tăng cường vai trò quản lý kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Pdf 13

lời mở đầu
Vấn đề vai trò quản lý kinh tế của nhà nớc là một chủ đề đã đợc đề cập
đến khá nhiều và cũng đã có rất nhiều ý kiến quan điểm khác nhau. Tuy
nhiên, không thể áp đặt một nguyên tắc chung nào cho các quốc gia với những
điều kiện lịch sử, kinh tế - xã hội khác biệt.
Thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945), Việt Nam đợc xếp là một trong
những quốc gia có nền kinh tế phát triển thấp kém nhất trên thế giới, đó là một
nền kinh tế què quặt, lạc hậu, sản xuất nhỏ lẻ và kinh tế nông nghiệp là chủ
yếu. Nhng ở thời kỳ này, với sự xuất hiện của các nhà t bản Pháp, các công ty
Pháp, cùng với sự giao lu hàng hoá giữa nớc Việt Nam thuộc địa với các nớc
khác trên thế giới thì nền kinh tế Việt Nam cũng đã đợc coi là một nền kinh tế
hàng hoá ở dạng sơ khai.
Cách mạng Tháng Tám (8/1945) thành công, Nhà nớc Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà ra đời, nhng không giống các quốc gia khác chúng ta không có
điều kiện để khôi phục và xây dựng kinh tế mà gần nh ngay lập tức lại phải
chịu đựng cảnh chiến tranh loạn lạc. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lợc (1946 - 1954) nền kinh tế không thể phát triển một
cách toàn diện, mà đó chỉ là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, lấy sản
xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp là chính với mục đích trớc tiên là phục
vụ kháng chiến. Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh ở Đông Dơng đợc
ký kết, những tởng đợc sống trong hoà bình để phát triển kinh tế, nhng không
chúng ta lại phải trải qua một cuộc chiến tranh dài 20 năm (1955- 1975), đất
nớc bị chia cắt làm hai miền Bắc, Nam với hai chế độ chính trị, hai mô hình
kinh tế khác nhau. Miền Bắc đi lên xã hội chủ nghĩa với mô hình kinh tế quản
lý tập trung bao cấp giống các nớc xã hội chủ nghĩa khác, miền Nam đi theo
mô hình kinh tế thị trờng t bản chủ nghĩa. Tuy vậy trong điều kiện bị chi phối
bởi qui luật của chiến tranh hai mô hình này cũng không mang đầy đủ đặc tr-
ng và ý nghĩa của nó. ở miền Bắc không thể tập trung toàn bộ sức lực cho phát
triển kinh tế mà lại phải chi viện lớn về ngời và của cho miền Nam, hơn nữa
miền Bắc cũng phải chịu sự tấn công bằng hải quân và không quân Mỹ, trong
điều kiện khó khăn đó quá trình thực hiện mục tiêu kinh tế không đợc hoàn

rất sâu vào nền kinh tế nh trong mô hình kinh tế tập trung ở các nớc xã hội
chủ nghĩa hay ở các nớc t bản chủ nghĩa sau khủng hoảng 1929 - 1933 theo lý
thuyết Keynes nhng những thành công do chúng mang lại chỉ mang tính lịch
sử, nó không là một mô hình vĩnh viễn và hoàn hảo cho sự phát triển bền
vững. Và tới nay các nhà kinh tế thống nhất với nhau rằng cần thiết có sự quản
lý của Nhà nớc đối với nền kinh tế trong một cơ chế thị trờng đầy năng động.
Nền kinh tế luôn vận động và phát triển trong mỗi thời kỳ nó lại có một
số đặc trng đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nớc ở mức độ phù hợp, chính vì vậy
khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế mới thì vai trò quản lý kinh tế của Nhà
nớc là thiết yếu và việc nghiên cứu nó là vấn đề lâu dài đòi hỏi phải có quan
điểm đứng đắn, lập trờng vững vàng.
Trong giới hạn về kiến thức, đề án của em chỉ dừng lại ở việc tham khảo
ý kiến từ một số bài viết và công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề Tăng
cờng vai trò quản lý kinh tế của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa nói chung và thực tế Việt Nam nói riêng. Bài viết
này đợc hoàn thành trớc hết nhờ vào sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo. Em
kính mong thầy cô cho em những ý kiến nhận xét để em hoàn chỉnh thêm việc
nghiên cứu và có đợc những suy luận đúng đắn và logic.
Em xin chân thành cảm ơn !
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
2
Ch ơng I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò kinh tế của Nhà
nớc trong nền Kinh tế thị trờng - Đặc trng của nền kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
I. Các quan điểm về vai trò kinh tế của Nhà n ớc trong lịch sử:
Trong lịch sử xã hội loài ngời đã có một thời kỳ không có Nhà nớc và
pháp luật. Đó là thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, do trình độ phát triển thấp kém
của lực lợng sản xuất, con ngời cùng chung sống, cùng lao động và cùng hởng
thành quả lao động chung. Mọi ngời đều bình đẳng trong lao động và hởng
thụ, xã hội không có kẻ giàu ngời nghèo, không phân chia thành giai cấp,

