Lời nói đầu
Đại hội VI (năm 1986), tiếp đó là các Đại hội VII và VIII của Đảng đã
đề ra đờng lối đổi mới sâu sắc và toàn diện đất nớc, trong đó đổi mới về kinh tế
là nhiệm vụ trọng tâm và đổi mới hệ thống doang nghiệp Nhà nớc (DNNN) là
khâu đột phá. Trong 10 năm qua, thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, các cơ
quan Đảng và Nhà nớc ở Trung ơng đã ban hành trên 200 văn bản về sắp xếp lại
và đổi mới cơ chế quản lý các DNNN. Đến nay hệ thống DNNN đã đợc sắp xếp
lại một bớc khá căn bản, đã giảm quá nửa số doanh nghiệp (những doanh
nghiệp nhỏ bé và yếu kém) và số doanh nhiệp còn lại đợc củng cố một bớc, cơ
chế quản lý mới đợc hình thành, ngày càng hoàn thiện giúp các DN chuyển đổi
và thích nghi dần với các quy luật của kinh tế thị trờng trong bối cảnh nền kinh
tế mở, hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích vẫn còn nhiều
tồn tại và hạn chế. Trớc những yêu cầu to lớn của CNH, HĐH đất nớc và cạnh
tranh trên thị trờng ngày càng gay gắt, cần tiếp tục đổi mới các DNNN. Công
việc này gồm hai nội dung lớn: sắp xếp lại các doanh nghiệp và đổi mới cơ chế
quản lý. Trong đó Cổ phần hoá (CPH) một bộ phận DNNN là một trong 4 nội
dung đổi mới quản lý DNNN. Hiện nay nó đợc coi là một chủ trơng quan trọmg
của Đảng và Nhà nớc trong việc huy động vốn của mọi tầng lớp và nâng cao
tính tự, lực tự giác, nâng cao tinh thần trách nhiệm của những ngời trực tiếp gắn
lợi ích của mình với lợi ích của DN. Thông qua đó từng bớc cải thiện quan hệ
sản xuất phù hợp với sự thay đổi của lực lợng sản xuất trong công cuộc CNH,
HĐH đất nớc, từng bớc đa nền kinh tế nớc nhà đi lên tránh nguy cơ tụt hậu xa
hơn so với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Chơng trình CPH đã đợc triển khai từ giữa năm 1992, theo tinh thần của
Quyết định 202/CT-HĐBT về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp thành
Công ty cổ phần (ngày 08/06/1992). Cho đến nay, những thành công mà ch-
ơng trình CPH mang lại không phải là ít nhng vẫn tồn tại những bất cập cần kịp
thời nhìn nhận và tháo gỡ. Trong khuân khổ bài viết này chúng ta hãy cùng xem
xét thực trạng cũng nh những mặt đợc và cha đợc của chơng trình CPH ở nớc ta
trong thời gian vừa qua, từ đó đề xuất một số giải pháp cho thời gian sắp tới.
Tuy nhiên do mới làm quen với công việc nghiên cứu nên bài viết này
- Vốn của CTCP là do nhiều ngời đóng góp
- CTCP huy động vốn thông qua phát hành cổ phần và trái phiếu
- Là hình thức doanh nghiệp có t cách pháp nhân chỉ dành cho những ngời có
tài sản lu động độc lập với tài sản của chủ doanh nghiệp. Công ty có quyền trực
tiếp ký kết các hợp đồng kinh tế và thực thi các nghĩa vụ nh các doanh nghiệp
khác trớc pháp luật.
- Là công ty có trách nhiệm pháp lý hữu hạn. Các thành viên trong công ty có
quyền và nghĩa vụ trong phạm vi phần vốn góp của mình.
