Trờng Đại học Kinh tế quốc dân
Khoa Kế hoạch và Phát triển
Đề án môn học
KINH Tế PHáT TRIểN
Đề tài :
Vai trò của chính sách tiền tệ
trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô.
Giáo viên hớng dẫn: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
Sinh viên thực hiện : Đặng Minh Ngọc
Lớp : Kinh tế phát triển B
Khoá : 43
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 2
Hà Nội, tháng 11 năm 2004.
Mục lục
Trang
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 3
Lời mở đầu
CHƯƠNG I: Tầm quan trọng của chính sách tiền tệ trong điều tiết
hoạt động kinh tế vĩ mô
I - Cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính Phủ vào nền kinh tế
1.1 Nền kinh tế thị trờng và những khuyết tật của nó
1.2 Vai trò của Chính Phủ trong sự phát triển kinh tế
1.3 Các công cụ của Chính Phủ để can thiệp vào nền kinh tế thị trờng
II - Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế
2.1 Khái niệm và đặc trng của chính sách tiền tệ
2.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
2.3 Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ
3
5
7
8
8
10
13
15
20
20
20
20
21
22
22
24
28
31
31
32
33
33
34
35
36
38
Lời mở đầu
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 4
kinh tế vĩ mô.
Chơng II : Đánh giá vai trò của chính sách tiền tệ ở Việt Nam giai đoạn
1986 đến nay.
Chơng III : Phơng hớng và giải pháp nâng cao vai trò của chính sách tiền tệ
trong điều tiết kinh tế vĩ mô ở Việt Nam thời kỳ 2004 2010.
Do đề án đợc thực hiện theo nhận thức chủ quan của tôi nên không tránh
khỏi có nhiều hạn chế và thiếu xót, mong nhận đợc sự góp ý của các thày cô giáo
và các bạn để đề án thêm hoàn thiện. Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo - TS.
Nguyễn Thị Kim Dung, ngời đã giúp đỡ và tận tâm hớng dẫn tôi hoàn thành đề án
này.
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 5
Chơng i
Tầm quan trọng của chính sách tiền tệ
trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô
I - Cơ sở khách quan cho sự can thiệp của Chính Phủ vào nền kinh tế
1.1. Nền kinh tế thị trờng và những khuyết tật của nó
1.1.1. Khái niệm nền kinh tế thị tr ờng
Nền kinh tế thị trờng là nền kinh tế hàng hoá phát triển cao, đợc đánh dấu bởi
các nét đặc trng sau đây:
Quá trình lu thông vật chất trong nền kinh tế xã hội đợc thực hiện chủ yếu
bằng phơng thức mua bán.
Ngời tham gia mua bán có quyền tự do nhất định trên ba mặt: nội dung mua
bán, đối tác mua bán và giá cả trao đổi.
Đánh giá u điểm của kinh tế thị trờng là một quá trình, ban đầu phái tân cổ
điển mà điển hình là W.A.Smith đã đề cao tính u việt của kinh tế thị trờng thuần
tuý. Nhng thực tiễn cạnh tranh của nền kinh tế thị trờng thuần tuý đã chứng tỏ
những u điểm đó là ảo tởng, hoặc nếu có cũng chỉ là những u điểm không đáng kể.
1.1.2. Các thất bại thị tr ờng - cơ sở để Chính Phủ can thiệp vào nền kinh tế
không có đủ thông tin về việc mua sắm hàng hoá hoặc tham gia những công việc
nhất định. Đôi khi một bên nào đó tham gia thị trờng có thông tin đầy đủ về các đặc
tính sản phẩm hơn bên kia. Chẳng hạn trong thị trờng y tế, ngời bán (bác sĩ) có
nhiều thông tin hơn ngời mua (bệnh nhân ); trong thị trờng bảo hiểm ngời mua biết
rõ về xác suất xảy ra rủi ro hơn ngời bán (công ty bảo hiểm). Khó khăn trong việc
thu thập đủ thông tin đã có ảnh hởng tiêu cực đến hoạt động của nhiều thị trờng,
khiến các nguồn lực đợc phân bổ quá nhiều hoặc quá ít cho thị trờng đó so với mức
hiệu quả xã hội. Ngoài ra nó còn tạo động cơ cho bên có thông tin đầy đủ hơn lợi
dụng lợi thế này để thu lợi cho mình trên sự thiệt thòi của bên kia. Bất ổn định kinh
tế
Sự vận hành mang tính chất chu kỳ của nền kinh tế đã khiến lạm phát và thất
nghiệp trở thành những căn bệnh kinh niên của nền kinh tế thị trờng và gây nhiều
tổn thất cho xã hội. Việc Chính Phủ chủ động sử dụng các chính sách tài khoá và
tiền tệ để cố gắng ổn định hoá nền kinh tế là những nỗ lực để đạt đến trạng thái toàn
dụng nhân công. Mặc dù các chính sách ổn định hoá của Chính Phủ nhiều khi
không tiêu hao nhiều nguồn lực của xã hội, nhng lại trợ giúp đắc lực để thị trờng
hoạt động hiệu quả hơn.