Từ lý luận về Nhà nớc ta đã thấy Nhà nớc là công cụ của giai cấp thống
trị dùng để điều tiết các quan hệ xã hội nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mình.
1
Mác - Ăng ghen: Tuyển tập VI, NXB sự thật 1984
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
3
Khi đề cập tới chức năng của Nhà nớc các nhà nghiên cứu thống nhất rằng
Nhà nớc có hai chức năng chính là chức năng đối nội và chức năng đối ngoại:
- Chức năng đối nội bao gồm hai bộ phận chính là chức năng kinh tế và
chức năng giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự chống
đối của các giai cấp khác và các âm mu phản động. Trong hai chức năng này
thì chức năng kinh tế đợc đa lên hàng đầu vì nó là cơ sở để Nhà nớc có thể tồn
tại và phát triển.
- Chức năng đối ngoại của Nhà nớc cũng bao gồm hai chức năng chính
là chức năng bảo vệ tổ quốc và chức năng củng cố mở rộng quan hệ hợp tác
hữu nghị với các nớc khác. Trong điều kiện ngày nay chức năng đối ngoại có
vị trí đặc biệt quan trọng.
Sự suy tàn của Nhà nớc phong kiến ở phơng Tây (thế kỷ XV) gắn liền
với sự hình thành Nhà nớc t sản, quá trình tích luỹ t bản đợc bắt đầu thực hiện
- nền kinh tế thị trờng cũng bắt đầu đợc hình thành. Trong thời kỳ này để cho
nền kinh tế phát triển nhanh giai cấp t sản cần phải có sự trợ giúp của "bà đỡ"
tức cần có sự can thiệp của Nhà nớc. Vai trò quản lý của Nhà nớc đợc xác lập
và nâng cao, thể hiện ngay trong t tởng kinh tế của phái trọng thơng. Cụ thể
Nhà nớc dùng chính sách tiền tệ nghiêm ngặt, tìm mọi cách để tích luỹ tiền tệ
(tiền vàng), không cho tiền tệ chảy ra nớc ngoài, có những qui định nghiêm
ngặt đối với các thơng gia. Trong chính sách ngoại thơng họ đẩy mạnh xuất
khẩu thành phẩm, không xuất khẩu sản phẩm dở dang, nguyên liệu thô, trợ giá
giúp đỡ cho xuất khẩu trong khi đó lại dùng hàng rào thuế quan, hạn ngạch
nhập khẩu để hạn chế nhập khẩu. Cũng nhờ những chính sách này của Nhà n-
ớc mà trong giai đoạn tích luỹ nguyên thuỷ Nhà nớc t sản đã tích luỹ đợc một

thuyết "bàn tay vô hình" tỏ ra kém hiệu nghiệm và không còn phù hợp nữa.
Thực tiễn đòi hỏi phải có một lý thuyết kinh tế mới có khả năng thích ứng với
tình hình mới dể điều chỉnh đa nền kinh tế về trạng thái cân bằng. Và vào thời
điểm này John Meynard Keynes (1884 - 1946) đã đa ra lý thuyết Nhà nớc
điều tiết nền kinh tế thị trờng "bàn tay hữu hình". Theo lý thuyết Keynes Nhà
nớc can thiệp vào nền kinh tế ở cả tầm vĩ mô và vi mô. ở tầm vĩ mô Nhà nớc
sử dụng các công cụ nh lãi suất, chính sách tín dụng điều tiết lu thông tiền tệ,
lạm pháp, thuế, bảo hiểm , trợ cấp đầu t phát triển, khuyến khích tiêu dùng cá
nhân ở tầm vĩ mô Nhà nớc trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh và dịch vụ công cộng. Để đẩy mạnh sản xuất đảm bảo cân đối
cung cầu thì cần phải nâng cầu tiêu dùng, kích thích cầu có hiệu quả. J.M
Keynes và những ngời ủng hộ lý thuyết của ông tin tởng rằng sự can thiệp của
Nhà nớc vào nền kinh tế sẽ khắc phục đợc tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp
tạo ra sự ổn định lâu dài cho phát triển kinh tế - xã hội.
Nhng thực tế những chấn động trong kinh tế xã hội vẫn diễn ra, thất
nghiệp, lạm pháp, khủng hoảng không đợc cải thiện. Điều này đã làm tăng
thêm làn sóng phản đối Keynes và xuất hiện t tởng mới: cần phối hợp "bàn tay
vô hình" với "bàn tay hữu hình"để điều chỉnh kinh tế. Đó là quan điểm của
các nhà kinh tế học hiện đại P.Samuelson với lý thuyết kinh tế hỗn hợp cho
rằng để phát triển kinh tế phải dựa vào cả hai bàn tay là cơ chế thị trờng và
Nhà nớc. Ông cho rằng, điều hành một nền kinh tế không có cả chính phủ
lẫn thị trờng thì cũng nh định vỗ tay bằng một bàn tay.Theo quan điểm của
các nhà kinh tế học hiện đại thì Nhà nớc không phải là cái gì đó đứng ngoài
nền kinh tế mà nó cũng là một trong những chủ thể của nền kinh tế.
Từ sau năm 1917, cùng với sự ra đời của Liên bang Xô Viết và sau đó
là hệ thống XHCN từ sau năm 1945 là sự xuất hiện của nền kinh tế chỉ huy
vận động theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Nhà nớc quản lý trực tiếp mọi
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế bằng kế hoạch và hàng loạt
các chỉ tiêu pháp lệnh và chỉ tiêu gián tiếp. Kết quả thì các nớc này vẫn phải
chuyển sang cơ chế thị trờng và phải đổi mới cách thức quản lý của Nhà nớc

