TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
Giảng viên: ThS Ngô Thị Hải Xuân
Nhóm: 12B
Thành viên:
- Nguyễn Thị Phước An
- Nguyễn Hoàng Lê Khanh
- Lê Thị Ánh Nguyệt
- Nguyễn Thị Thanh Thảo
- Lý Sơn
- Nguyễn Thị Thương Thoa
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 1/22
MỤC LỤC
I. MỘT SỐ TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
1. Tranh chấp trong hợp đồng vận tải
a. Tóm tắt vụ việc 3
b. Quyết định của Trọng tài 4
c. Bình luận vụ án 5
d. Bài học kinh nghiệm 5
2. Tranh chấp trong hợp đồng bảo hiểm
a. Tóm tắt vụ việc 6
b. Kết quả điều tra 6
c. Bình luận vụ việc 7
d. Bài học kinh nghiệm 11
3. Tranh chấp trong hợp đồng thanh toán
a. Tóm tắt vụ việc 12
b. Quyết định của Trọng tài 13
c. Bài học kinh nghiệm 15
4. Tranh chấp trong hợp đồng mua bán
a. Tóm tắt vụ việc 16
- Nhưng ngày hôm sau và các ngày tiếp theo tàu không làm hàng được,
mặc dù Chủ tàu đã thúc giục Người thuê tàu rất nhiều lần về việc này.
Nguyên nhân là trong số 5.200 MT hàng chỉ có một lô hàng nhỏ 300
MT có đủ điều kiện làm thủ tục xuất khẩu. Số hàng còn lại (khoản
4.900T) không đáp ứng được yêu cầu của Nhà chức trách địa phương
nên Người giao hàng không làm được các thủ tục cần thiết để hàng
được phép xếp lên tàu.
Người thuê tàu không xếp hàng lên tàu, không liên lạc gì với Chủ tàu
mà giữ thái độ im lặng và không trả lời. Chủ tàu rất lúng túng không
biết phải làm gì khi tàu phải chờ đợi quá lâu mà không biết đến khi
nào mới xếp hàng.
- Sau 14 ngày trôi qua, vào ngày 27/02/1992, thời gian làm hàng thoả
thuận trong Hợp đồng thuê tàu kết thúc. Chủ tàu gửi Thông báo cho
Người thuê tàu tuyên bố rằng nếu trong ngày 27/02/1992, Người thuê
tàu vẫn giữ thái độ im lặng, không trả lời cho Chủ tàu về việc xếp
hàng, thì Chủ tàu coi là Người thuê tàu vi phạm Hợp đồng thuê tàu và
Chủ tàu có toàn quyền điều tàu rời Cảng Rangoon đi nơi khác.
- Ngày hôm sau, 28/02/1992, Chủ tàu lại gửi thông báo cho Người thuê
tàu tuyên bố rằng sự im lặng của Người thuê tàu được coi là sự đồng ý
rằng Người thuê tàu không thể thực hiện được Hợp đồng thuê tàu, vì
vậy Chủ tàu có toàn quyền điều tàu rời Cảng Rangoon. người thuê tàu
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 3/22
vẫn cố tình giữ thái độ im lặng.
Để hạn chế tổn thất, Chủ tàu buộc phải tìm hàng khác cho tàu và ngày
12/3/1992 đã ký được Hợp đồng chở phân bón từ Lhokseumawe,
Indonesia về Việt Nam.
- Khởi kiện:
+ Nguyên đơn:
Theo quy định của điều khoản giải quyết tranh chấp thoả thuận trong
Hợp đồng thuê tàu, Chủ tàu đã kiện Người thuê tàu ra trọng tài Hồng
Do không có hàng để xếp lên tàu thì Người thuê tàu không thể thực
hiện được Hợp đồng thuê tàu đã ký với Chủ tàu. Vì vậy, Hội đồng
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 4/22
Trọng tài quyết định buộc Người thuê tàu bồi thường thiệt hại cho
Chủ tàu do không thực hiện Hợp đồng thuê tàu đã ký.
c. Bình luận vụ án:
- Trong vụ án được cung cấp trên đây, các dữ liệu về tên tuổi và một số
thông tin chưa đầy đủ. Chủ yếu đây là các tình huống để thảo luận,
bàn bạc và rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp.
