thực tiễn quy hoạch bảo vệ môi trường và các giải pháp nâng cao vai trò của quy hoạch môi trường ở việt nam - Pdf 13

Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch thế giới phát triển mạnh và trở thành ngành kinh tế quan trọng
của nhiều nước. Năm 2010 dự báo thế giới có trên 1 tỷ người đi du lịch. Du
lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống dân cư và trong xã
hội và là một trong những ngành kinh tế phát triển nhất trên thế giới.
Nhu cầu của khách du lịch ngày càng cao, và ngày càng quan tâm
tới điều kiện về an toàn và sức khỏe xu hướng khách chỉ chọn những điểm
đến, những cơ sở dịch vụ du lịch quan tâm đến bảo vệ môi trường. Chỉ
những nơi môi trường xanh - sạch - đẹp với những sản phẩm an toàn mới có
thể có sức cạnh tranh thu hút khách và từ đó các doanh nghiệp du lịch, cộng
đồng dân cư địa phương mới có thể thu lợi từ du lịch. Hiện nay, do quá trình
công nghiệp hóa, dân số ngày càng tăng, vấn đề đô thị hóa và nạn xây dựng
tràn lan không theo quy hoạch, kế hoạch dẫn tới việc khai thác và sử dụng
quá mức làm cạn kiệt tài nguyên, gia tăng các chất thải và khí thải, nước
thải, tiếng ồn làm ô nhiễm và xuống cấp môi trường ảnh hưởng tới sức khoẻ
của cả cộng đồng dân cư.
Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ cấp bách không chỉ của ngành du lịch
mà của các cấp, các ngành, toàn xã hội, của các quốc gia để phát triển du
lịch bền vững, nâng cao đời sống xã hội của từng địa phương, từng ngành và
của từng người dân sống trong xã hội. Ngược lại phát triển du lịch bền vững
là một hướng đi toàn diện và là phương tiện hữu hiệu cho việc bảo vệ môi
trường trong hoạt động du lịch.
Quy hoạch môi trường được xem như là một biện pháp quan trọng đề
bảo vệ môi trường. Đây là bước khởi đầu quan trọng cho sự nghiệp bảo vệ
1
môi trường khi nó đưa ra được cái nhìn toàn diện và đề xuất những giải pháp
hợp lý. Tuy nhiên ở Việt Nam vấn đề này vẫn chưa được quan tâm một các
đúng đắn khiến hiệu quả thực tế của công tác này còn yếu kém về nhiều mặt.
Do đó, cần phải nâng cao hơn nữa tầm quan trọng của công tác này cũng
như nhận thức về nó trong bộ máy lãnh đạo nhà nước và các địa phương.

1. Một số vấn đề về môi trường và quy hoạch, kế hoạch hóa bảo vệ môi
trường (quy hoạch môi trường)
1.1. Môi trường và những vấn đề liên quan
Môi trường là một khái niệm có nội hàm vô cùng rộng và được sử
dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong cuộc sống người ta dùng nhiều
khái niệm môi trường như môi trường sư phạm, môi trường xã hội, môi
trường giáo dục… Môi trường theo định nghĩa thông thường “là toàn bộ nói
chung những điều kiện thự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh
vật tồn tại và phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”; là
“sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hay điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự
tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ”.
Môi trường trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm được
hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường
được hiểu như là những yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh
con người.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 định nghĩa:
_ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh
con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sinh vật.
4
Dựa theo định nghĩa trên có thể thấy con người là trung tâm trong mối
quan hệ với tự nhiên và tạo thành trung tâm đó là mối quan hệ giữa con
người với nhau chứ không phải giữa các thành phần khác của môi trường
Theo khoản 2 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005:
_ Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất,
nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái
vật chất khác. Định nghĩa này cho thấy môi trường được tạo thành bởi
những yếu tố vật chất tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo (hình thái vật chất
khác), trong đó những yếu tố vật chất tự nhiên có ý nghĩa đặc biệt và quan