nhân loại. Trong lịch sử phát triển của mình, vị thế của kinh tế hàng hoá cũng
dần đợc thay đổi : từ chỗ nh là kiểu tổ chức kinh tế-xã hội không phổ biến,
không hợp thời trong xã hội chiếm hữu nô lệ của những ngời thợ thủ công và
nông dân tự do, đến chỗ đợc thừa nhận trong xã hội phong kiến và đến Chủ
nghĩa t bản thì kinh tế hàng hoá giản đơn không những đợc thừa nhận mà còn
phát triển lên giai đoạn cao hơn đó là kinh tế thị trờng. Kinh tế hàng hoá và
kinh tế thị trờng chỉ khác nhau về trình độ phát triển.
Kinh tế thị trờng chính là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng
hoá. Kinh tế hàng hoá phát triển, điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm
trù tiền tệ và thị trờng đợc phát triển và mở rộng. Hàng hoá không chỉ bao
gồm những sản phẩm đầu ra của sản xuất mà bao hàm cả các yếu tố đầu vào
của sản xuất. Dung lợng thị trờng và cơ cấu thị trờng đợc mở rộng và hoàn
thiện. Mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều đợc tiền tệ hoá. Kinh tế thị trờng
đợc hình thành với những điều kiện nh sau:
Một là, sự xuất hiện của hàng hoá sức lao động. Sự xuất hiện hàng hoá
sức lao động là một tiến bộ lịch sử. Ngời lao động đợc tự do, anh ta có quyền
làm chủ khả năng lao động của mình và làm chủ thể bình đẳng trong việc th-
ơng lợng với ngời khác. Chủ nghĩa t bản đã thực hiện đợc bớc tiến bộ trong
lịch sử đó trong khuôn khổ lợi dụng tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
6
động để phục vụ túi tiền của các nhà t bản. Vì vậy đã làm nảy sinh mâu thuẫn
giữa t bản với lao động làm thuê. Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
không phải mọi ngời có sức lao động đem bán đều là những ngời vô sản. Do
sự chi phối của lợi ích kinh tế và chi phí cơ hội, ngời lao động vẫn có thể bán
sức lao động của mình cho ngời khác nếu họ cảm thấy việc làm này có lợi hơn
so với việc tổ chức quá trình sản xuất.
Hai là, phải tích luỹ đợc một số tiền nhất định và số tiền đó phải trở
thành vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận. Lí luận
của trờng phái trọng thơng đã phản ánh rõ điều kiện tiền đề này.

2.2. Các đặc trng cơ bản của cơ chế thị trờng:
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
7
Trớc hết, thông qua cơ chế thị trờng mà các vấn đề có liên quan đến
việc phân bổ sử dụng các nguồn tài nguyên sản xuất khan hiếm nh lao động,
vốn, tài nguyên thiên nhiên về cơ bản đợc quyết định một cách khách quan
thông qua sự hoạt động của các qui luật kinh tế thị trờng, đặc biệt là qui luật
cung cầu. Thông qua qui luật cung - cầu mà hình thành nên giá cả thị trờng,
giá cả thị trờng lên xuống xung quanh giá trị thị trờng và nó là kết quả thoả
thuận giữa ngời mua với ngời bán, nó tạo lên mức lợi nhuận trên thị trờng mà
từ đó có tác động chuyển dịch cơ cấu đầu t sản xuất vào các lĩnh vực cho lợi
nhuận cao
Thứ hai, trong cơ chế thị trờng, tất cả các quan hệ kinh tế giữa các chủ
thể kinh tế đợc tiền tệ hoá thông qua giá cả thị trờng, làm cho các hoạt động
kinh tế phát triển nhanh và dễ dàng hơn.
Thứ ba, trong cơ chế thị trờng, động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc
đẩy tăng trởng kinh tế và lợi ích kinh tế đợc biểu hiện tập trung ở mức lợi nhuận.
Thứ t, cơ chế thị trờng tạo cho các chủ thể kinh tế tự do lựa chọn phơng
án sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng. Dựa trên các qui luật kinh tế và tính tự
chủ, các mối quan hệ kinh tế, các nhà sản xuất, kinh doanh lựa chọn cho mình
phơng án sản xuất và kinh doanh phù hợp nhất để thu đợc lợi nhuận tối đa, và
ngời tiêu dùng đợc tự do lựa chọn tiêu dùng vì các quan hệ kinh tế đã đợc tiền tệ
hoá.
Thứ năm, thông qua sự hoạt động của các qui luật kinh tế, đặc biệt là
sự linh hoạt của hệ thống giá cả, nền kinh tế thị trờng luôn duy trì đợc thế cân
bằng giữa mức cung và cầu của tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ, ít gây ra sự
khan hiếm và thiếu thốn hàng hoá.
Thứ sáu, cạnh tranh là môi trờng và động lực thúc đẩy sản xuất phát
triển, thúc đẩy tăng năng suất lao động và tăng hiệu quả của sản suất. Trong nền
kinh tế thị trờng, cạnh tranh diễn ra một cách phổ biến trong cả lĩnh vực sản xuất

lợng và cơ cấu của sản xuất với khối lợng và cơ cấu nhu cầu xã hội, nhờ đó có
thể thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân và sản xuất về hàng ngàn, hàng vạn
loại sản phẩm khác nhau. Những nhiệm vụ này nếu Nhà nớc làm sẽ phải thực
hiện một khối lợng công việc khổng lồ, có khi không thực hiện đợc và đòi hỏi
chi phí cao trong việc đa ra các quyết định.
- Cơ chế thị trờng mềm dẻo hơn Nhà nớc và có khả năng thích nghi cao
hơn khi những điều kiện kinh tế thay đổi, làm thích ứng kịp thời giữa sản xuất
với nhu cầu xã hội.
Nhờ vậy cơ chế thị trờng giải quyết đợc những vấn đề cơ bản của tổ
chức kinh tế: Cần sản xuất loại hàng hoá gì với số lợng bao nhiêu do ngời tiêu
dùng quyết định. Lợi nhuận lôi cuốn các doanh nghiệp vào sản xuất mặt hàng
có mức lợi cao, đáp ứng nhu cầu xã hội. Sản xuất bằng phơng pháp nào, công
nghệ gì đợc quyết định bởi cạnh tranh để cho tối đa hoá đợc lợi nhuận và tối
thiểu hoá chi phí. Hệ thống giá cả là tín hiệu cho một phơng pháp công nghệ
thích hợp. Sản xuất hàng hoá cho ai (phân phối) đợc quyết định bởi quan hệ
cung cầu trên thị trờng các nhân tố sản xuất.
Lịch sử phát triển của sản xuất xã hội chứng minh rằng cơ chế thị trờng
là cơ chế điều tiết nền kinh tế hàng hoá đạt hiệu quả kinh tế cao. Song bất kì
một tấm huân chơng nào cũng có mặt trái của nó. Cơ chế thị trờng không phải
là hiện thân của sự hoàn hảo, mà nó vốn có những khuyết tật, đặc biệt về mặt
xã hội. Nhà kinh tế học nổi tiếng Samuelson đã nói rằng: Sau khi tìm hiểu về
bàn tay vô hình, chúng ta không nên quá say mê với vẻ đẹp của cơ chế thị tr-
ờng, coi đó là hiện thân của sự hoàn hảo, là tinh tuý của sự hài hoà, của đấng
cao siêu, nằm ngoài tầm tay con ngời. Cũng nh báo cáo của Ban chấp hành
trung ơng Đại hội VII đã nêu rõ: Sẽ là sai lầm nếu cho rằng nền kinh tế thị tr-
ờng là liều thuốc vạn năng. Cùng với sự kích thích của sản xuất phát triển,
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
9
kinh tế thị trờng cũng là môi trờng thuận lợi làm nảy sinh và phát triển nhiều
loại tiêu cực xã hội, thị trờng nh hiện tợng thai nghén cha biết sẽ ra sao. Điều