- Về dữ liệu của vụ án, không thấy đề cập cụ thể về điều khoản giải
quyết tranh chấp và luật áp dụng. Khi đưa ra trọng tài Hong Kong giải
quyết tranh chấp, trọng tài đã cho rằng không thể xem sự im lặng
trong trường hợp này là sự đồng ý của Bị đơn. Do không có dữ liệu về
luật căn cứ, nên nhóm chưa thể xác định chính xác căn cứ pháp lý cụ
thể về việc phán quyết này. Về việc quy định này, nếu cáp dụng luật
Việt Nam thì căn cứ điều 404 quy định: “Hợp đồng dân sự cũng xem
như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị
vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao
kết ». Như vậy, trong trường hợp có thỏa thuận thì sự im lặng mới
được quy kết là đồng ý.
- Rõ ràng trong trường hợp này, Bị đơn có lỗi hoàn toàn và yếu lý. Việc
im lặng của Bị đơn là hành động không hợp tác và gây khó dễ cho
Nguyên đơn.
- Ngoài ra, việc im lặng trong giao thương ở một số quốc gia được xem
là sự đồng ý, do đó, các doanh nghiệp khi ký hợp đồng cần phải xem
xét các quy định của quốc gia của đối tác hoặc lựa chọn luật áp dụng
hoặc các điều ước quốc tế phổ biến để hạn chế rủi ro khi thực hiện hợp
đồng.
d. Bài học kinh nghiệm:
- Đối với chủ tàu:
chuyến cho số tôm đông lạnh đó tại Công ty bảo hiểm PJICO.
Chuyến tàu chở tôm (tàu Hanjin) rời cảng Sài Gòn (cảng đầu tiên)
vào ngày 01/11/2002 đi Hamburg nhưng mãi đến ngày 11/11/2002
đại diện cho chủ hàng mới đến PJICO để mua bảo hiểm cho lô
hàng. Sau đó, chủ hàng yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm này bồi
thường thiệt hại số hàng đó do tàu Hanjin bị hoả hoạn ở Srilanka.
PJICO đã bồi thường cho chủ hàng 3,8 tỷ đồng.
b. Kết quả điều tra của cơ quan chức năng:
- Bà Phan Hồng Thu, 45 tuổi, trú tại 215 B6 Nguyễn Văn Hưởng,
Thảo Điền, quận 2, Tp.HCM là Giám đốc Công ty TNHH Việt
Thái Phong. Bà Thu có chồng là ông Nguyễn Thượng Hải, Giám
đốc kỹ thuật Công ty TAIFUN GmbH Thụy Sĩ.
- Ngày 9/10/2002, Công ty PIZOLER Thụy Sĩ ký hợp đồng mua 2 lô
hàng tôm biển của Công ty Sông Tiền, vận chuyển từ cảng
Tp.HCM đến cảng Hamburg (Đức). Về phần thanh toán, Công ty
PIZOLER sẽ trả tiền lô hàng này cho Công ty Sông Tiền qua Công
ty TAIFUN do ông Nguyễn Thượng Hải làm đại diện.
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 6/22
- Thực hiện hợp đồng bán tôm, ngày 6/11/2002, lô hàng 14.209,4kg
tôm đã từ cảng Tp.HCM đến Hamburg an toàn. Nhưng lô hàng
15.840kg tôm rời cảng Tp.HCM ngày 1/11/2002 thì gặp nạn. Khi
đến Singapore, hàng được chuyển sang tàu Hanjini Pennsylvania
vào 8h30 (giờ Việt Nam) ngày 11/11/2002, khi tàu đến Colombo
thì bị cháy khiến lô tôm này bị thiệt hại hoàn toàn.