Bởi khi mà nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt đồng nghĩa với việc
điều kiện để phát triển không còn. Do đó, để đảm bảo phát triển một cách
bền vững cần phải ngăn chặn suy thoái môi trường.
Theo khoản 8 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2005:
_ Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động
của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy
thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.
_ Sự cố môi trường có thể xảy ra do:
a) Bão, lũ, lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun,
mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
b) Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại môi trường của cơ sở
sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội,
6
an ninh, quốc phòng;
c) Sự cố trong tìm kiếm, thămdò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu
khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu,
sự cố tại cơ sở lọc hóa dầu và các cơ sở công nghiệp khác;
d) Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản
xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ.
Những khái niệm trên cho thấy ô nhiễm môi trường, suy thoái môi
trường và sự cố môi trường đều dẫn đến những thiệt hại mang tính nghiêm
trọng về môi trường. Đó là : i) nó để lại những ảnh hưởng mang tính lâu dài,
nguy cơ mang tính tiềm ẩn gây tác động xâu đến môi trường trong tương lai
ngoài những tác động hiện tại; ii) đồng thời cũng tiềm ẩn nguy cơ cao về khả
năng gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của con người; iii)
những thiệt hại này còn mang tính liên đới khi mà một thành phần của môi
trường bị ô nhiễm hay suy thoái hoặc sự cố môi trường sẽ tác động đến
những thành phần còn lại của môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm
hoặc suy thoái hơn.
Ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường đem

Chúng ta thấy rõ rằng khái niệm “quy hoạch môi trường” dường như chưa
được thống nhất rõ ràng. Thế nhưng, qua một số định nghĩa ta nhận thấy quy
hoạch môi trường trước hết đó là hành động nhằm bảo vệ môi trường và tài
nguyên thiên nhiên để hướng đến phát triển bền vững, trong đó hiển nhiên
bao gồm phát triển kinh tế-xã hội của một lãnh thổ. Tuy nhiên, có một số lẫn
lộn ở đây thông qua các định nghĩa trên. Có hai hướng suy nghĩ chính như
sau :
- Phải chăng quy hoạch môi trường cũng chính là quy hoạch sử dụng đất của
một lãnh thổ, quy hoạch tài nguyên nước của một vùng, quy hoạch giao
thông,… thậm trí quy hoạch bãi đậu xe có sự cân nhắc đến các yếu tố bảo vệ
môi trường.
- Hoặc ngược lại, quy hoạch môi trường cần phải đi trước các quy hoạch
khác từ đó làm cơ sở để quy hoạch các lĩnh vực thành phần : đất đai, nước,
giao thông,…
Mỗi một cách nghĩ đều có 2 mặt của chúng :
Theo cách nghĩ thứ nhất, rõ ràng vấn đề phát triển kinh tế được tập trung ưu
tiên, vai trò bảo vệ môi trường là thứ yếu hoặc nếu được quan tâm thì cũng
không thể có cái nhìn tổng thể về các vấn đề môi trường. Bởi lẽ cái nhìn về
những khía cạnh môi trường, áp lực, tác động và các hành xử đáp ứng thông
qua quy hoạch chỉ có tính cục bộ. Còn nếu các nhà quy hoạch (planner) tiến
xa hơn nữa là có cái nhìn tổng thể hơn, đặt vị trí lãnh thổ nghiên cứu của
mình trong một không gian có cập bậc thì bài toán vô hình chung đi theo
hướng thứ 2. Sẽ xuất hiện một sự luẩn quẩn ở đây trong cách tiếp cận vấn
9
đề. Một vấn đề nữa nếu quy hoạch chuyên ngành có tính đến yêu tố môi
trường thường mang tính cục bộ, do đó rất dễ nảy sinh hiệu ứng “tích lũy”
gây ra các thảm họa về môi trường. Một dự án với lượng chất thải gây ô
nhiễm được dự tính (quy hoạch) là nhỏ, nhưng nhiều dự án sẽ tạo ra những
cộng hưởng vô cùng nguy hiểm. Những dự án công nghiệp dọc theo sông
Đồng Nai, sông Thị Vải, sông Nhuệ, sống Đáy là một ví dụ điển hình.