dài, gây nhiều hậu quả xấu về mặt xã hội.
- Phát sinh các tệ nạn xã hội: Sự tác động của cơ chế thị trờng đa
đến sự phân hoá giàu nghèo, tác động xấu đến đạo đức và tình ngời, do đó làm
nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội nh tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả
Tóm lại, cơ chế thị trờng có tác động điều tiết sản xuất và lu thông hàng hoá,
chi phối sự vận động của kinh tế thị trờng. Nhng sự điều tiết đó mang tính
chất mù quáng. Hơn nữa các chủ thể tham gia thị trờng hoạt động vì lợi ích
riêng của mình cho nên sự vận động của cơ chế thị trờng tất yếu dẫn tới những
mâu thuẫn và xung đột. Tất cả đã gây nên tình trạng không bình thờng trong
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
10
quan hệ kinh tế và dẫn tới sự mất ổn định xã hội. Vì vậy, xã hội đòi hỏi phải
có sự kiểm tra, điều tiết, định hớng một cách có ý thức đối với sự vận động
của cơ chế thị trờng. Đó là những lý do cần thiết phải thiết lập vai trò quản lý
của Nhà nớc ở tất cả các nớc có nền kinh tế thị trờng. Nhà nớc thực hiện chức
năng quản lý kinh tế là đòi hỏi khách quan, là nhu cầu nội tại của nền kinh tế
hàng hóa vận động theo cơ chế thị trờng. Tuy nhiên, việc điều tiết, khống chế
và định hớng các hoạt động kinh tế của các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế
theo phơng hớng và mục tiêu nào, điều đó phụ thuộc vào bản chất của các
hình thức Nhà nớc và con đờng phát triển mà nớc đó lựa chọn. ở nớc ta, sự
quản lý của Nhà nớc nhằm hớng tới sự ổn định về kinh tế-xã hội, sự công
bằng và hiệu quả cũng nh làm cho nền kinh tế ngày càng tăng trởng và phát
triển với tốc độ cao.
III. Tính tất yếu khách quan cần phải có vai trò quản lý vĩ mô
của Nhà n ớc đối với nền kinh tế ở Việt Nam:
Trong nền kinh tế thị trờng, tính tất yếu của sự điều tiết của Nhà nớc bắt
nguồn từ hai mặt:
Từ sứ mệnh lịch sử của Nhà nớc. Nhà nớc là tổ chức quyền lực chung,
quản lý mọi mặt đời sống xã hội, thông qua đó mà giai cấp thống trị thực hiện
đợc sự thống trị của mình đối với toàn xã hội. Nhà nớc xã hội chủ nghĩa cũng

nhiều vớng mắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm trì trệ thêm sự phát
triển và gây ra những khó khăn mới cho đời sống kinh tế xã hội của đất nớc.
Đã có một thời kỳ dài chúng ta phủ nhận kinh tế thị trờng trong chủ
nghĩa xã hội nhng khi chúng ta nhận thức lại, chuyển đổi cơ chế kế hoạch hoá
tập trung sang cơ chế thị trờng thì vẫn có những sai lầm, cha nhận thức đúng
đắn vai trò nhà nớc trong quản lý nền kinh tế nhằm hớng sự phát triển của nền
kinh tế đảm bảo tính ổn định, công bằng v hiệu quả.
1. Cơ chế quản lý kinh tế trớc đây và vai trò quản lý của Nhà nớc:
Trong hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung do yêu cầu xây dựng nền
kinh tế theo chế độ công hữu, phi hàng hoá với nguyên tắc tập trung cao độ,
gắn liền với quan hệ cấp phát, giao nộp, dựa vào mệnh lệnh hành chính là chủ
yếu, nên nhà nớc đã đảm nhận vai trò quản lý tuyệt đối toàn bộ đời sống kinh
tế xã hội, nắm và chi phối toàn bộ hoạt động kinh tế của đất nớc. Với cơ chế
này, nhà nớc đã thực hiện đợc những mục tiêu kinh tế và chính trị xã hội,
xây dựng lực lợng quốc phòng hùng mạnh, thực hiện các chính sách xã hội
quan trọng nh giáo dục, y tế, công bằng xã hội thể hiện tính u việt của xã
hội chủ nghĩa trên nhiều mặt. Song chức năng kinh tế của nhà nớc đợc đề cao
quá mức thể hiện trên những điểm chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất: Trong cơ chế cũ nhà nớc mở rộng quá đáng kinh tế quốc
doanh, gần nh đồng nhất kinh tế quốc doanh với chủ nghĩa xã hội, chỉ thừa
nhận một thành phần kinh tế XHCN với hai loại hình sở hữu: toàn dân và tập
thể. Các thành phần kinh tế khác bị hạn chế tới mức tối đa thậm chí còn bị
triệt tiêu, kinh tế t nhân không đợc phép tồn tại và hoạt động. Đến Đại hội
Đảng VI mặc dù đã có sự đổi mới nhận thức nhng vẫn còn nhấn mạnh kinh tế
quốc doanh phải chiếm tỷ trọng trong cả sản xuất và lu thông.
- Thứ hai: Nhà nớc đóng vai trò trung tâm và gần nh độc tôn trong lĩnh
vực đầu t xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nắm độc quyền ngân hàng,
ngoại thơng, ngoại hối, bao cấp tín dụng và do đó cha khai thác đợc nguồn lực
khác đầu t cho phát triển.
- Thứ ba: Nhà nớc trực tiếp điều hành và can thiệp quá sâu vào các hoạt