- Thế nhưng, 14h cùng ngày (tức là gần 6 tiếng sau khi tàu bị cháy),
bà Phan Hồng Thu mới đề nghị một nhân viên của Công ty Sông
Tiền đến Chi nhánh PJICO tại Tp.HCM để mua bảo hiểm cho 2 lô
tôm (trong đó có một lô đã bị cháy). Cho mãi đến chiều ngày
18/11/2002 (tức là một tuần sau khi tàu bị cháy), nhân viên Công
ty Sông Tiền mới nộp phí bảo hiểm. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị
Thời hạn hiểu theo nghĩa chung nhất là một khoảng thời gian nhất
định được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Hay nói cách
khác, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định bởi hai thời điểm là
thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thời hạn. Thời hạn có thể do
các bên xác thỏa thuận, có thể do pháp luật quy định. Thời hạn có hiệu
lực của một hợp đồng bảo hiểm cũng tuân theo nguyên lý chung đó nên là
một khoảng thời gian được xác định theo hai thời điểm sau:
- Thời điểm bắt đầu (là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo
hiểm)
- Điều 405 Bộ luật dân sự và Luật kinh doanh bảo hiểm: thời điểm
có hiệu của một hợp đồng bảo hiểm là thời điểm bên sau cùng ký
vào văn bản được coi là bằng chứng của hợp đồng bảo hiểm. Tuỳ
theo từng trường hợp, thời điểm có hiệu lực của mỗi một hợp đồng
bảo hiểm cụ thể được xác định một cách khác nhau. Nhưng tóm lại,
thời điểm bắt đầu có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm thông thường
được xác định tại thời điểm người tham gia bảo hiểm đã nộp đủ phí
bảo hiểm đầu tiên và nhận được giấy chứng nhận bảo hiểm.
Như vậy ở đây, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm là
ngày 18/11/2002 (ngày đóng tiền bảo hiểm)
- Thời điểm kết thúc (là thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
bảo hiểm). Hợp đồng bảo hiểm được chấm dứt theo các trường hợp
được quy định tại Điều 424 của Bộ luật dân sự 2005 và Điều 23
của Luật Kinh doanh bảo hiểm, bao gồm:
- Hợp đồng được hoàn thành
- Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt
thực hiện hợp đồng.
- Hợp đồng bảo hiểm chấm dứt khi hợp đồng bị huỷ bỏ.
Thời hạn bảo hiểm:
- Thời hạn bảo hiểm là khoảng thời gian được xác định theo hợp
đồng bảo hiểm mà trong khoảng thời gian đó, doanh nghiệp bảo
trong thời hạn bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm mới phải chi trả
tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm.
Ví dụ: Thời hạn có hiệu lực của một hợp đồng bảo hiểm công trình
xây dựng được tính theo thời hạn thi công thì mặc dù hợp đồng bảo
hiểm đó có hiệu lực kể từ khi hợp đồng được giao kết và bên tham
gia bảo hiểm đóng phí bảo hiểm nhưng thời điểm bắt đầu của thời
hạn bảo hiểm chỉ tính kể từ khi công trình đó được khởi công xây
dựng.
- Như vậy, cần phải xác định rằng có nhiều hợp đồng bảo hiểm mà
trong đó, thời hạn bảo hiểm chỉ là một (hoặc những) khoảng thời
gian nằm trong khoảng thời gian có hiệu lực của hợp đồng. Do vậy,
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 9/22
trong những trường hợp thời hạn bảo hiểm khác với thời hạn có
hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm thì trong hợp đồng bảo hiểm đó
phải ghi rõ thời hạn bảo hiểm (thường được ghi rõ trong hợp đồng
bảo hiểm về các khoảng thời gian không được bảo hiểm) hoặc thời
hạn bảo hiểm phải được xác định theo các quy định khác của pháp
luật.
- Tóm lại, nếu thời hạn của hợp đồng bảo hiểm là căn cứ để xác định
mối liên hệ pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng thì thời hạn bảo hiểm là căn cứ để xác định một rủi ro, thiệt
hại được coi là một sự kiện được bảo hiểm. Thông thường, một rủi
ro xảy ra trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm sẽ là sự
kiện được bảo hiểm nhưng cũng có rất nhiều trường hợp không
phải là sự kiện bảo hiểm nếu xem xét trong mối liên hệ nói trên. Vì
thế, việc xác định chính xác thời hạn bảo hiểm có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định quyền được hưởng bảo hiểm hay không
của người được bảo hiểm đồng thời cũng là cơ sở để xác định
quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm. Trong thực tế có
thể sẽ có nhiều trường hợp vênh nhau giữa thời điểm giao kết của
thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự
kiện bảo hiểm đã xảy ra. Trong trường hợp này, ngoài việc xác
định tính vô hiệu của hợp đồng bảo hiểm còn phải xác định hành
vi ký kết hợp đồng của bên mua bảo hiểm là một hành vi lừa dối
nên PJICO không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đồng thời
không phải trả lại số tiền bảo hiểm cho bên chủ hàng.
d. Bài học kinh nghiệm:
Đối với công ty bảo hiểm:
- Đối chiếu và xem xét lại kỹ thời hạn bảo hiểm, ghi rõ trong hợp
đồng bảo hiểm (quy định thời gian hiệu lực của hợp đồng bảo
hiểm).
