Cặp phạm trù lượng và chất trong nghiên cứu đia lí - Pdf 13

Cặp phạm trù lượng và chất (định tính và định lượng)
trong nghiên cứu Địa lí
PHẦN MỞ ĐẦU
Phạm trù theo nghĩa rộng là phản ánh những mặt, những thuộc tính, những
mối quan hệ chung cơ bản nhất của sự vật, hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhận
thức nhất định.
Trong triết học, các mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được
phép duy vật biện chứng khái quát thành các cặp phạm trù cơ bản như cái riêng,
cái chung, cái đơn nhất; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng; nguyên
nhân và kết quả; khả năng và hiện thực; nội dung và hình thức…Chúng được
hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động nhận thức, hoạt động cải tạo tự
nhiên và xã hội. Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là hệ
thống bất biến mà phát triển cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiển.
Mối quan hệ giữa các phạm trù của các ngành khoa học với các phạm tù của
phép biện chứng duy vật là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng. Do vậy, khi
nghiên cứu các phạm trù cần liên hệ chúng với nhau. Mỗi khoa học đều có các
cặp phạm trù:
Trong địa lí cũng có 6 cặp phạm trù: không gian và thời gian; nội dung và
hình thức; cái chung và cái riêng; liên tục và gián đoạn; lượng và chất (định tính
và định lượng); nguyên nhân và kết quả. Các cặp phạm trù của địa lí có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau và với các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật.
Trong 6 cặp phạm trù nói trên cặp phạm trù định lượng và định tính có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu địa lí. Việc nghiên cứu về định
tính và định lượng thành công bước đầu cho phép chúng ta vững tin ở việc áp
dụng các phương pháp định lượng trong nghiên cứu địa lí kinh tế xã hội. Khi
nắm vững quan điểm phương pháp luận nghiên cứu của địa lí kinh tế xã hội, có
định hướng nghiên cứu đúng, biết cách phát hiện vấn đề, thì nhà địa lí có thể vận
1
dụng đúng các phương pháp và phương tiện nghiên cứu hiện đại, nâng cao năng
suất và chất lượng nghiên cứu của mình. Đây cũng là nguồn động viên cho
những nhà địa lí trẻ có thể vững bước trên con đường nghiên cứu mà không sợ

từ thế kỉ 19, với một số nhà đại lí vĩ đại như Humbolt, Ritter, Tunen. Trong
những năm 30 của thế kỉ này đã có những mô hình không gian toán học nổi tiếng
của Chistaller, của Losch đã khích lệ rất nhiều nhà địa lí học ở các nước phương
Tây phát triển mô hình này. Những nhà địa lí trẻ ở Châu Âu đã đi đầu trong việc
nghiên cứu định lượng. Một loạt các công trình nghiên cứu của ông Chorley đã
được đánh giá cao trên thế giới và đã nhanh chóng được dịch ra tiếng Nga, giới
thiệu với các nhà địa lí Xô Viết. Đặc biệt trong công trình nghiên cứu của ông “
Địa lí học: Sự tổng hợp địa lí hiện đại” đã được đánh giá như là “Cuốn sách của
thế kỉ”. Cuốn sách nổi tiếng của David Harvey “ Giải thích khoa học trong địa lí”
đã đề cập đến khoa học trong địa lí, từ đó ta có thể hiểu được thấu đáo hơn mối
quan hệ giữa định lượng và định tính trong nghiên cứu địa lí.
Khẳng định việc nghiên cứu theo hướng định lượng trong địa lí học gặp không ít
quanh co. Sự cực đoan hóa, sùng bái các cộng cụ định lượng có thể dẫn đến chủ
nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa thực chứng mới, và nếu không thận trọng thì người
đọc thậm chí người nghiên cứu có thể bị đánh lừa vì bản chất không khoa học lại
được che đậy bằng cái vỏ có vẻ rất khoa học, hiện đại. Một điều còn có thể thấy
trong kinh nghiệm của thế giới là trong khi các nhà địa lí trẻ đón nhận phương
hướng định lượng rất nhiệt tình thì các nhà địa lí lão thành tỏ ra rất thận trọng. Sự
can thiệp của các cộng cụ định lượng không chỉ là cuộc cách mạng trong phương
pháp nghiên cứu, mà còn làm lay chuyển cả nền tảng phương pháp luận của khoa
3
học địa lí, và đương nhiên sẽ không dễ gì khi chúng ta phải thay đổi, thậm chí
phải loại bỏ kho tàng tri thức của khoa học địa lí những điều gần như đã được
mặc nhiên thừa nhận. Ở Việt Nam, việc tạo ra sự phát triển kế tiếp giữa các
phương pháp định tính, định lượng, đồng thời từng bước làm giàu thêm cả về
phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thông qua các thử nghiệm áp dụng
định lượng sẽ đem lại kết quả tốt.
1. Quan niệm về mối quan hệ giữa định tính và định lượng trong nghiên cứu
địa lí
Mối quan hệ này có cơ sở trước hết từ bản chất của quá trình nhận thức: Từ trực