cầu bức bách đợc đặt ra.
2. Cơ chế quản lý kinh tế mới và vai trò quản lý của Nhà nớc:
Cơ chế quản lý kinh tế mới hiện nay ở nớc ta là cơ chế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác.
Nhà nớc đóng vai trò điều hành kinh tế vĩ mô (định hớng và điều tiết) nhằm
phát huy vai trò tích cực, hạn chế ngăn ngừa tiêu cực của cơ chế thị trờng.
Nhà nớc vừa phải thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản song song và đan xen
lẫn nhau, đó là vừa đổi mới, cải cách hệ thống quản lý bao gồm cải tạo cơ cấu
kinh tế cũ, xây dựng cơ cấu kinh tế mới, cải cách nền hành chính nhà nớc, xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nớc phù hợp với cơ chế mới; vừa phải
điều hành nền kinh tế trong quá trình đổi mới, phải xử lý nhiều vấn đề mới
nảy sinh hết sức phức tạp và khó khăn. Mặt khác, nhiệm vụ quản lý nhà nớc
về kinh tế hết sức đa dạng, linh hoạt, luôn biến động do thực tế cuộc sống đặt
ra. Nhng Nhà nớc ta đã đạt đợc những thành tựu đáng kể đó là:
Nhà nớc ta đã phát huy vai trò trách nhiệm trong quản lý kinh tế xã
hội, tiến hành công cuộc đổi mới quản lý kinh tế nhng vẫn giữ vững ổn định
chính trị, đảm bảo tăng trởng kinh tế khá, cải thiện nâng cao đời sống nhân
dân, đa nớc ta cơ bản thoát khỏi khủng hoảng; đã mạnh dạn đổi mới cơ chế,
chính sách quản lý kinh tế và điều hành, xử lý các tình huống hết sức phức tạp
có hiệu quả. Nhà nớc cũng đã mạnh dạn đổi mới hệ thống kinh tế nhà nớc, đổi
mới hệ thống tổ chức bộ máy nhà nớc, từng bớc phân định rõ chức năng lãnh
đạo của Đảng, quản lý nhà nớc về kinh tế với chức năng quản lý sản xuất kinh
doanh; đổi mới và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nớc phù
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
13
hợp với cơ chế mới Do đó, đã góp phần to lớn vào phát triển kinh tế xã hội
và thành công của công cuộc đổi mới.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc trong quá trình đổi mới, quản lý
nhà nớc về kinh tế còn có nhiều mặt hạn chế và yếu kém:
- Quản lý nhà nớc cha ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới, cha phát

hiện 306 nghìn tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2002. Hoạt động hàng không,
du lịch có nhiều cố gắng, do đã khống chế thành công dịch bệnh SARS, đồng
thời đã đẩy mạnh các biện pháp quảng cáo, khuyến mại nên đang từng bớc
(
1)
Theo dự báo của Ngân hàng thế giới (WB - tháng 8-2003), tốc độ tăng trởng kinh tế năm 2003 của Trung
Quốc đạt 7,2%, Nhật Bản: 0,6%, Thái Lan: 4,5%, Singapore: 1,7%; Philippines: 4,0%; Malaysia: 4,2%;
Inđonesia: 3,3%, Việt Nam: 7,0% (Việt Nam năm 2002: 6%). Theo dự báo của Ngân hàng Phát triển Châu
á (ADB, tháng 8-2003), tốc độ tăng trởng kinh tế năm 2003 của Trung Quốc đạt 7,3%, Thái Lan: 5%;
Singapore: 2,3%; Philippines: 4,0%; Malaysia 4,3%; Việt Nam: 6,9% (Việt Nam năm 2002: 6,4%).
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
14
phục hồi. Các dịch vụ bu chính viễn thông, vận tải, tài chính, ngân hàng, bất
động sản tiếp tục phát triển.
Xuất khẩu tiếp tục đạt đợc tốc độ tăng trởng cao. Kim ngạch xuất khẩu
ớc cả năm 2003 đạt khoảng 19,5 tỷ USD, tăng 16,7% so với năm 2002 và vợt
mức kế hoạch đề ra (kế hoạch là 8,0- 8,5%). Kim ngạch nhập khẩu ớc cả năm
2003 đạt 24 tỷ USD, tăng 21,6% so với năm 2002. Nhập khẩu năm 2003 tăng
so với năm 2002 là 4,3 tỷ USD.
Thu Ngân sách Nhà nớc tăng, vợt dự toán đầu năm, hoạt động tiền tệ đã
cơ bản đáp ứng đợc yêu cầu của phát triển kinh tế. Thu ngân sách nhà nớc
năm 2003 ớc đạt 132,5 nghìn tỷ đồng, vợt 7,1% dự toán năm, bằng 21,7%
GDP và tăng 11,3% so với thực hiện năm 2002, là năm thứ 6 liên tiếp thu ngân
sách Nhà nớc vợt dự toán đề ra
(4)
. Tổng chi Ngân sách nhà nớc cả năm 2003 -
ớc đạt 167,7 nghìn tỷ đồng, vợt 6,1% so với dự toán năm và tăng 14,1% so với
thực hiện năm 2002.
Hoạt động tiền tệ trong năm 2003 đã cơ bản đáp ứng đợc nhu cầu của
nền kinh tế. Uớc cả năm 2003, tổng phơng tiện thanh toán tăng 20,4% so với