Những nguyên nhân trên đây về các thất bại của thị trờng cho thấy, bản
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 7
thân thị trờng có thể đa đến những kết cục phi hiệu quả nếu không có sự can thiệp
của Chính Phủ. Nhng ngay cả khi nền kinh tế đã vận hành có hiệu quả thì vẫn còn
hai lý do nữa để Chính Phủ có thể can thiệp, đó là phân phối lại thu nhập và hàng
hoá khuyến dụng.
1.2. Vai trò của Chính phủ trong sự phát triển kinh tế
1.2.1. Vai trò của Chính phủ
Trong mô hình kinh tế, Chính phủ (G) cũng là một tác nhân kinh tế nh các
tác nhân ngời tiêu dùng (C), ngời sản xuất (I) và ngời nớc ngoài (X M) trong
việc tạo ra giá trị sản lợng: Y = C + I + G + (X M)
các tài sản để có thể phát huy đ ợc mọi khả năng về nguồn vốn, công nghệ và
nhân lực cho sự phát triển.
Phân bổ nguồn lực, tăng cờng và hoàn thiện các quan hệ thị trờng tạo thuận
lợi cho sự tăng trởng nhanh chóng.
Mục tiêu kinh tế trọng tâm của Chính phủ là hỗ trợ việc phân bổ nguồn lực
để nâng cao hiệu quả kinh tế, đạt mức nh xã hội mong muốn. Chính phủ đứng ra
cung cấp các loại hàng hoá công cộng, điều tiết các luồng đầu t vào các ngành, các
vùng theo quy hoạch chung, khắc phục thất bại của thị trờng liên quan đến tính phi
hiệu quả nh độc quyền, ngoại ứng hay thông tin không hoàn hảo. Bên cạnh đó phải
bổ sung những mặt yếu mà thị trờng không thể tạo ra đợc, nh các ngành sản xuất có
tính chất xơng sống của nền kinh tế, phân bố đúng đắn nguồn nhân lực giữa thành
thị và nông thôn, phát triển các cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội.
Mặt khác thị trờng _ nơi quan hệ cung cầu đợc thực hiện thông qua giá cả _
đã tạo động lực thúc đẩy sản xuất, phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực. Do
vậy phải quy định chính sách và luật để mở rộng hơn nữa quy mô thị trờng, tạo ra
sự giao lu thơng mại nhằm kích thích sự đổi mới công nghệ và tăng thêm đầu t, dẫn
tới sự tăng trởng nhanh.
Phân phối lại thu nhập.
Ngay cả khi bàn tay vô hình của thị trờng có hiệu quả thì nó vẫn có thể tạo
ra những sự phân phối thu nhập rất bất bình đẳng. Khi quốc gia còn ở mức phát
triển thấp, những nguồn lực sẵn có dành cho việc phân phối lại còn rất hạn chế. Nh-
ng khi đã phát triển cao hơn thì cùng với sự thịnh vợng chung, Chính phủ cũng có
khả năng dành nhiều nguồn lực hơn để cung cấp các dịch vụ cho ngời nghèo. Đây
đợc coi là chức năng kinh tế lớn thứ hai của Chính phủ. Phân phối lại thu nhập th-
ờng đợc thực hiện thông qua chính sách thuế khoá và chi tiêu.
ổn định kinh tế vĩ mô, tổ chức và phối hợp hoạt động trên phạm vi quốc gia,
lựa chọn và vạch ra kế hoạch, thúc đẩy có hiệu quả sự phát triển.
Ngày nay khi khoa học kinh tế đã phát triển mạnh, loài ngời đã có nhận thức
đầy đủ hơn về nguyên nhân gây ra lạm phát, thất nghiệp và các bất ổn định kinh tế
khác, cũng nh khả năng can thiệp của Chính phủ để khắc phục các hiện tợng đó. Vì
khoá có hai công cụ chủ yếu là chi tiêu của Chính phủ và thuế.