- Kiểm tra các đơn bảo hiểm về tính hợp lý (thời gian hàng xuất tàu,
hợp đồng mua bán hàng hoá, …) và xem xét đến các rủi ro bảo
hiểm (đã xảy ra chưa, thời điểm xảy ra, có thể xảy ra,…).
- Có sự tham gia của công ty giám định trước khi thanh toán, khi cần
có thể nhờ các cơ quan có chức năng để điều tra (nếu có dáu hiệu
gian lận)
Đối với người mua bảo hiểm (chủ hàng, người mua): Bỏ qua
các yếu tố gian lận, nếu là người mua bảo hiểm cần lưu ý:
- Nếu không có thoả thuận khác, hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực
bảo hiểm kể từ thời điểm đã đóng đầy đủ các khoản phí.
- Cần nên mua bảo hiểm trước khi xuất hàng (ở đây giả sử không có
gian lận, sau khi xuất hàng nếu tổn thất đã xảy ravà chủ hàng
không biết, đồng thời mua bảo hiểm vẫn sẽ không được thanh
toán).
3. Tranh chấp thanh toán:
CÁC BÊN
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 11/22
Nguyên đơn: Bên bán Pháp
Bị đơn: Ngân hàng phát hành A Việt Nam
+ Charter party bills of lading are acceptable.
Nguyên đơn đã chiết khấu chứng từ tại Ngân hàng thông báo B ở Paris.
Ngân hàng thông báo B Paris xuất trình chứng từ đòi tiền Ngân hàng phát
hành A Việt Nam.
Ngân hàng phát hành A Việt Nam đã nhận được bộ chứng từ do Ngân
hàng B Paris xuất trình đúng hạn và tiến hành kiểm tra trong thời hạn
không quá 5 ngày làm việc ngân hàng kể từ ngày nhận chứng từ. Căn cứ
vào kết quả kiểm tra, Ngân hàng phát hành A Việt Nam đã thông báo cho
Bên mua Việt Nam biết rằng các chứng từ có 3 sai biệt so với yêu cầu của
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 12/22
L/C và yêu cầu Bên mua Việt Nam kiểm tra lại và trả lời trong vòng 2
ngày làm việc kể từ ngày thông báo kết quả kiểm tra là chấp nhận hay từ
chối thanh toán.
Bên mua Việt Nam phát hiện thêm 1 sai biệt nữa của bộ chứng từ và trả
lời từ chối thanh toán. Ngân hàng phát hành A Việt Nam từ chối thanh
toán và trả lại chứng từ cho ngân hàng xuất trình. Các sai biệt gồm có:
- Sai biệt thứ nhất là mô tả hàng hoá trong Hoá đơn thương mại chưa
được chi tiết hoá.
- Sai biệt thứ hai là trên Vận đơn theo Hợp đồng thuê tàu thiếu ghi chú
“tên tàu chuyên chở” của Người chuyên chở.
- Sai biệt thứ ba là trong trường mô tả hàng hoá của L/C ghi điều kiện
giao nhận hàng là FCL/FCL, nhưng trên Vận đơn lại ghi là CY/CY.
- Sai biệt thứ tư là số hợp đồng ghi trên Hoá đơn: 611/17120-01 mâu
thuẫn với số hợp đồng ghi trên Giấy chứng nhận số lượng: 611/17102-01.
Nguyên đơn không thừa nhận 4 sai biệt của các chứng từ xuất trình và
cho rằng các chứng từ là hoàn toàn phù hợp với L/C và UCP 600 do đó,
đã khởi kiện Ngân hàng phát hành A Việt Nam ra Trọng tài và đòi bồi
thường mọi thiệt hại phát sinh từ việc từ chối thanh toán bất hợp lý này.
b. Quyết định của Trọng Tài:
Hoá đơn có phù hợp với yêu cầu của L/C và quy định của UCP 600
cần ghi chú thêm nữa.
Về vấn đề này, Hội đồng Trọng tài phân tích như sau:
- Để chuyên chở một khối lượng bột mì 10.000,00 MT, Nguyên đơn phải
thuê tàu chuyến, không thể “booking” tàu chợ. Hầu hết các Charter party
Bill of Lading không in sẵn tên tàu chuyên chở trên Headline của B/L, mà
bỏ trống. Vì vậy, khi ký B/L, Người chuyên chở cần phải xác nhận là
hàng hoá đã được bốc lên tàu nào, có hoàn hảo không.