Tỷ lệ huy động vốn đầu t trong GDP năm 2001 đạt 34%, năm 2002 đạt 34,3%
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
15
Lan, 1/9 của Malaixia. Tỷ lệ tiết kiệm so với GDP đạt khoảng 29,5%, thấp so với
một số nớc trong khu vực
(7)
.
Môi trờng đầu t, sản xuất kinh doanh vẫn còn nhiều vớng mắc, cạnh
tranh ngày càng gay gắt, nhất là thị trờng hàng hóa xuất khẩu. Môi trờng đầu
t, sản xuất kinh doanh thủ tục còn nhiều rờm rà, phức tạp, vừa cha thông
thoáng, vừa quá dễ dãi; chi phí cho đầu t, sản xuất kinh doanh còn cao; sự
phối hợp giữa các cơ quan cha tốt; chính sách hay thay đổi và khó dự báo trớc;
môi trờng đầu t thiếu bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Môi trờng kinh tế vĩ mô còn nhiều bất cập, cha tạo dựng đợc khung
pháp lý đồng bộ cho các yếu tố của thị trờng và các loại thị trờng phát triển;
thị trờng vốn kém phát triển, các cơ chế huy động vốn và cho vay vốn thiếu
đồng bộ, tín dụng cho vay nền kinh tế cha hiệu quả; việc điều hành lãi suất
còn lúng túng; còn tồn tại nhiều mức lãi suất u đãi đầu t cho các ngành trong
nền kinh tế (chỉ riêng các khoản vay của Quỹ Hỗ trợ phát triển đã có tới hàng
chục mức lãi suất) làm giảm khả năng giám sát và đánh giá hiệu quả đầu t.
Hiệu quả sử dụng vốn đầu t toàn xã hội cha cao, công tác quản lý đầu t
và quản lý xây dựng còn nhiều yếu kém và chậm khắc phục.
Nguồn thu ngân sách nhà nớc cha thật vững chắc, chính sách tín dụng cha
thực sự lành mạnh, vẫn phụ thuộc vào bên ngoài. Gần 1/2 tổng thu ngân sách
hàng năm là thu từ dầu thô và hoạt động xuất nhập khẩu (là những khoản thu
phụ thuộc khá nhiều vào biến động cung cầu và giá cả trên thị trờng thế giới),
trong đó thu từ dầu thô chiếm khoảng 1/4 tổng thu ngân sách, thu từ thuế xuất
nhập khẩu chiếm 1/4.
Thực trạng trên đòi hỏi nhà nớc phải tiếp tục đổi mới quản lý, tăng cờng
vai trò quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Đó là một tất yếu khách quan.

mục tiêu có tác động tơng hỗ, bổ sung cho nhau vì mục tiêu chung của quốc
gia.
2. Cụ thể đối với Việt Nam, Nhà nớc ta có các mục tiêu cơ bản sau:
- Đạt đợc trạng thái kinh tế tăng trởng cao và lâu dài, cụ thể là trên dới
10%, nâng cao thu nhập bình quân đầu ngời lên gấp đôi (500 USD) vào năm
2005.
- Giải quyết công ăn việc làm ở mức tốt nhất, không ngừng mở rộng các
loại hình sản xuất, có nhiều biện pháp thu hút đầu t, các chính sách giáo dục
đào tạo để có đợc đội ngũ lao động có chuyên môn và tay nghề cao.
- Tiếp tục đẩy lùi kiểm soát lạm phát, giữ vững tỷ lệ lạm phát ở mức
một con số (dới 10%). Bắt đầu có tích luỹ nội bộ nền kinh tế.
- ổn định và từng bớc cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân. Bảo đảm mức tiền lơng tối thiểu đáp ứng nhu cầu thiết yếu của ngời lao
động, ngăn chặn thu nhập, chi phí bất công. Đảm bảo phân phối thu nhập cân
bằng (đặc biệt giữa các ngành nghề và loại hình lao động khác nhau)
- Duy trì tỷ giá hối đoái ổn định, giảm chênh lệch cán cân thanh toán
quốc tế, đảm bảo giá cả phản ánh đúng tín hiệu thị trờng.
- Khuyến khích tạo điều kiện cho đầu t nớc ngoài ở Việt Nam.
II. Chức năng quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà n ớc.
Vai trò của Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng. Vai trò đó đợc thể hiện
qua các chức năng kinh tế của nó. Cụ thể nh sau:
1. Định hớng sự phát triển của xã hội theo các đặc trng và các yêu cầu
đã định cho các chặng đờng phát triển. ở nớc ta đó là việc nắm vững hai
nhiệm vụ chiến lợc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc đẩy mạnh công nghiệp
hoá-hiện đại hoá đất nớc với một cơ cấu phát triển kinh tế hợp lý, quan hệ sản
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
17
xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất, đới sống vật
chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nớc mạnh, xã
hội công bằng văn minh.