Chi tiêu của Chính phủ có ảnh hởng trực tiếp tới quy mô của chi tiêu, do đó
có thể trực tiếp tác động đến tổng cầu và sản lợng. Thuế làm giảm các khoản thu
nhập do đó làm giảm chi tiêu của khu vực t nhân, từ đó tác động đến tổng cầu và
sản lợng. Thuế cũng có thể tác động đến đầu t và sản lợng về mặt dài hạn.
Trong thời gian ngắn (1 đến 2 năm) chính sách tài khoá có tác động đến sản
lợng thực tế và lạm phát phù hợp với các mục tiêu ổn định kinh tế. Về mặt dài hạn
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 10
chính sách tài khoá có thể có tác dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giúp cho sự tăng
trởng và phát triển lâu dài.
1.3.2. Chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ nhằm chủ yếu tác động đến đầu t t nhân, hớng nền kinh tế
vào mức sản lợng và việc làm mong muốn. Vì chính sách tiền tệ chỉ có khả năng tác
động vào thị trờng tiền tệ, qua đó tác động đến tổng cầu và sản lợng nên việc kiểm
soát tiền tệ của Ngân hàng Trung ơng tập trung vào hai công cụ chủ yếu là lợng
cung về tiền và lãi suất. Khi Ngân hàng Trung ơng thay đổi lợng cung về tiền, lãi
suất sẽ tăng hoặc giảm, tác động đến đầu t t nhân, do vậy ảnh hởng đến tổng cầu và
sản lợng. Việc gia tăng cung tiền thực tế sẽ làm tăng sản lợng cân bằng và làm giảm
lãi suất cân bằng, và ngợc lại.
Chính sách tiền tệ có tác động quan trọng đến GNP thực tế về mặt ngắn hạn,
song do tác động đến đầu t nên nó cũng ảnh hởng lớn đến GNP tiềm năng về mặt
dài hạn.
Chính sách tiền tệ có thể đợc tiến hành độc lập với chính sách tài khoá. Khi
cần mở rộng sản xuất thì thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, khi chống lạm phát
cao hoặc kiềm chế nó thì thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ.
1.3.3. Chính sách thu nhập
Chính sách thu nhập gồm hàng loạt các biện pháp (công cụ) mà Chính phủ sử
dụng nhằm tác động trực tiếp đến tiền công, giá cả để kiềm chế lạm phát.
mục tiêu kinh tế vĩ mô.
Chính sách tiền tệ quốc gia là tổng thể các biện pháp của Nhà nớc pháp
quyền nhằm cung ứng đầy đủ các phơng tiện thanh toán cho nền kinh tế phát triển,
trên cơ sở đó ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ơng (NHTW) là tổng thể tất cả các
biện pháp, công cụ mà NHTW sử dụng nhằm điều tiết khối lợng tiền tệ, tín dụng,
ổn định tiền tệ, góp phần đạt đợc các mục tiêu của các chính sách kinh tế.
Dù quan niệm theo nghĩa nào, chính sách tiền tệ đều nhằm mục tiêu ổn định
giá trị tiền tệ, góp phần thực hiện các mục tiêu của các chính sách kinh tế. ở những
nớc mà NHTW trực thuộc Chính phủ thì sự phân biệt chính sách tiền tệ của NHTW
và chính sách tiền tệ quốc gia không có ý nghĩa gì. Trong trờng hợp này chính sách
tiền tệ mà NHTW thực hiện là chính sách tiền tệ quốc gia.
Trong một khoảng thời gian, chính sách tiền tệ (CSTT) có thể đợc hoạch định
theo hai hớng:
Chính sách tiền tệ mở rộng: Theo hớng này, CSTT nhằm tăng lợng tiền cung
ứng lãi suất giảm khuyến khích đầu t mở rộng sản xuất, kinh doanh và tạo
việc làm cho ngời lao động. Trong trờng hợp này chính sách tiền tệ nhằm chống suy
thoái kinh tế và thất nghiệp.
Chính sách tiền tệ thắt chặt: Theo hớng này CSTT nhằm giảm lợng tiền cung
ứng lãi suất tăng hạn chế đầu t, kìm hãm sự tăng trởng và phát triển quá đà
của nền kinh tế. Trờng hợp này chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát và khắc
phục tình trạng quá nóng của nền kinh tế.