2
* Hình thức tổ chức của một công ty cổ phần
- Đại hội cổ đông: Là đại hội của tất cả những ngời tham gia mua cổ phiếu. Đây
là bộ máy quan trọng nhất trong CTCP có quyền quyết định toàn bộ các hoạt
động cuả công ty. Đại hội cổ đông có quyền:
+ Quyết định mục tiêu và phơng hớng nhiệm vụ kinh doanh của công ty
+ Quyền thông qua điều lệ, bổ sung và sửa đổi điều lệ của công ty
+ Quyền thông qua quyết toán tài chính hàng năm và quyền phân chia thành
quả kinh doanh
+ Quyền bầu cử hoặc bãi miễn các thành viên trong hội đồng quản trị
- Hội đồng quản trị là cơ quan do đại hội cổ đông bầu ra để điều hành công ty
giữa hai kỳ đại hội. Thành viên của hội đồng quản trị về nguyên tắc phải là các
cổ đông và thờng là ngời nắm giữ số cổ phiếu cao nhất. Hội đồng quản trị thay
mặt những ngời sở hữu công ty tổ chức, quản lý và giải quyết những vấn đề có
liên quan đến mục đích và quyền lợi phát triển của công ty. Trong Hội đồng quản
trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị là ngời có quyền hạn cao nhất và là ngời có số
vốn góp lớn nhất.
- Giám đốc điều hành (Tổng giám đốc) hay những thành viên trong ban giám
đốc là những ngời có năng lực quản lý điều hành toàn bộ các hoạt động sản xuất
- kinh doanh của CTCP. Thành viên ban giám đốc có thể là một trong số những
cổ đông hoặc có thể do Hội đồng quản trị thuê từ bên ngoài.
- Ban kiểm soát: Do đại hội cổ đông bầu ra và thành viên của Ban kiểm soát
có khả năng huy động đợc một lợng vốn lớn chỉ trong một thời gian ngắn. Cách
thu hút vốn của CTCP không chỉ dừng lại ở những nhà đầu t lớn mà còn hấp dẫn
đợc một lợng tiền khá lớn đang nằm rải rác trong dân c kể cả những ngời nghèo
cũng có thể tham gia mua cổ phần bởi hầu hết các cổ phiếu có mệnh giá thấp.
Hơn nữa việc đầu t vào các CTCP thờng đem lại lợi ích hơn so với việc gửi tiền
vào các quĩ tín dụng hay ngân hàng. Thông thờng lợi tức do cổ phiếu đem lại th-
ờng cao hơn lãi suất tiền gửi.
* Đem lại hiệu quả kinh doanh cao, góp phần phát triển kinh tế đất nớc.
Trong CTCP các cổ đông không có quyền rút vốn ra khỏi công ty mà chỉ đợc
mua, bán, chuyển nhợng phần góp của mình cho những ngời khác thông qua thị
trờng. Do vậy mà số lợng vốn của công ty luôn ổn định không bị biến động ngay
cả trờng cổ đông chết hoặc vi phạm pháp luật. Hơn nữa với việc huy động vốn
nh trên đã tạo cho CTCP nhanh chóng có đợc một khối lợng vốn lớn, có điều
kiện tận dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, nâng cao năng suất lao động, tận dụng
đợc các cơ hội kinh doanh và thích ứng nhanh đợc với những biến động của thị
trờng. Do vậy kết quả kinh doanh mà các CTCP đem lại thờng cao.
* CTCP có vai trò quan trọng thúc đẩy sự ra đời của thị trờng chứng khoán.
* CTCP tạo điều kiện thực hiện xã hội hoá các hình thức sở hữu. Với loại
hình CTCP, các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế liên kết với nhau tạo
điều kiện tập trung xã hội hoá về mặt t liệu sản xuất và sức lao động. Thông qua
4
hoạt động mua bán cổ phiếu ngời lao động trực tiếp tham gia vào hoạt động
quản lý của CTCP với t cách là ngời sở hữu đích thực của công ty.
1.2. Khái niệm, mục tiêu và hình thức cổ phần hoá DNNN
1.2.1. Khái niệm
Cổ phần hoá DNNN là một con đờng hình thành nên CTCP. Đây là quá trình
nhà nớc chuyển các doanh nghiệp của mình vào tay các cổ đông thuộc các thành
phần kinh tế khác. Theo thông t của Bộ Tài chính số 50 TC/TCDN ngày
30/8/1996 khẳng định DNNN chuyển thành CTCP (hay còn gọi là cổ phần hoá
DNNN) là một biện pháp chuyển DNNN từ sở hữu nhà nớc sang hình thức sở
- Phải huy động đợc một khối lợng vốn trong nớc và ngoài nớc để đầu t cho
sản xuất kinh doanh.
- Tạo điều kiện cho ngời lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp.