vững là quyền phát triển và sự cần thiết phải chăm sóc môi trường. Mặc dù
chưa có định nghĩa toàn diện và thống nhất về phát triển bền vững song về
thực chất đó là mối liên kết không thể tách rời giữa phát triển và bảo vệ môi
trường. Cộng đồng quốc tế cũng ghi nhận vấn đề này:
_ Từ Tuyên bố Stockholm về môi trường tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về
môi trường, con người, Stockholm, Thụy Điển, 6-16/6/1972 “đã xem xét
nhu cầu cần có một quan điểm chung và những nguyên tắc chung tạo ra tình
cảm và hướng mọi dân tộc trên thế giới trong quá trình gìn giữ và làm tốt
đẹp hơn môi trường của con người”. Tuyên bố đã xây dựng 26 nguyên tắc
trong đó nhấn mạnh: “Bảo vệ và cải thiện môi trường con người là vấn đề có
ảnh hưởng lớn tới phúc lợi của mọi dân tộc và sự phát triển kinh tế trên toàn
thế giới; đó là khao khát khẩn cấp của mọi dân tộc trên khắp thế giới và
nhiệm vụ của mọi chính phủ”(nguyên tắc 2).
11
_ Đến Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển tại Hội nghị Liên Hợp
Quốc về môi trường và phát triển, Rio de Janeiro, Brazil, 3-4/6/1992 đã
khẳng định lại tuyên bố Stockholm và xây dựng 27 nguyên tắc trong đó
khẳng định: “Con người là trung tâm của những mối quan hệ và sự phát triển
lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích va lành
mạnh hài hoà với thiên nhiên”(nguyên tắc 1); cũng như “ cần được thực hiện
quyền phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu của sự phát
triển và môi trường của các thế hệ hôm nay và tương lai”(nguyên tắc 3). Và
“để thực hiện sự phát triển bền vững, sự bảo vệ môi trường sẽ nhất thiết là
một bộ phận cấu thành của sự phát triển và không thể xem xét tách rời quá
trình đó”(nguyên tắc 4).
_ Tuyên bố Johannesburg về phát triển bền vững tại Hội nghị Thượng đỉnh
thế giới về phát triển bền vững, Johannesburg, Nam Phi, 26/8-4/9/2002 đã
một lần nữa khẳng định lại cam kết về phát triển bền vững “đặt trọng tâm
đặc biệt và ưu tiên quan tâm đến cuộc chiên chống lại các vấn nạn đang de
dọa nghiêm trọng tới sự phát triển bền vững của loài người trên quy mô toàn

Hay nói cách khác du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại
của du khách và vùng dùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp
ứng nhu cầu cho các thế hệ tương lai.
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo
cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm
mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ
bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống.
13
Mục tiêu của Du lịch bền vững là:
Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường.
Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển.
Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa.
Ðáp ứng cao độ nhu cầu của du khách.
Duy trì chất lượng môi trường.
2.3. Phát triển du lịch bền vững.
_ Phát triển du lịch bền vững là quá trình điều hành quản lý các hoạt động du
lịch với mục đích xác định và tăng cường các nguồn hấp dẫn khách tới các
vùng và quốc gia du lịch. Quá trình quản lý này luôn hướng tới việc hạn chế
lợi ích trước mắt để đạt được lợi ích lâu dài do các hoạt động du lịch đưa lại.
Dựa trên những nguyên tắc phát triển bền vững, Hội đồng Lữ hành Du lịch
thế giới (WTTC), Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) và Hội đồng Trái đất
(Earth Council) xây dựng Chương trình Nghị sự 21 với 10 nguyên tắc hướng
tới “phát triển du lịch bền vững”. Khái niệm phát triển du lịch bền vững
trong du lịch được hiểu là “hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự
nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch,
có quan tâm tới các lợi ích kinh tế trong dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự
đóng góp cho bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch, duy trì được sự toàn
vẹn về văn hóa để phát triển du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ
môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư địa
phương”.