- Xét về hình thức, trên bề mặt B/L thường gồm có 3 nội dung: một là,
những nội dung in sẵn trước trên mặt B/L; hai là, các nội dung được điền
vào các ô trống của B/L khi thảo B/L; ba là, các nội dung ghi chú và ký
B/L của Người chuyên chở.
Khi soạn thảo B/L, hãng tàu hoặc đại lý của họ sẽ điền tên con tàu nhận
hàng vào ô trống của B/L. Khi ký B/L, Người chuyên chở mới ghi chú
(notation) xác nhận tình trạng hàng hoá, ngày đã bốc hàng xong lên con
tàu đích danh vào ô mô tả hàng hoá và bao gói của B/L. Đối với Charter
party Bill of Lading, việc ghi chú như thế là bắt buộc.
Nói tóm lại, Hội đồng Trọng tài thừa nhận sự bắt lỗi sai biệt này của Bị
đơn là đúng như quy định của UCP 600.
FCL/FCL có khác biệt với CY/CY không?
Quan điểm của Nguyên đơn cho rằng FCL/FCL là nhận nguyên công tại
cảng đi và giao nguyên công tại cảng đến và CY/CY là nhận tại Bãi
container cảng đi giao tại Bãi container cảng đến là hoàn toàn giống nhau,
không thể coi là sự khác biệt được.
Quan điểm của Bị đơn coi FCL/FCL và CY/CY là khác biệt nhau, vì:
- FCL là viết tắt của nhóm từ Full Container Load và CY là viết tắt của
nhóm từ Container Yard. Hai nhóm từ này hoàn toàn khác nhau, nếu xét
theo nguyên tắc kiểm tra bề mặt của các chứng từ quy định trong UCP
600.
- CY là bãi container ở các cảng, trong bãi container có thể chứa các
container chứa đầy hàng của một chủ hàng (FCL), của nhiều chủ hàng
Người bán:
Điều kiện cam kết thanh toán quy định trong L/C là chứng từ xuất trình
phải phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C. Tuy nhiên, sự phù
hợp của chứng từ so với điều kiện và điều khoản của L/C là vấn đề phức
tạp. Điều 14 UCP 600 có quy định những tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ,
tuy nhiên còn nhiều tiêu chuẩn chưa rõ ràng.
Do đó, người bán hàng theo phương thức L/C cần chuẩn bị bộ chứng từ
kỹ càng nhằm tránh thiệt thòi khi bị từ chối thanh toán.
Ngân hàng mở tín dụng thư:
Trong trường hợp này, ngân hàng mở L/C là bên thắng kiện, nhưng cũng
cần lưu ý nội dung sau:
- Thư tín dụng là cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành, do đó khi
nhận được bộ chứng từ hợp lệ thì ngân hàng phải thanh toán theo đúng
cam kết của mình. Trường hợp từ chối thanh toán, thì ngân hàng phải nêu
ra điểm bất hợp lệ của bộ chứng từ đó.
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 15/22
Nếu ngân hàng không tuân thủ Quy tắc và Thực hành thống nhất tín dụng
chứng từ là thực hiện đúng cam kết thanh toán của mình, ngân hàng sẽ bị
giảm uy tín trong giao dịch thương mại quốc tế.
Người mua (người đề nghị phát hành thư tín dụng):
Ngoài ra, người mua cũng có thể gặp rủi ro như sau:
- Trong việc thực hiện thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ,
rủi ro của người mua là có thể nhận hàng không đạt tiêu chuẩn chất lượng
trong khi ngân hàng phát hành thư tín dụng đã thanh toán hoặc chấp nhận
thanh toán cho lô hàng đó. Vì vậy, khi giao dịch thương mại quốc tế, bên
mua hàng cần lưu ý tìm hiểu về uy tín và chất lượng hàng hóa của bên
bán hàng, điều quan trọng là phải quy định quy cách và chất lượng của
hàng hóa trong hợp đồng kinh tế cụ thể, rõ rang nhằm bảo đảm quyền lợi
của mình khi phát sinh tranh chấp.
4. Tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng xảy ra khá thường xuyên và
điều đó thường kéo theo những thiệt hại không nhỏ cho người mua hàng.