Sau một thời gian tiến hành thí điểm cổ phần hoá, chính phủ đã có sự
nghiên cứu và sửa đổi nội dung mục tiêu cổ phần hoá cho phù hợp với điều kiện
kinh tế đất nớc và xu thế biến đổi chung của thị trờng. Theo nghị định 44 CP
ngày 29/6/1998 thì mục tiêu cổ phần hoá đợc rút gọn từ ba mục tiêu xuống còn
hai nhng nội dung chính vẫn đợc giữ nguyên. Cụ thể:
Mục tiêu 1: Huy động vốn của toàn xã hội bao gồm các cá nhân, các tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm
việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu
DNNN.
Mục tiêu 2: Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và
những ngời góp vốn đợc làm chủ thực sự, thay đổi phơng thức quản lý tạo động
lực thúc đẩy cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nớc,
nâng cao thu nhập cho ngời lao động, góp phần tăng trởng kinh tế đất nớc.
Về nội dung, mục tiêu cổ phần hoá DNNN theo nghị định trên vẫn quán
triệt t tởng về cổ phần hoá là nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh
tranh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó là phát huy quyền làm chủ của ngời lao
động. Hai mục tiêu cổ phần hoá lần này đợc đa ra sau một thời gian thử nghiệm
và tiến hành, đợc đúc rút từ kinh nghiệm thực tế. Do vậy, nó mang tính xác thực
hơn so với ba mục tiêu ở quyết định 202/CT, đồng thời việc thực hiện hai mục
tiêu này sẽ thúc đẩy và kéo theo các mục tiêu khác đợc thực hiện nh:
+ Giảm bớt các DNNN để từ đó giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà n-
ớc.
+ Việc đa dạng quyền sở hữu DNNN sẽ hình thành sự liên kết chặt chẽ giữa
các DNNN với các thành phần kinh tế khác do đó tạo ra sức mạnh và động lực
thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trờng thế giới. Đây là mục
tiêu dài hạn cho nền kinh tế nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng.
+ Việc huy động vốn của CTCP sẽ là sợi dây liên kết chặt chẽ giữa các
2.1. Cổ phần hoá ở Việt Nam qua các giai đoạn
2.1.1. Giai đoạn I (Từ tháng 6/1992 đến tháng 4/1996) - Những bớc
thử nghiệm đầu tiên
- Ngày 08/06/1992, chủ tịch HĐBT đã ra quyết định 202/CT cho phép lựa
chọn và triển khai thí điểm cổ phần hoá ở một số DNNN. Mốc quan trọng này
mở ra một hớng đi mới cho việc cải cách DNNN ở Việt Nam.
- Ngày 04/03/1993, Thủ tớng chính phủ ra chỉ thị 84/TTg về việc xúc tiến
cổ phần hoá DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với các
DNNN.
+ Về mục tiêu của giai đoạn này là thí điểm cổ phần hoá để từ đó rút ra kinh
nghiệm và mở rộng việc cổ phần hoá sau này.
+ Về đối tợng cổ phần hoá ở giai đoạn này là các DNNN kinh doanh trong
các nghành thông dụng, không có ý nghĩa chiến lợc đối với nền kinh tế quốc dân
(nh dịch vụ và công nghiệp).
Trong giai đoạn này, Nhà nớc áp dụng hình thức chuyển một phần sở hữu
Nhà nớc dới dạng bán cổ phần DNNN sang sở hữu t nhân. Sau khi cổ phần hoá,
DNNN chuyển sang hoạt động theo luật công ty. Đối với công nhân viên chức
trong doanh nghiệp, ngời lao động đợc mua cổ phiếu trả chậm với thời gian
không quá 12 tháng.
ở giai đoạn thí điểm này, các bộ, nghành địa phơng đã hớng dẫn DNNN
đăng kí thực hiện cổ phần hoá. Trên cơ sở số lợng DNNN dăng kí, chủ tịch
HĐBT (nay là Thủ tớng chính phủ) đã ra quyết định số 203/CT thí điểm chọn 7
DNNN do HĐBT chỉ đạo trực tiếp đó là:
1.Nhà máy xà phòng Việt Nam (Bộ Công nghiệp)
2.Nhà máy diêm Thống Nhất (Bộ Công nghiệp)
3.Xí nghiệp nguyên vật liệu chế biến thức ăn gia súc Hà Nội (Bộ Công
nghiệp)
4.Xí nghiệp chế biến gỗ Lạng Long Bình (Bộ Nông nghiệp)
5.Công ty vật t tổng hợp Hải Hng (Bộ Thơng mại)
6.Xí nghiệp sản xuất bao bì (Thành phố Hà Nội)
Tổng số vốn cao nhất là 16 tỷ đồng (công ty cơ điện lạnh Thành phố HCM) và
thấp nhất là 3,5 tỷ (công ty chế biến hàng xuất khẩu Long An).