Có thể bắt đầu đi từ định tính => định lượng => định tính… => định tính ( Đó là
cái đích cuối cùng). Chỉ khi nào đưa ra được định tính thì mới đưa ra được
khuyến cáo về biện pháp. Ví dụ mức sống càng tăng thì tỉ lệ sinh càng giảm. Nếu
mọi quy luật xã hội đều mô tả bằng một câu đơn giản thì sẽ không tồn tại. Mức
sống tăng nhiều nước có mức sinh cao và họ quan tâm đến giáo dục và y tế.
Như vậy từ định tính => Định lượng => Định tính
Thống kê Trực tiếp, đồng pha (trễ)
Khi nói đến định tính ban đầu đầu tiên ta phải tìm dấu hiệu bên ngoài. Điều này
đòi hỏi người nghiên cứu phải biết lọc những dấu hiệu nào mang tính bản chất,
dấu hiệu nào không bản chất hay không cơ bản.
Ví dụ:
Nguyên nhân tại sao ở đồng bằng sông Cửu Long, diện tích đất phèn và
đất mặn lớn nhất cả nước. Ta đưa ra một số nguyên nhân: do giáp biển, do địa
hình thấp, do khí hậu…nhưng nguyên nhân chính là gì? Nguyên nhân cơ bản là
do chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển và mùa khô kéo dài.
5
Theo dõi thấy ở Hải Phòng hàng năm tôm chết hàng loạt mà thời điểm tôm
chết của các năm lại trùng vào một tháng. Người ta đưa ra một số nguyên nhân
như sau: do nhiệt độ, do môi trường…, nhưng nguyên nhân chính là gì? Sau một
thời gian tìm hiểu kiểm tra thì các nhà khoa học đưa ra nguyên nhân chính là do
hàng năm cứ vào tháng đó có lũ lớn đưa nước mặn từ biển vào nên tôm bị chết.
2.2. Từ định tính => Đo đạc ra các chỉ tiêu (định lượng). Tiêu chí là tập hợp các
chỉ tiêu để phản ánh đặc trưng cơ bản. Các tiêu chí đưa ra phải khái quát, chỉ tiêu
phải cụ thể và đo đạc được.
Việc lựa chọn các chỉ tiêu để phân tích, đưa vào các mô hình định lượng
có ý nghĩa quyết định đầu tiên. Trong nghiên cứu địa lí tự nhiên, ta hay nói đến
phương pháp chỉ thị dùng một thông số nào đó làm chỉ thị chính xác hay quá
trình cần nghiên cứu. Trong nghiên cứu địa lí kinh tế xã hội, cách áp dụng này
cũng rất có hiệu quả.
Chẳng hạn, khi nghiên cứu về đô thị hóa, ta có định nghĩa về đô thị hóa:

độ về mùa đông và mùa hè, có những năm chưa thấy tuyết rơi, quan sát các núi
tuyết thấy lượng tuyết bị mất đi qua các năm. Như vậy đánh giá một hiện tượng
phải xem xét nó trong mối quan hệ với nhau chúng là tấm gương phản chiếu của
nhau. Không bao giờ được trả lời là không mà phải tìm ra các chỉ tiêu khác để
thay thế.
Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu: sử dụng số liệu thống kê trong giảng dạy
địa lí kinh tế xã hội là rất quan trọng. Ví dụ: Tìm hiểu về chất lượng cuộc sống
bao gồm các chỉ tiêu: GDP/ đầu người, tuổi thọ trung bình, trình độ học vấn. vấn
đề quan trọng là phải lí giải được tính đại diện của các chỉ tiêu này.
Các chỉ tiêu độc lập với nhau:
- Chỉ tiêu nhà kiên cố
7
- Chỉ tiêu nhà bán kiên cố
- Chỉ tiêu nhà tạm
Trong đó, chỉ tiêu nhà tạm phản ánh tỉ lệ nghèo. Chỉ tiêu nhà kiên cố phản ánh sự
khởi sắc của đất nước.
2.3. Bài toán phân tích tương quan
Có nhiều bài toán tính hệ số tương quan. Chúng ta tính hệ số tương quan
giữa các đơn vị lãnh thổ theo bộ chỉ tiêu đó, từ đó thấy được sự tương đồng và
khác biệt của cấu trúc lãnh thổ theo bộ chỉ tiêu đã chọn. Điều đáng chú ý là khi
chọn thông tin gốc để tính tương quan, độ phân tích giảm khi đưa vào các chỉ
tiêu phụ thuộc và khi sử dụng các chuỗi nhỏ. Việc tính hệ số tương quan cặp hiện
nay đã trở nên dễ dàng nhờ sự trợ giúp của các phần mềm xử lí như Exel. Các kết
quả tính toán có thể trình bày bản đồ hệ số tương quan hoặc dưới dạng ma trận
tương quan.
2.4. Mô hình hóa bằng toán học và bằng bản đồ
Có thể mô hình một chiều hoặc hai chiều. Trong mô hình hóa thì phân tích
đa biến (Multivariate analysis).
Ví dụ:
Đồng bằng sông Hồng là nơi vựa người, vựa của của cuộc kháng chiến,

vấn đề của vấn đề di cư là liên quan đến thị trường lao động
Ví dụ: Trong sự phân bố về trang trại thì đồng bằng sông Hồng số lượng
trang trại tăng lên rất nhanh trong những năm gần đây. Điều này lí giải như thế
nào. Trước hết phải tìm hiểu có bao nhiêu loại trạng trại, ở đồng bằng sông Hồng
có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển trang trại nhưng không sử dụng nhiều
tài nguyên đất.
2.6. Phân tích hồi quy
9
Phân tích hồi quy có mô hình hồi quy một chiều và hồi quy không gian.
Hồi quy một chiều chỉ ra sự phụ thuộc của một hiện tượng này vào một
hiện tượng khác, là guyên nhân quan trọng nhất của sự phổ biến và phát triển của
nó. Nó được dùng để giải các bài toán nội suy và ngoại suy.
Hồi quy không gian lại phân tích sự phụ thuộc của hiện tượng địa lí vào
các tọa độ không gian. Nó là phương pháp hữu hiệu để mô hình hóa các bản đồ
trường địa lí, bao gồm bản đồ mặt phông, bản đồ phần dư.
Ví dụ lập phương trình hồi quy phản ánh quan hệ tương quan giữa đánh
giá kinh tế đất và năng suất trung bình và mức lãi. Việc ứng dụng phương pháp
này vào hoàn cảnh Việt Nam, lập các phương trình hồi quy như vậy có thể làm
cơ sở để xác định các định mức về năng suất và mức lãi để điều chỉnh hạng mức
thuế nông nghiệp theo hạng kinh tế đất.
Trong nghiên cứu trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa hộ nông nghiệp
và đất nông nghiệp tính bình quân trên một hộ nông thôn đã xác định đường hồi
quy và cho phép rút ra kết luận rằng: Dân số nông thôn đồng bằng sông Hồng
gây sức ép lên đất đai, sự hạn chế trong việc bảo đảm tài nguyên lại trở thành sức
ép, buộc người nông dân phải thay đổi hoạt động kinh tế sang các hoạt động phi
nông nghiệp.
2.7. Mô hình phân loại
Trong nghiên cứu địa lí kinh tế xã hội hay trong kinh tế vùng nhiều khi
phải tiến hành phân loại, gộp nhóm các đối tượng nghiên cứu muôn vẻ vào các
lớp nhất định để nhận dạng chúng và đánh giá, xem xét sự phân bố của chúng

11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status