2.1.2. Đặc tr ng của chính sách tiền tệ
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 12
Qua khái niệm về chính sách tiền tệ, có thể rút ra một số đặc trng cơ bản sau:
Chính sách tiền tệ là một bộ phận hữu cơ cấu thành chính sách tài chính
quốc gia.
Trong tổng thể các chính sách kinh tế tài chính của một quốc gia, mỗi
của mình, nhng các chính sách tiền tệ đều hớng vào những mục tiêu chủ yếu là
giống nhau. Tuỳ từng giai đoạn khác nhau và điều kiện thực tế của nền kinh tế để
lựa chọn mục tiêu trọng tâm. Các mục tiêu tổng quát của chính sách tiền tệ bao
gồm:
2.2.1. ổ n định giá trị đối nội của đồng tiền trên cơ sở kiểm soát lạm phát
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 13
Các nhà kinh tế đã cho rằng, lạm phát là căn bệnh kinh niên của nền sản suất
hàng hoá, đặc biệt là nền sản suất hàng hoá phát triển ở mức độ cao (nền kinh tế thị
trờng). Tuỳ theo quan niệm và góc độ nghiên cứu của mình, các nhà kinh tế học đã
đa ra những khái niệm riêng về lạm phát. Tuy nhiên nhìn chung có thể hiểu: Lạm
phát là sự gia tăng giá cả trung bình của hàng hoá theo thời gian.
Lạm phát tác động đến nền kinh tế xã hội theo cả hai hớng tích cực và
tiêu cực.
Khi lạm phát gia tăng, nó tác động đến mọi mặt của nền kinh tế xã hội,
làm sai lệch các chỉ tiêu kinh tế, làm phân phối lại thu nhập, kích thích tâm lý đầu
cơ tích trữ hàng hoá, bất động sản, vàng bạc gây tình trạng khan hiếm giả tạo,
giảm sức mua thực tế của dân chúng về hàng hoá tiêu dùng. Do đó đời sống của ng-
ời lao động sẽ khó khăn hơn rất nhiều , gây khó khăn hơn cho hoạt động của hệ
thống ngân hàng vì ngân hàng sẽ không thu hút đợc các nguồn tiền nhàn rỗi cho
hoạt động của mình.
Tuy nhiên bên cạnh những tác hại , trong chừng mực nào đó với một tỷ lệ
lạm phát vừa phải, lạm phát lại là yếu tố để kích thích kinh tế tăng trởng. Khi đó
lạm phát trở thành công cụ điều tiết. Các nhà kinh tế học còn gọi đó là liều thuốc bổ
cho tăng trởng kinh tế. Bởi lẽ lạm phát chính là việc đa một khối lợng tiền ra lu
thông. Trong nền kinh tế thị trờng, công việc đa tiền ra lu thông thờng thông qua
con đờng tín dụng. Khi bơm vốn vào nền kinh tế bằng con đờng tín dụng thì sẽ mở
mang các doanh nghiệp, tạo điều kiện đầu t chiều rộng và chiều sâu. Do đó sẽ thu
hút nhiều lao động, thất nghiệp giảm, kinh tế tăng trởng cao hơn trớc. Do vậy cần
tích cực và tiêu cực. Chính vì thế nhiệm vụ của NHTW là sử dụng những công cụ,
chính sách của mình để can thiệp, giữ cho tỷ giá hối đoái không biến động lớn,
tránh gây sự bất ổn định trong nền kinh tế, vừa nhằm khuyến khích xuất khẩu vừa
kiểm soát nhập khẩu.
2.2.3. Kích thích tăng tr ởng kinh tế
Với bất kỳ một chính sách tiền tệ nào, mục đích cao nhất là làm thế nào để
phát triển kinh tế, gia tăng sản lợng của nền kinh tế. Về đại thể, khi tỷ lệ tăng tổng
sản phẩm quốc nội lớn hơn nhịp độ tăng dân số thì sẽ có sự tăng trởng kinh tế. Việc
thay đổi khối lợng tiền tệ cung ứng sẽ tác động lớn đến nền kinh tế.