việc trao đổi và học tập với du khách.
2.3.2 Những tác động theo hường tiêu cực của du lịch với môi trường.
Bên cạnh những tác động tiêu cực thì du lịch cũng gây những ảnh hưởng xấu
làm tổn hại môi trường như là :
_ Ảnh hưởng tới nhu cầu và chất lượng nước: Du lịch là ngành công nghiệp
tiêu thụ nước nhiều, thậm chí tiêu hao nguồn nước sinh hoạt hơn cả nhu cầu
nước sinh hoạt của địa phương.
_ Nước thải: Nếu như không có hệ thống thu gom nước thải cho khách sạn,
nhà hàng thì nước thải sẽ ngấm xuống bồn nước ngầm hoặc các thuỷ vực lân
cận (sông, hồ, biển), làm lan truyền nhiều loại dịch bệnh như giun sán,
đường ruột, bệnh ngoài da, bệnh mắt hoặc làm ô nhiễm các thuỷ vực gây hại
cho cảnh quan và nuôi trồng thủy sản.
_ Rác thải: Vứt rác thải bừa bãi là vấn đề chung của mọi khu du lịch. Đây là
nguyên nhân gây mất cảnh quan, mất vệ sinh, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng
đồng và nảy sinh xung đột xã hội.
_ Ô nhiễm không khí: Tuy được coi là ngành "công nghiệp không khói",
nhưng du lịch có thể gây ô nhiễm khí thông qua phát xả khí thải động cơ xe
16
máy và tàu thuyền, đặc biệt là ở các trọng điểm và trục giao thông chính, gây
hại cho cây cối, động vật hoang dại và các công trình xây dựng bằng đá vôi
và bê tông.
_ Năng lượng: Tiêu thụ năng lượng trong khu du lịch thường không hiệu quả
và lãng phí.
_ Ô nhiễm tiếng ồn: Tiếng ồn từ các phương tiện giao thông và du khách có
thể gây phiền hà cho cư dân địa phương và các du khách khác kể cả động vật
hoang dại.
_ Ô nhiễm phong cảnh: Ô nhiễm phong cảnh có thể được gây ra do khách
sạn nhà hàng có kiến trúc xấu xí thô kệch, vật liệu ốp lát không phù hợp, bố
trí các dịch vụ thiếu khoa học, sử dụng quá nhiều phương tiện quảng cáo
nhất là các phương tiện xấu xí, dây điện, cột điện tràn lan, bảo dưỡng kém

triển du lịch phải đi liền với hoạt động bảo vệ môi trường thì môi trường sẽ
được bảo vệ và du lịch sẽ có điều kiện để tồn tại và phát triển ổn định, lâu
dài. Vì vậy, bảo vệ môi trường trong kinh doanh du lịch là điều kiện quyết
định sự phát triển bền vững của du lịch.
18
3. Quy hoạch môi trường – biện pháp tích cực để bảo vệ môi trường.

Quy hoạch môi trường theo cách hiểu như ở trên có thể thấy nó mang lại
những lợi ích đáng kể đối với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, để quy hoạch môi trường đi vào thực tế, có nghĩa trở thành công
cụ để quản lý tài nguyên môi trường, góp phần bảo vệ môi trường. Trước hết
chúng ta cần khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động này đối với các
thành phần quản lý khác. Điểm xuất phát của chúng ta phải bắt đầu từ tư duy
nhìn nhận thế giới xung quanh ta hiện nay; nhận thức việc bảo vệ môi
trường là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế xã hội và không thể tách
rời. Còn nếu chỉ nhấn mạnh đế vấn đề phát triển kinh tế trước mắt thì việc áp
dụng các chỉ số môi trường vào các dự án quy hoạch lúc này chỉ mang tính
chất hình thức, nhất là trong môi trường làm việc hiện nay ở Việt Nam và
các nước đang phát triển.
Với quan điểm bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, quy hoạch môi
trường được thực hiện để:
- Giúp các nhà quản lý có cái nhìn tổng thể về môi trường sinh thái (tự nhiên
và nhân văn) trên lãnh thổ của mình dưới quan điểm của các nhà môi trường
học, từ đó đưa ra các định hướng phát triển trên cơ sở tích hợp nhiều chính
sách phát triển chuyên ngành khác. Trong trường hợp các quy hoạch chuyên
ngành đã được xây dựng trước thì quy hoạch môi trường giúp cảnh báo, điều
chỉnh và đưa ra phương án đề phòng. Điều đó có nghĩa là quy hoạch môi
trường là đưa ra một bức tranh toàn cảnh về môi trường giúp cho những việc
định hướng chính sách phát triển của các ngành kinh tế sao cho phù hợp và
thân thiện với môi trường để đảm bảo cho việc gìn giữ môi trường trong