công cộng là rất nhỏ. Vì vậy t nhân thờng không muốn sản xuất hàng hoá
công cộng, trong khi có nhiều loại hàng hoá công cộng có ý nghĩa quan trọng
nh Quốc phòng, luật pháp, trật tự nên không thể giao cho t nhân đợc. Việc
Nhà nớc phải tham gia sản xuất hàng hoá công cộng là tất yếu.
Nguồn thu chủ yếu của Nhà nớc là từ thuế và phần chi phí của Nhà nớc
phải đợc trả bằng thuế thu đợc. Việc đề ra luật thuế qui định nghĩa vụ của mọi
cá nhân và tổ chức cũng nh đảm bảo công bằng trong xã hội là cần thiết. Tất
cả mọi ngời đều phải tuân theo luật thuế.
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
18
Nh vậy, Nhà nớc phải can thiệp vào thị trờng để nâng cao hiệu quả của
thị trờng thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách đối với nền kinh tế
và xã hội. Từ đó tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế diễn ra trôi chảy,
ngăn cản sự lạm dụng của các doanh nghiệp khi họ độc quyền chiếm thị trờng,
kiềm chế hoạt động của các doanh nghiệp khác.
3. Nhà nớc điều tiết kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế thị trờng phát
triển ổn định. Nền kinh tế thị trờng khó tránh khỏi bị chấn động bởi các khủng
hoảng kinh tế, đều phải trải qua các chu kỳ kinh doanh tức là các dao động
của tổng thu nhập quốc dân kèm theo các dao động lên xuống của mức độ thất
nghiệp và lạm phát.
Nhà nớc cần cố gắng làm dịu những dao động lên xuống của chu kỳ
kinh doanh thông qua chơng trình hoá kinh tế, các chính sách tài chính và
chính sách tiền tệ. Qua đó, Nhà nớc ổn định nền kinh tế, duy trì nó càng sát
càng tốt đối với tình trạng có đầy đủ việc làm và lạm phát thấp.
Nhà nớc có thể đầu t vào một số lĩnh vực cần thiết, để hỗ tợ, dẫn dắt các
thành phần kinh tế khác. Kết hợp phân phối và phân phối thu nhập Quốc dân
đặc biệt là việc thực hiện tốt luật ngân sách Nhà nớc. Sự hoạt động của cơ chế
kinh tế thị trờng có thể đạt hiệu quả cao, nhng cơ chế thị trờng lại hoạt động
phi nhân tính, nó không tính đến khía cạnh nhân đạo và xã hội, không mang
lại những kết quả mà xã hội cố gắng vơn tới. Việc phân phối và sử dụng tối u

+ Khắc phục hạn chế các mặt tiêu cựu của cơ chế thị trờng, phân phối
thu nhập Quốc dân một cách công bằng, thực hiện tăng trởng kinh tế gắn với
cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã hội.
III. Các công cụ quản lí vĩ mô của Nhà n ớc và thực trạng của nó ở
Việt Nam:
1. Các công cụ quản lí vĩ mô của Nhà nớc:
1.1. Hệ thống pháp luật.
Trong nền kinh tế thị trờng công cụ chủ yếu Nhà nớc sử dụng để quản
lý nền kinh tế là hệ thống pháp luật. Phải thừa nhận rằng luật kinh tế ở nớc ta
cha làm đợc nhiều, nền kinh tế đã chuyển sang nền sản xuất hàng hóa nhng
những luật rất cơ bản nh luật đất đai, luật thuê mớn nhân công, luật phá sản,
luật doanh nghiệp nhà nớc, luật cạnh tranh và chống độc quyền vẫn ch a
hoàn thiện. Vì vậy trong giải quyết công việc hàng ngày các cơ quan có trách
nhiệm của Nhà nớc còn rất lúng túng trong quản lý cả tầm vĩ mô và vi mô.
Cũng do cha có luật nên một số cơ quan nhà nớc có trách nhiệm lại buông
lỏng quản lý để mặc cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phi pháp gây thiệt
hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân.
Nh vậy, trong nền kinh tế thị trờng vai trò của pháp luật thể hiện trên
hai phơng diện :
Thứ nhất, pháp luật là công cụ cỡng chế hành vi của các doanh nghiệp
nếu nh hoạt động sản xuất kinh doanh của họ có thể làm tổn hại đến lợi ích
của toàn xã hội.
Thứ hai, pháp luật là công cụ tạo nên môi trờng tự do kinh doanh, tự
do cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp bởi vì nhờ có pháp luật mà
doanh nghiệp biết đợc cái gì đợc làm, cái gì không đợc làm và đơng nhiên cái
gì đợc làm là cái đợc pháp luật bảo hộ quyền tự do. Chính vì vậy, có sự rất
khác nhau giữa pháp luật của nền kinh tế kế hoạch hoá và pháp luật của nền
kinh tế thị trờng có sự quản lý. Trong pháp luật của nền kinh tế kế hoạch hoá
doanh nghiệp nhận thấy cái gì đợc làm thì trong pháp luật của kinh tế thị trờng
có sự quản lý doanh nghiệp sẽ nhận thấy cái gì không đợc làm, không đợc

sách đòn bẩy kinh tế là chính để hớng dẫn và hỗ trợ các ngành, các địa phơng
và cơ sở phát triển theo định hớng kế hoạch.
Để thực hiện đợc nội dung quan trọng trên phải nâng cao chất lợng kế
hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, lấy thị trờng làm đối tợng và là căn cứ quan
trọng nhất nâng cao dần trình độ dự báo kinh tế - xã hội trong công tác kế
hoạch hoá.
Nh vậy, đổi mới công tác kế hoạch hoá là một tất yếu khách quan theo
phơng hớng:
Một là, lấy thị trờng làm căn cứ và đối tợng chủ yếu của kế hoạch hoá.
Hai là, thay hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt bằng hệ thống chỉ tiêu
cân đối mang tính định hớng .
Ba là, thực hiện kế hoạch hoá hai cấp: cấp nhà nớc gắn với kế hoạch
hoá vĩ mô và cấp cơ sở gắn với kế hoạch hoá vi mô.
Bốn là, nâng cao trình độ dự báo kinh tế-xã hội trong công tác kế hoạch
hoá.
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
21
Năm là, cải tiến hệ thống bộ máy làm kế hoạch và nâng cao trình độ
cho đội ngũ cán bộ làm kế hoạch.
1.3. Chính sách tài chính - tín dụng.
Một trong các điều kiện để hình thành nền kinh tế thị trờng là cần có hệ
thống tài chính tín dụng tơng đối phát triển. Hệ thống tài chính-tín dụng giản
đơn không thể đáp ứng đợc những nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh,
cũng nh hoạt động lu thông hàng hoá, tiền tệ trên thị trờng.
Hệ thống tài chính-tiền tệ nớc ta trong thời gian qua đã có những tác
động tích cự đối với việc thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hoá, mở rộng lu
thông thu hút các nguồn vốn đầu t từ nớc ngoài. Các công cụ và hình thức tổ
chức tài chính, tiền tệ phi ngan hàng ngày càng đợc đa dạng hoá và từng bớc
hoàn thiện.
Trong điều kiện thực tế và tình hình cụ thể hệ thống tài chính-tiền tệ

