sản phẩm.
- Thiết kế (danh từ) là tập tài liệu kỹ thuật toàn bộ, gồm có bản tính
toán, bản vẽ để có thể theo đó mà xây dựng công trình, sản xuất thiết bị.
*Khái niệm thiết kế trò chơi học tập
Thiết kế TCHT là xây dựng mô hình TCHT trong đó có tên gọi của trò
chơi, nhiệm vụ chơi, cách chơi, luật chơi và cách thức tổ chức trò chơi.
1.2.6. Khái niệm thiết kế trò chơi học tập trong hoạt động làm quen
với toán nhằm phát triển khả năng quan sát cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
Thiết kế TCHT nhằm phát triển KNQS cho trẻ MG 5 – 6 tuổi là xây
dựng mô hình TCHT, trong đó có tên gọi của trò chơi, nhiệm vụ chơi, cách
chơi, luật chơi và cách thức tổ chức trò chơi nhằm phát triển KNQS và đạt
được những kiến thức, kỹ năng, thái độ về biểu tượng toán học học sơ đẳng
một cách phù hợp.
1.3.

Sự phát triển khả năng quan sát của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
1.3.1. Đặc điểm khả năng quan sát của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
QS là mức độ phát triển cao nhất của tri giác. Đó là loại tri giác có chủ

định, tương đối độc lập và lâu dài, cho phép trẻ phát hiện nhanh chóng,

18


chính xác những đặc điểm quan trọng, chủ yếu và đặc biệt của sự vật hiện
tượng. Ở lứa tuổi 5 – 6 tuổi, hoạt động QS của trẻ đã phức tạp hơn so với trẻ
lứa tuổi 3 – 5 tuổi về nhiệm vụ nhận thức, đối tượng QS và tính chất của
chúng cũng đa dạng và phong phú hơn, thời gian QS của trẻ đã có thể kéo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status