+ Nhà nớc nắm giữ 28,25% (tính bình quân) trong tổng số vốn điều lệ. Nh
vậy, Nhà nớc không nắm mức cổ phần chi phối. Tỉ lệ vốn nhà nớc trong các công
ty cao nhất chỉ ở mức 30,2%, còn lại hầu nh các cổ phiếu do cổ đông trong công
ty nắm giữ. Tỉ lệ vốn do các cổ đông ngoài công ty đóng góp rất nhỏ, tính bình
quân chỉ chiếm16,37%,
Tóm lại, từ khi có chủ trơng cổ phần hoá DNNN vào năm 1987 thì phải đến
6 năm sau (tháng 7/1993), nhà nớc ta mới cổ phần hóa đợc 5 doanh nghiệp. Điều
này cho thấy tiến thình cổ phần hoá diễn ra rất chậm. Sự chậm trễ này là do cha
thông suốt các quan điểm, chủ trơng của Đảng và Nhà nớc ta về cổ phần hoá.
2.1.2. Giai đoạn II (Từ tháng 05/1996 đến 05/1998) - Thời kỳ mở
rộng công tác cổ phần hoá
Giai đoạn này đợc đánh dấu bằng việc chính phủ ban hành nghị định 28CP
ngày 07/05/1995. Lần đầu tiên đã có một qui định một cách có hệ thống từ mục
đích, yêu cầu, đối tợng đến phơng thức tiến hành, chế độ đủ với ngời lao động.
Ngoài ra, còn có :
9
- Nghị định 25/CP ngày 26/03/1996 sửa đổi một số điểm của nghị định
28/CP.
- Quyết định 548/TTg ngày 13/08/1996 của Thủ tớng chính phủ về việc
thành lập các Ban chỉ đạo cổ phần hoá.
- Quyết định 01/CPH ngày 04/09/1996 của Trởng ban chỉ đạo trung ơng về
cổ phần hoá, về ban hành qui trình chuyển DNNN thành CTCP.
- Thông t 50/TC-TCDN ngày 30/08/1996 của Bộ Tài chính hớng dẫn vấn đề
tài chính theo nghị định 28/CP.
- Thông t 17/LĐTBXH-TT ngày 07/09/1996 của Bộ Lao động thơng binh và
xã hội hớng dẫn chính sách với ngời lao động.
- Tháng 12/1997, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng đã ra nghị
quyết, trong đó nêu rõ định hớng và giải pháp cổ phần hoá một bộ phận DNNN
hoá. Trong năm 1996, thành phố đã mở lớp tập huấn cho trên 100 cán bộ thuộc
DNNN về cổ phần hoá, tại các lớp chuyên viên kinh tế đã hớng dẫn tỷ mỉ về
Nghị định 28/CP và lập ra các DNNN sẽ cổ phần hoá, kèm theo các hớng dẫn cụ
thể. Riêng Hà Nội trong năm 1997 chỉ cổ phần hoá đợc 1 doanh nghiệp, chậm
nhất trong cả nớc.
Bảng 2: Danh sách 13 doanh nghiệp chuyển sang CTCP
(Tính đến hết năm 1997)
Ngày Tổng Cơ cấu vốn (%)
TT
Tên DN
CPH số vốn
(triệu
đồng)
NN CNVC
trong
DN
Cổ
đông
ngoài
1.