Tăng trởng kinh tế là mục tiêu vĩ mô của bất kỳ một quốc gia nào. Tuy nhiên
thực hiện mục tiêu này không có nghĩa là chỉ khuyến khích tăng trởng kinh tế, mà
còn thực hiện việc kìm hãm tốc độ tăng trởng của nền kinh tế nếu nền kinh tế phát
triển quá nóng (tốc độ tăng trởng kinh tế quá cao). Điều này có nghĩa là, mỗi quốc
gia phải xác định một tỷ lệ tăng trởng kinh tế dự kiến phù hợp với điều kiện nội tại
của nền kinh tế nớc đó. Trên cơ sở đó, căn cứ vào tốc độ tăng trởng kinh tế hiện tại
là thấp hay cao để sự điều tiết của chính sách tiền tệ sẽ hớng vào khuyến khích hay
kìm hãm tốc độ tăng trởng kinh tế.
Trờng hợp cần khuyến khích tăng trởng kinh tế, NHTW sẽ thực hiện chính
sách tiền tệ mở rộng nhằm tăng khối lợng tiền tệ, làm cho lãi suất giảm xuống, do
vậy sẽ kích thích đầu t, mở rộng sản xuất, tăng tổng sản phẩm quốc nội. Mặt khác,
tăng khối lợng tiền tệ sẽ làm tăng tổng cầu, sức mua hàng hoá trên thị trờng tăng
lên, hàng hoá tồn đọng của các doanh nghiệp tiêu thụ đợc, là tiền đề cho các doanh
nghiệp gia tăng sản xuất dẫn đến GDP tăng. Nếu mức gia tăng của GDP cao hơn
nhịp độ gia tăng dân số thì nền kinh tế sẽ thực sự có tăng trởng.
Trờng hợp cần kìm hãm tốc độ tăng trởng kinh tế, NHTW sẽ thực hiện chính
sách thắt chặt tiền tệ. Khi đó khối lợng tiền tệ trong lu thông giảm xuống thì lãi suất
có xu hớng tăng lên, đồng vốn đầu t đắt lên dẫn đến đầu t giảm, do đó tổng sản
phẩm quốc nội giảm xuống. Mặt khác khi giảm khối lợng tiền tệ sẽ làm giảm tổng
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Chính sách tiền tệ(CSTT) là một bộ phận quan trọng, cấu thành chính sách
kinh tế vĩ mô của Nhà nớc. Do vậy việc thực thi (CSTT) phải phục vụ đắc lực cho
quá trình phát triển nền kinh tế cả trớc mắt và tơng lai. Về thực chất, (CSTT) hớng
vào điều chỉnh mối quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ; giữa tiền và hàng
trên bốn lĩnh vực quan trọng nhất: kiểm soát lợng tiền cung ứng; kiểm soát hoạt
động tín dụng trong nền kinh tế; kiểm soát ngoại hối; kiểm soát việc tạm ứng cho
Ngân sách Nhà nớc. Cụ thể là:
2.3.1. Kiểm soát cung ứng tiền và điều hoà l u thông tiền tệ
Việc thực thi chính sách tiền tệ phải khống chế sao cho khối lợng tiền tệ
cung ứng trong một thời kỳ nhất định phải cân đối với mức tăng tổng sản phẩm
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 16
quốc dân danh nghĩa và vòng quay tiền tệ trong thời kỳ đó. Tuy nhiên khối lợng
tiền tệ tăng hay giảm đi chỉ là chỉ tiêu định lợng. Điều quan trọng là NHTW phải
theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, của giá cả và tỷ giá hối đoái từ đó điều
chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho khối lợng tiền tệ tăng hay giảm mà không
làm tăng giá cả hoặc thiếu phơng tiện thanh toán cho nền kinh tế.
2.3.2. Kiểm soát hoạt động tín dụng
Khi ngân hàng cấp phát tín dụng sẽ diễn ra quá trình tạo tiền gửi và phát sinh
bội số tín dụng. Để điều tiết tín dụng và khối lợng tiền tệ, NHTW sẽ sử dụng các
công cụ nh lãi suất tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trờng mở
Từ khối lợng tiền có thể cung ứng thêm cho nền kinh tế, NHTW sẽ giành chủ
yếu cho hoạt động tín dụng ngắn hạn phù hợp với mức tăng trởng kinh tế có dự tính
đến lạm phát. Hoạt động này chỉ khi nền kinh tế thực sự có nhu cầu. Khi các ngân
hàng thơng mại (NHTM) thiếu phơng tiện thanh toán thì họ mới đến NHTW xin
vay tái cấp vốn. NHTW luôn đóng vai trò là ngời cho vay cuối cùng đối với hệ
thống NHTM, nhằm kiểm soát chất lợng và số lợng tín dụng, các nguồn tiền gửi
của các NHTM và các tổ chức tín dụng.