ý nghĩa. Thông qua chính sách này, Nhà nớc có thể thực hiện đợc chế độ hởng
thụ công bằng, thực hiện chống tham nhũng có hiệu quả, siết chặt kỷ luật kỷ
cơng bằng Cách mạng chế độ lơng bổng trả lơng đúng theo tài năng và trách
nhiệm của ngời lao động.
2. Tình hình các công cụ ở nớc ta.
Đảng và Nhà nớc đề ra kế hoạch, chiến lợc phát triển kinh tế xã hội cho
từng giai đoạn và từng năm cụ thể, thờng là kế hoạch 5 năm, 10 năm:
2.1. Mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ và các chỉ tiêu chủ yếu phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005.
Bớc vào kế hoạch 5 năm đầu tiên của thế kỷ mới, tình hình trong nớc và
bối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi, cơ hội lớn đan xen với nhiều khó khăn,
thách thức lớn. Thế và lực của nớc ta mạnh hơn nhiều so với trớc. Chính trị -
xã hội tiếp tục ổn định; quan hệ sản xuất đợc đổi mới phù hợp hơn; thể chế
kinh tế thị trờng đã bớc đầu hình thành và vận hành có hiệu quả. Hệ thống luật
pháp, cơ chế chính sách phù hợp đang phát huy trong phát triển kinh tế và đời
sống xã hội.
Năng lực sản xuất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đã tạo ra tiền đề
cần thiết cho bớc phát triển mới. Cơ cấu kinh tế có bớc chuyển dịch tích cực.
Quan hệ kinh tế, ngoại giao của nớc ta đã đợc mở rộng trên trờng quốc tế.
Năm 2000, nền kinh tế đã bắt đầu lấy lại đợc nhịp độ tăng trởng tơng
đối khá, tạo đà phát triển trong những năm tiếp theo.
Tuy vậy, trình độ phát triển kinh tế của nớc ta còn thấp; chất lợng, hiệu
quả và sức cạnh tranh còn kém, quy mô sản xuất nhỏ bé, các cân đối nguồn
lực còn hạn hẹp; mức thu nhập và tiêu dùng của dân c thấp, cha đủ tạo sức bật
mới đối với sản xuất và phát triển thị trờng. Lĩnh vực xã hội tồn tại nhiều vấn
đề bức xúc. Cải cách hành chính tiến hành còn chậm.
Cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới, đặc biệt là công
nghệ thông tin và công nghệ sinh học; xu thế toàn cầu hóa; khả năng ổn định
và phục hồi của nền kinh tế khu vực và thế giới trong thập kỷ tới có những tác
động tích cực, tạo điều kiện cho nớc ta mở ra khả năng hợp tác kinh tế, khai

- Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trởng kinh tế bình quân hàng năm cao hơn
5 năm trớc và có bớc chuẩn bị cho 5 năm tiếp theo.
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế Nhà nớc có vai
trò chủ đạo; củng cố kinh tế tập thể; hình thành một bớc quan trọng thể chế
kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ
cấu lao động theo hớng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng nhanh hàm
lợng công nghệ trong sản phẩm.
- Tăng nhanh vốn đầu t phát triển kinh tế, xã hội; xây dựng cơ cấu kinh
tế có hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh. Hoàn chỉnh một bớc cơ bản hệ
thống kết cấu hạ tầng. Đầu t thích đáng cho các vùng kinh tế trọng điểm; hỗ
trợ đầu t nhiều hơn cho các vùng còn nhiều khó khăn.
- Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Củng cố thị trờng đã
có và mở rộng thêm thị trờng mới. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng nhanh
xuất khẩu, thu hút vốn, công nghệ từ bên ngoài. Chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế có hiệu quả, thực hiện các cam kết song phơng và đa phơng.
- Tiếp tục đổi mới và lành mạnh hóa hệ thống tài chính - tiền tệ, tăng
tiềm lực và khả năng tài chính quốc gia, thực hành triệt để tiết kiệm; tăng tỷ lệ
chi ngân sách dành cho đầu t phát triển; duy trì ổn định các cân đối vĩ mô;
phát triển thị trờng vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Đề án kinh tế chính trị - Phí Thị Hà Lan - Kinh tế đầu t 44A
24
- Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, đổi mới và nâng cao hiệu
lực của bộ máy Nhà nớc. Đẩy lùi tình trạng quan liêu, tham nhũng. Thực hiện
tốt dân chủ, nhất là dân chủ ở xã, phờng và các đơn vị cơ sở.
2.1.2. Các chỉ tiêu định hớng phát triển kinh tế chủ yếu.
- Tổng GDP năm 2005 gấp 2 lần so với năm 1995. Tốc độ tăng trởng
GDP bình quân hàng năm thời kỳ 5 năm 2001-2005 là 7,5%, trong đó nông,
lâm, ng nghiệp tăng 4,3%, công nghiệp và xây dựng tăng 10,8%, dịch vụ tăng
6,2%.
- Giá trị sản xuất nông, lâm, ng nghiệp tăng 4,8%/năm.

25

Trích đoạn Quản lý tài sản quốc gia, phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý. Một số biện pháp nhằm hợp lý hoá chính sách xuất nhập khẩu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status