C/ty xe khách Hải Phòng
01/09/96 2.915 30 70 0
2. Khai thác đá Đồng Giao 01/09/96 3.200 49,8 30,7 19,5
3. C/ty đầu t sản xuất TMại 01/07/96 356 0 100 0
4. XN tàu thuyền Bình Định 01/07/96 1.150 51 19 30
5. XN ong mật TP Hồ Chí Minh 01/07/96 2.500 30 18,5 51,5
6. Khách sạn Sài Gòn 01/07/96 1.800 40 40 20
7. C/ty CBXK thuỷ sản Minh Hải 01/01/97 10.000 51 29 20
8. XN sơn Bạch Tuyết 01/11/97 20.000 35 45 20
9. C/ty bông Bạch Tuyết 05/11/97 11.370 30 57 13
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu tăng: 14,1%/năm
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tăng: 74,6%/năm
* Tài sản của DNNN đợc đánh giá lại chính xác hơn: Lâu nay, tài sản thuộc
các DNNN bị đánh giá thấp, khấu hao tích nộp rất thấp, không đủ bù đắp vốn để
tái đầu t, mở rộng phát triển sản xuất. Thông qua việc cổ phần hoá 18 doanh
nghiệp trong giai đoạn trớc 01/01/1998, tổng giá trị đánh giá lại đã tăng 48,8%
so với tổng giá trị hạch toán.
* Nhà nớc tăng nguồn thu ngân sách: thông qua tiền bán cổ phần và tiền lợi
tức. Từ đó có thể đầu t vào những lĩnh vực và vào các doanh nghiệp khác cần
thiết hơn.
* T tởng cổ phần hoá đã đợc thống nhất hơn. Cán bộ lãnh đạo cũng nh công
nhân viên chức hiểu đợc mục tiêu, lợi ích của chủ trơng cổ phần hoá nhiều hơn,
tốt hơn so với trớc kia.
ở trên là những mặt mà doanh nghiệp và Nhà nớc đã làm đợc. Tuy vậy, vẫn
còn có những mặt còn tồn tại nh:
Về phía doanh nghiệp
+ Các doanh nghiệp nhìn chung cha có phơng án phát triển sản xuất kinh
doanh hiệu quả, cha tìm ra hớng đầu t mới. Nhiều CTCP thừa vốn không biết
12
dùng vào việc gì và phải cho vay vốn. Trong khi đó, những doanh nghiệp cổ phần
có vốn lớn huy động vốn thêm để mở rộng sản xuất lại chiếm một tỷ lệ quá thấp,
vì tâm lý của cổ đông cũ là không muốn chia sẻ quyền lực.
+ Tập thể ban lãnh đạo nhiều doanh nghiệp cha thực sự ủng hộ cổ phần hoá.
Họ sợ mất quyền chức, nhiều ngời cha quen với cơ chế mới sau khi cổ phần hoá
nên sợ không thích nghi với cơ chế thị trờng, không đủ đứng vững, cạnh tranh
trên thơng trờng. Còn công nhân viên chức yếu kém về trình độ thì lo mất việc
làm.
+ Kiểm toán cha thực hiện chức năng của mình. Chi phí kiểm toán cao, chỉ
kiểm toán đợc hạch toán của doanh nghiệp, còn cha xác định đúng giá trị doanh
nghiệp.
trên.
- Về phơng thức tiến hành: Bên cạnh 3 hình thức cổ phần hoá đã nêu trên
trong nghị định 28/CP còn thêm hình thức bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn
Nhà nớc tại doanh nghiệp để chuyển thành CTCP.
- Trong giai đoạn này, đối tợng cổ phần hoá là tất cả các DNNN mà Nhà n-
ớc không cần tiếp tục nắm giữ 100% vốn đầu t, không phân biệt qui mô vốn và
lao động.
Năm 1998 đợc coi là năm của cổ phần hoá. Tuy cha đạt tới chỉ tiêu đề ra
là 150 doanh nghiệp nhng số doanh nghiệp cổ phần hoá đã tăng nhanh. Đã có
đến 5 bộ, 27 tỉnh, thành phố trực thuộc TW và 5 tổng công ty Nhà nớc có doanh
nghiệp cổ phần hoá. Tính đến hết ngày 31/12/1998 cả nớc đã có 116 doanh
nghiệp đợc cổ phần hoá.
Đến hết năm1998, các địa phơng đã cơ bản hoàn thành việc phân loại và lập
lại đề án sắp xếp DNNN. Hai thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh đã hoàn thành
việc phê duyệt đề án và đã xây dựng đợc số DNNN chuyển sang CTCP đến hết
năm 2000. Riêng Hà Nội, năm 1998 vừa qua là một năm thành công, đã thực
hiện cổ phần hoá đợc 30 DNNN, chiếm 25% tổng số DNNN đợc cổ phần hoá.