Về mặt pháp lý, người mua có quyền yêu cầu người bán bồi thường cho
mình những thiệt hại phát sinh từ việc giao hàng không đúng như quy
cách trong hợp đồng. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là liệu người mua có
quyền bảo vệ quyền lợi chính đáng đó của mình bằng cách tự khấu trừ
một phần trên giá trị hợp đồng hay không. Một vấn đề khác liên quan đến
điều khoản về luật áp dụng trong hợp đồng. Khi các bên ký kết hợp đồng
thường hay bỏ qua điều khoản tường như không quan trọng này, thế
nhưng khi tranh chấp phát sinh, điều khoản này lại là vấn đề được đem ra
xem xét trước tiên và nó có một ảnh hưởng khá lớn tới kết quả của việc
giải quyết tranh chấp.
c. Luật áp dụng:
Hợp đồng được ký giữa các bên không có điều khoản về luật áp
dụng. Tuy nhiên, theo hợp đồng này thì luật áp dụng sẽ được xác định
theo quyết định của các trọng tài viên phù hợp với điều 13 của quy tắc
trọng tài của Phòng thương mại quốc tế. Theo điều này, các trọng tài viên
sẽ áp dụng hệ thống luật thực chất được xác định theo quy phạm luật
xung đột mà họ cho là phù hợp để giải quyết tranh chấp.
Hợp đồng được ký kết giữa các bên thuộc các quốc tịch khác nhau
dưới dạng FOB nên rủi ro được chuyển cho người mua trên lãnh thỗ của
người bán. Do đó nước của người bán được coi là nước có mối liên hệ
chặt chẽ nhất với hợp đồng.
Xu hướng chung khi có xung đột về luật áp dụng thì luật của quốc
gia nơi đặt trụ sở của người có nghĩa vụ chính phát sinh từ hợp đồng sẽ
được chọn. Người có quyền trong hợp đồng mua bán hàng hóa này là
người bán hàng.
Căn cứ vào các cơ sở trên, ủy ban trọng tài xét thấy luật của nước nguyên
đơn là luật thích hợp nhất để điều chỉnh hợp đồng giữa nguyên đơn và bị
đơn.
hợp lý, nghĩa là 8 ngày kể từ khi báo cáo kiểm tra hàng của chuyên gia
giám định được lập. Uy ban trọng tài thấy rằng, bị đơn đã tuân thủ đúng
những yêu cầu nêu trên của Công ước viên. Về điểm này, ủy ban trọng tài
không căn cứ vào luật của nước nguyên đơn vì luật này quy định một thời
gian quá ngắn cho việc thông báo tổn thất của người mua đến người bán,
công bằng mà xét thì quy định của luật này là một ngoại lệ so với tập
quán thương mại được thừa nhận rộng rãi.
Trong trường hợp này, việc áp dụng tập quán thương mại hoặc luật
quốc gia là do ủy ban trọng tài quyết định và ủy ban đã quyết định áp
dụng Công ước viên với tư cách là một tập quán thương mại.
Về phần người bán, trong mọi trường hợp, người bán cũng bị coi là
bị mất quyền khiếu nại về các vi phạm đối với các yêu cầu nêu tại Điều
38 và 39 Công ươc viên và Điều 40 có quy định rằng “ người bán không
thể căn cứ vào điều 38 và 39 nếu việc không phù hợp của hàng hóa có
liên quan tới những thực tế mà người bán đã biết hoặc không thể không
biết và đã không nêu ra”. Thực tế, từ tất cả những chứng cứ và tài liệu
của vụ kiện này, ủy ban trọng tài thấy rằng nguyên đơn đã biết và không
thể không biết về việc hàng giao theo hợp đồng thứ hai không đúng với
quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng.
Uy ban trọng tài chấp nhận đồng thời các yêu cầu của nguyên đơn và đơn
kiện lại của bị đơn. Do đó hai khoản tiền này bù cho nhau, bị đơn không
phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền mà nguyên đơn yêu cầu còn nguyên
đơn cũng không phải bồi thường cho bị đơn những chi phí mà bị đơn đã
gánh chịu.