tính quan trọng và quyết định chức năng toàn bộ hệ sinh thái tự nhiên – nhân
văn (tính trội của hệ thống) của lãnh thổ đang nghiên cứu và lân cận.
Chính vì vai trò quan trọng của nó đối với chức năng chung của một vùng,
nên quy hoạch môi trường cần phải được làm trước hoặc làm càng sớm càng
tốt, song song với các quy hoạch chuyên ngành khác. Sự tham gia của các
nhà môi trường xuyên suốt các dự án quy hoạch chuyên ngành là rất cần
thiết.
21
CHƯƠNG II. PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUY HOẠCH MÔI
TRƯỜNG; VAI TRÒ CỦA QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
1. Những quy định của pháp luật Việt Nam về quy hoạch môi trường.
Tại Việt Nam, vấn đề quy hoạch môi trường tuy vẫn còn mới mẻ nhưng
cũng đang từng bước được quy phạm hóa. Nhận thức được tầm quan trọng
của quy hoạch hóa môi trường đối với công tác bảo vệ môi trường nên Nhà
nước ta đã có những quy định cụ thể hơn nhằm tạo ra cơ sở pháp lý quan
trọng cho hoạt động này. Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay khi yêu cầu
phát triển bền vững đang đặt ra ngày càng cấp thiết đối với tất cả các quốc
gia trong đó các quốc gia đang phát triển như Việt Nam càng quan trọng
hơn. Đơn giản ở các quốc gia này mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo
vệ môi trường trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
1.1 Các quy định của Luật bảo vệ môi trường về quy hoạch môi trường.
1.1.1 Luật bảo vệ môi tr ư ờng 1993
Luật bảo vệ môi trường năm 1993 ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi bức thiết của
hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Tuy nhiên, do tính mới mẻ tại thời
điểm đó nó đã không cụ thể được nhiều vấn đề mà môi trường đang đặt ra.
Trong Luật quy định về quy hoạch hóa môi trường còn rất chung chung:
Tại điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 1993 có quy định: “Nhà nước thống
nhất quản lý bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước, lập qui hoạch bảo vệ
22

Luật bảo vệ môi trường năm 2005 đã kế thừa các quy định của Luật bảo vệ
môi trường năm 1993 và hoàn thiện hơn nữa các quy định về quy hoạch môi
trường củng cố hơn nữa cơ sở pháp lý cho hoạt động này. Cụ thể là:
Tại điều 28 về điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên quy
định:
1. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải được điều tra, đánh giá trữ lượng,
khả năng tái sinh, giá trị kinh tế để làm căn cứ lập quy hoạch sử dụng và xác
định mức độ giới hạn cho phép khai thác, mức thuế môi trường, phí bảo vệ
môi trường, ký quỹ phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại về môi trường
và biện pháp khác về bảo vệ môi trường.
2. Quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên phải gắn với quy hoạch bảo tồn
thiên nhiên.
3. Trách nhiệm điều tra, đánh giá và lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên
nhiên được thực hiện theo quy định của pháp luật về tài nguyên”.
Tại điều 29 về bảo tồn thiên nhiên quy định:
1. Khu vực, hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học quan trọng đối với quốc
gia, quốc tế phải được điều tra, đánh giá, lập quy hoạch bảo vệ dưới hình
thức khu bảo tồn biển, vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu dự trữ
sinh quyển, khu bảo tồn loài - sinh cảnh (sau đây gọi chung là khu bảo tồn
thiên nhiên).
2. Căn cứ để lập quy hoạch khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm:
a) Giá trị di sản tự nhiên của thế giới, quốc gia và địa phương;
24
b) Giá trị nguyên sinh, tính đặc dụng, phòng hộ;
c) Vai trò điều hoà, cân bằng sinh thái vùng;
d) Tính đại diện hoặc tính độc đáo của khu vực địa lý tự nhiên;
đ) Nơi cư trú, sinh sản, phát triển thường xuyên hoặc theo mùa của nhiều
loài động vật, thực vật đặc hữu, quý hiếm bị đe doạ tuyệt chủng;
e) Giá trị sinh quyển, sinh cảnh, cảnh quan thiên nhiên, sinh thái nhân văn
đối với quốc gia, địa phương;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status