Năm 1999, chỉ tiêu đặt ra là phải cổ phần hoá đợc 400 DNNN. Trong 6
tháng đầu năm 1999, chúng ta đã cổ phần hoá đợc 70 doanh nghiệp và ngày càng
có nhiều DNNN lớn tham gia vào cổ phần hoá nh: Tổng công ty xăng dầu, Hãng
hàng không Việt Nam. Hiện đã có 4 doanh nghiệp bán cổ phiếu cho ngời nớc
ngoài: Công ty cơ điện lạnh, CTCP chế biến hàng xuất khẩu Long An, CTCP đồ
hộp Hạ Long và Công ty may Bình Minh. Trong đó, Công ty may Bình Minh đã
bán cho công ty của Nhật và Mỹ 36.000 cổ phần trên tổng số 180.000, trị giá 3,6
tỷ đồng, bằng 20% vốn điều lệ của CTCP. Sau khi cổ phần hoá, bình quân các
doanh nghiệp có:
- Doanh thu tăng 2,3 lần
- Lợi nhuận sau thuế tăng 2,5 lần
- Nộp ngân sách Nhà nớc tăng 2,5 lần
- Cổ tức bình quân đạt 2-3%/tháng.
2 Xây dựng 9 6 66,7 15 4,1
3 GTVT 17 21 123,5 38 10,3
4 Thơng mại-Dịch vụ 41 110 268,3 151 40,8
5 Nông nghiệp-Thuỷ sản 9 7 77,8 16 4,3
Tổng số 120 250 208,3 370 100,0
Giá trị doanh nghiệp thuộc vốn Nhà nớc khá nhỏ. Đến cuối năm 1999, tổng vốn Nhà
nớc ở các DNNN cổ phần hoá chiếm khoảng trên 1% vốn Nhà nớc ở các DNNN, tơng đơng
với trên 1000 tỷ. Với tốc độ này, nếu cổ phần hoá 30% vốn Nhà nớc ở DNNN chúng ta phải
mất 30 năm nữa. Điều này một phần do chúng ta cha tập chung vào cổ phần hoá các doanh
nghiệp thành viên thuộc Tổng công ty 90 và 91 (hiện mới cổ phần hoá đợc 28 doanh nghiệp).
Hiện nay cả nớc có 17 tổng công ty 91 và 74 tổng công ty 90 với 1150 doanh nghiệp thành
viên hạch toán độc lập.
Tổng số DNNN Tổng công ty
91(%)
Tổng công ty
90(%)
Doanh nghiệp
còn lại (%)
Vốn 102.650 tỷ đồng 54,9 17 28,1
15
Lao động 1.492.264 tỷ đồng 39,8 28 32,2
Doanh thu 310.000 tỷ đồng 26,4 23,4 50,2
Lợi nhuận trớc thuế 13.439 tỷ đồng 64,2 18,8 17
Nộp ngân sách 34.500 tỷ đồng 54,9 25,1 20
Thực tế này chúng ta cần có cách nhìn mới về tổng công ty Nhà nớc: Xã hội
hoá đầu t, cổ phần hoá DNNN tiến triển nhanh khi các tổng công ty này cổ phần
hoá ít nhất 50% vốn hoặc 50% thành viên. Điều này không ảnh hởng đến mô
hình tập đoàn kinh doanh, doanh nghiệp của Nhà nớc, trong đó Nhà nớc nắm đến
trên 50% vốn vẫn đủ chi phối để thực hiện nhiệm vụ cân đối cung cầu cơ bản của
nền kinh tế.
mạnh dạn áp dụng hình thức giao, bán doanh nghiệp nh: Nam Định (13 doanh
nghiệp bán, 2 doanh nghiệp khoán); Bắc Giang (bán 5 doanh nghiệp); Phú Thọ
(giao 5 doanh nghiệp); Hà Nội (bán 4 doanh nghiệp),
Ngoài số doanh nghiệp đã hoàn thành chuyển đổi sở hữu, hiện còn gần 100
doanh nghiệp đã xác định xong giá trị doanh nghiệp đang triển khai các bớc tiếp
theo.