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 18/22
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM KHI THAM GIA THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ
Hợp đồng là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên tham
gia ký kết hợp đồng. Nó cũng là cơ sở pháp lý để trọng tài, toà án hay bất
nghiệp chú ý khi mua bán. Nhưng đây lại là vấn đề quan trọng để xác
định giá trị pháp lý của hợp đồng có hiệu lực pháp lý hoặc không có giá
trị pháp lý. Những vấn đề đó gồm:
Tư cách pháp lý
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 19/22
Ai là người có thẩm quyền ký kết hợp đồng, và có đúng thẩm quyền
không, có bị vượt quá quyền hạn khi ký kết hợp đồng không? Tất cả
những vấn đề này đều phải được trả lời rõ ràng trước khi ký kết hợp
đồng. Có thể vì chủ quan mà chúng ta không để ý, nhưng nó luôn tiềm ẩn
những rủi ro lớn nếu không bao quát được hết.
Việc ký, đóng dấu
Việc kỹ thuật soạn thảo văn bản tuy nhỏ, nhưng lại ảnh hưởng tới
toàn bộ giá trị pháp lý của hợp đồng.
Quyền và nghĩa vụ
Đây là những vấn đề cần được quan tâm đầy đủ, điều khoản giá cả tuy
quan trọng, nhưng nếu không biết thiết lập những quyền và nghĩa vụ cho
đầy đủ, đảm bảo được việc thực hiện hợp đồng triệt để thì sẽ xảy ra rất
nhiều cơ hội cho việc phá hợp đồng, khi quyền và nghĩa vụ của các bên
không được nêu và quy định rõ ràng.
3. Thiếu sót và trách nhiệm
Trong quá trình thực hiện thì khó có thể loại bỏ hết những sai sót, do
đó, các bên cần có những điều khoản rõ ràng, cụ thể để nếu xảy ra sai sót
A thì có kết quả B tương ứng để các bên thực hiện theo. Tránh trường
hợp khi xảy ra rồi mới bắt đầu ngồi đàm phán, thương lượng để giải
quyết vấn đề, vì như vậy, liên quan tới quyền lợi trực tiếp, rõ ràng thì khó
có thể ngồi nói chuyện, nhận thiệt thòi về mình được. Đây cũng là một
yếu điểm mà các doanh nghiệp Việt Nam thường gặp phải khi thảo luận,
ký kết hợp đồng. Những vấn đề này bao gồm:
- Bảo đảm và bảo hành
- Thời hạn phải chịu trách nhiệm do sai sót
chọn luật quốc gia của mình thì điều này lại không hoàn toàn
đúng với các nhà đàm phán Việt Nam. Họ hiểu rằng việc dẫn
chiếu đến luật Việt Nam đôi khi không phải là giải pháp tối ưu,
vì pháp luật về hợp đồng nói chung và về hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế nói riêng của Việt Nam còn hàm chứa nhiều
quy định chưa phù hợp với điều kiện quốc tế, với pháp luật, tập
quán thương mại quốc tế và như vậy, chưa thể bảo vệ một cách
hiệu quả lợi ích của các bên trong hợp đồng quốc tế.
• Việc lựa chọn luật quốc gia của nước ngoài có thể đem lại
những rủi ro pháp lý cho DN Việt Nam do thiếu sự hiểu biết
đầy đủ về luật đó.
- Thứ hai, đây là nguồn luật phổ biến nhất điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế hiện nay. CISG đã được phê chuẩn bởi 66 quốc gia,
trong đó có rất nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt Nam
như Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia,
Trung Quốc Các công ty, DN của các nước này đã áp dụng và đã
quen áp dụng CISG cho các hợp đồng mua bán hàng hoá ký với các
đối tác nước ngoài. Vì vậy, nếu DN Việt Nam đề xuất việc áp dụng
CISG thì sẽ dễ dàng được đối tác chấp nhận.
- Thứ ba, có được sự an toàn về mặt pháp lý. Qua việc tìm hiểu các quy
định của CISG cũng như qua việc phân tích các án lệ liên quan đến
CISG trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng
hoá quốc tế, chúng tôi thấy rằng các quy định của CISG là phù hợp
với thực tiễn thương mại quốc tế, thường được các DN và công ty lựa
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 21/22
chọn áp dụng cũng như được các toà án, đặc biệt là các trọng tài quốc
tế dẫn chiếu đến khi giải quyết tranh chấp. Hơn nữa, với tư cách là
một văn bản luật thực chất nhằm giải quyết các xung đột trong kinh
doanh quốc tế, các quy định trong Công ước được coi là rất hợp lý, đã
thống nhất được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác
Nguồn tài liệu:
- www. tuvanluat .net
- www. luatsu tuvan.com.vn
- />quoc-te.htm
-
GVHD: ThS Ngô Thị Hải Xuân Trang 22/22