Kế hoạch năm
2000
Số doanh nghiệp chuyển đổi
trong năm 2000
Tỷ lệ so với kế
hoạch
Tổng số 692 250 36%
Khối bộ, nghành 137 40 29%
Khối địa phơng 484 192 40%
Khối T.Cty 91 71 18 25%
Các doanh nghiệp đã cổ phần hoá thuộc các bộ, nghành, T.Cty 91 chiếm
27%; thuộc các địa phơng chiếm 73%. Trong tổng số các doanh nghiệp đã cổ
phần hoá, lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông, chiếm 57%; lĩnh vực th-
ơng mại dịch vụ chiếm 38%; lĩnh vực nông, lâm, ng nghiệp và thuỷ sản chiếm
5%. Các công ty mía đờng nh Lam Sơn và La Ngà đã thực hiện cổ phần hoá theo
hớng Nhà nớc giữ cổ phần chi phối, đồng thời khuyến khích nông dân sản xuất
nguyên liệu mua cổ phần của công ty.
Theo báo cáo từ Ban đổi mới doanh nghiệp Bộ công nghiệp, từ đầu năm
2001 đến nay đã có thêm 2 doanh nghiệp của Bộ hoàn thành cổ phần hoá. Đó là
Xí nghiệp số 5 và số 6 (thuộc T.Cty Dệt may) có giá trị tài sản 10,45 tỷ đồng,
trong đó vốn Nhà nớc 5,18 tỷ đồng. Đơn vị thứ 2 là Nhà máy vật liệu điện (thuộc
T.Cty thiết bị kỹ thuật điện) có tổng giá trị tài sản là 5,2 tỷ đồng, trong đó vốn
Nhà nớc tại doanh nghiệp là 2,84 tỷ đồng.
Đồng thời, báo cáo từ Ban đổi mới và phát triển DNNN (Bộ GTVT) cho biết
gấp 10 lần, doanh thu tăng 10 lần, lao động tăng 4 lần, thu nhập ngời lao động
cũng tăng 4 lần. Tại 22 doanh nghiệp đợc cổ phần hoá thuộc Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn hiệu quả này phản ánh qua chỉ tiêu vốn năm 1999 tăng lên
359,5 tỷ đồng so với 280,1 tỷ của năm 1998 (tức là đã huy động thêm đợc 79 tỷ).
Những đơn vị cổ phần hoá từ 1 năm trở lên đều có bớc tiến lạc quan: Doanh thu
tăng 30%, lợi nhuận thực hiện tăng hơn 30%, nộp ngân sách tăng 15-18%, thu
nhập ngời lao động tăng từ 1,2 lần lên 1,5 lấn so với trớc cổ phần hoá. Nhờ kết
quả kinh doanh tốt, các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá vừa cứu vãn đợc nguy cơ
đổ vỡ nhiều DNNN, vừa tăng phần nộp ngân sách và tăng thu nhập cho ngời lao
động. Còn đối với Nhà nớc thông qua việc bán cổ phần, Nhà nớc cũng đã thu về
một lợng vốn đáng kể.
2.2.2 Những tồn tại của quá trình cổ phần hoá và những hạn chế
cần khắc phục
Kể từ thời điểm tiến hành cổ phần hoá DNNN đầu tiên (07/1993), tiến độ cổ
phần hoá hầu nh không năm nào đạt chỉ tiêu kế hoạch. Cho dù chính sách cổ
phần hoá đã thông thoáng và ngày càng đợc mở rộng cho mọi đối tợng, song tiến
18
trình cổ phần hoá vẫn không đạt kế hoạch đề ra, do vẫn còn những tồn tại và hạn
chế nh:
+ Vẫn còn nhiều Bộ, nghành, địa phơng, T.Cty chần chừ không muốn thực
hiện cổ phần hoá, hoặc có những đơn vị đã có đề án tổng thể sắp xếp lại DNNN
trong phạm vi quản lý nhng lại không có chơng trình kế hoạch cụ thể, việc triển
khai mang tính chất đối phó hình thức.
+ Vẫn còn một số quy định bất cập trong các văn bản pháp quy về thực hiện
chủ trơng cổ phần hoá nh khống chế tỷ lệ mua cổ phần của các cán bộ quản lý và
cá nhân trong lần mua đầu tiên đã làm giảm niềm tin và nhiệt tình của ngời lao
động.
+ Thủ tục xác định giá trị doanh ngiệp còn rờm rà, mất nhiều thời gian, đặc
biệt là đối với các doanh nghiệp thuộc các Bộ, T.Cty 91.
+ Công tác vận động tuyên truyền còn bị xem nhẹ, cha tạo đợc sự quan tâm
Phơng hớng và các giải pháp nhằm đẩy
nhanh quá trình cổ phần hoá DNNN.
3.1. Phơng hớng cho tiến trình cổ phần hoá trong thời gian tới
Trong 3 năm 2000-2003, dự kiến sẽ cổ phần hoá, đa dạng hoá sở hữu 1.498
DNNN chiếm 63,5 % trong tổng số 2.280 DNNN thuộc diện sắp xếp của thời kỳ
này. Cụ thể theo các năm nh sau:
Hình thức 2000 2001 2002 3 năm
Tổng số DNNN cổ phần
hoá giao, bán, khoán, cho
thuê
508 481 500 1.489
Trong đó:
- Cổ phần hoá
- Giao, bán, khoán, cho
thuê
337 345 374 1.056
171 136 126 433
Ba năm tiếp theo 2003-2005, dự kiến sẽ cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho
thuê hơn 900 DNNN. Cùng với các hình thức khác, tổng số trong 6 năm 2000-
2005 sẽ sắp xếp 3.280 DNNN.
Số lao động hiện đang làm việc trong các doanh nghiệp dự kiến cổ phần hoá
trong 3 năm từ 2000-2002 là 311.977 ngời, bằng 72,7% tổng số lao động trong
các doanh nghiệp thuộc diện sắp xếp thời kỳ này và chỉ bằng 1,9% tổng số lao
động đang làm việc tại 5.280 DNNN hiện nay.
Về qui mô, các doanh nghiệp thuộc diện sắp xếp nói chung cũng nh thực
hiện cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê nói riêng đa phần là doanh nghiệp
có qui mô vừa và nhỏ. Số doanh nghiệp có vốn Nhà nớc dới 10 tỷ đồng chiếm tới
75% và thuộc những nghành Nhà nớc không cần nắm giữ.
Quá trình triển khai cổ phần hoá DNNN với những kết quả đạt đợc tốt sẽ
làm tăng qui mô DNNN từ vốn bình quân 18,425 tỷ đồng lên 27,117 tỷ
DNNN để họ tích cực tham gia vận động thực hiện cổ phần hóa,
- Giải quyết thoả đáng đối với lao động d thừa trong quá trình cổ phần hóa,
có thể lập quỹ đền bù (quỹ trợ cấp thất nghiệp) từ nguồn tài chính nh: tiền bán cổ
phần, ngân sách Nhà nớc,
- Sớm tổng kết, rút kinh nghiệm về hoạt động của thị trờng chứng khoán để
hoàn thiện cơ chế hoạt động của thị trờng này nh một công cụ thúc đẩy, khuyến
khích cổ phần hóa.
3.2.3. Đẩy mạnh tuyên truyền cổ động cho cổ phần hóa
Mục tiêu của đẩy mạnh tuyên truyền là làm cho các cấp, các nghành, từng
doanh nghiệp và từng ngời lao động nhận thức sâu sắc về cổ phần hóa nh một xu
thế tất yếu và sẽ đem lại lợi ích lâu dài cho cả Nhà nớc, lẫn cá nhân, từ đó tích
cực, yên tâm thực hiện cổ phần hóa, đẩy mạnh nhanh tiến độ thực hiện chủ trơng
quan trọng này của Đảng và Nhà nớc.
22
23
kết luận
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là một quá trình vô cùng khó khăn
phức tạp vì nó đụng chạm đến nhiều vấn đề nhạy cảm, hơn nữa lại không có con
đờng chung nào cho tất cả các nớc tiến hành CPH doanh nghiệp nhà nớc. Những
thành công và những bài học kinh nghiệm quý giá mà chúng ta thu đợc đã khẳng
định CPh là một chủ trơng đúng đắn của Đảng và Nhà nớc.
Qua 8 năm kể từ ngày thí điểm CPH, đã có gần 500 DNNN chuyển thành
Công ty cổ phần. Cùng với việc thiết lập đợc một hệ thống quản lý mới chúng
ta đã có thêm những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao sẵn sàng tham
gia vào quá trình hội nhập của đất nớc. Niềm tin của dân vỡi Đảng đợc củng cố
một bớc thể hiện ở chỗ: chúng ta đã huy động đợc nguồn vốn khá lớn trong dân
dùng để đầu t phát triển sản xuất, giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nớc khi
mà liên tục phải bù lỗ cho các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Cơ chế mới
25