2.3.3. Kiểm soát ngoại hối
2.4. Các công cụ của chính sách tiền tệ
Để thực hiện các chức năng của mình thông qua chính sách tiền tệ, Chính
phủ phải sử dụng rất nhiều công cụ với những tác động khác nhau vào nền kinh tế.
Dới đây chỉ xin giới thiệu khái quát về các công cụ đợc sử dụng, còn tập
trung chủ yếu phân tích công cụ lãi suất tín dụng.
2.4.1. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ tối thiểu lợng tiền phải dự trữ so với tổng số tiền
huy động mà NHTW yêu cầu các NHTM phải duy trì, nhằm điều chỉnh khả năng
thanh toán (cho vay) của các NHTM. Nếu khả năng thanh toán quá lớn (NHTM
đang d thừa tiền) thì việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm giảm quy mô tín dụng từ
đó giảm khối lợng tiền tệ. Ngợc lại, nếu khả năng thanh toán thấp thì giảm tỷ lệ dự
trữ bắt buộc nhằm tăng khả năng cho vay của các NHTM (bành trớng khối lợng tiền
tệ).
Cơ chế tác động:
Thông qua công cụ dự trữ bắt buộc NHTƯ tác động đến cả khối lợng và giá
cả tín dụng của các NHTM từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng và khả
năng tạo tiền của hệ thống NHTM.
Về số lợng, tăng hay giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc là thắt chặt hay nới lỏng khả
năng tạo tiền của các NHTM.
Về chi phí, tăng hoặc giảm dự trữ bắt buộc sẽ làm tăng hay giảm chi phí tín
dụng của các NHTM.
2.4.2. Nghiệp vụ thị tr ờng mở
Nghiệp vụ thị trờng mở là nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn do ngân
hàng Nhà nớc thực hiện trên thị trờng tiền tệ, điều hoà cung- cầu về giấy tờ có giá,
gây ảnh hởng đến khối dự trữ của các ngân hàng thơng mại, từ đó tác động đến khả
năng cung ứng tín dụng dẫn đến làm tăng hay giảm khối lợng tiền tệ.
Cơ chế tác động:
Bằng cách bán các giấy tờ có giá ngắn hạn, NHTW có thể thu hẹp tín dụng,
hút tiền vào làm giảm bớt khối lợng tiền tệ, qua đó giảm khả năng cho vay của các
tổ chức tín dụng, ngăn chặn lạm phát.
sách Nhà nớc và các NHTM vay theo kế hoạch. Đây là một trong những công cụ
can thiệp trực tiếp của NHTW, là mức d nợ tối đa mà NHTW buộc các NHTM phải
tuân theo khi cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Cơ chế tác động:
Qua sử dụng hạn mức tín dụng, NHTW nhằm điều chỉnh khả năng tạo tiền
của các NHTM phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế. Tránh tình trạng
tổng khối lợng tiền tăng quá mức trong lu thông, NHTW quy định hạn mức tín
dụng tối đa cho từng NHTM, theo dõi hoạt động cho vay của các NHTM, nếu
NHTM cho vay quá hạn mức tín dụng sẽ bị xử phạt.
2.4.5. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tơng quan sức mua đồng nội tệ và đồng ngoại tệ, vừa phản
ánh sức mua của nội tệ, vằ là biểu hiện của quan hệ cung-cầu ngoại tệ. Đến lợt
mình, tỷ giá hối đoái lại là công cụ, đòn bẩy điều tiết cung-cầu ngoại tệ, tác
động mạnh mẽ đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nớc.
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 19
Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén và mạnh mẽ đến sản xuất,
xuất nhập khẩu hàng hoá, tình trạng tài chính tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế,
thu hút vốn đầu t, dự trữ của đất nớc.
2.4.6. Vai trò của chính sách tiền tệ thông qua công cụ lãi suất tín dụng
Trong việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ của NHTW, lãi suất
tín dụng là một biến số vĩ mô đầy nhạy cảm và luôn biến động. Với t cách là giá
vốn, lãi suất chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố vĩ mô và có tác động trở lại đối với
các hoạt động kinh tế trong nớc. ở những nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị tr-
ờng, lãi suất là công cụ điều chỉnh kinh tế. Một mặt nó đợc thị trờng chấp nhận với
t cách là yếu tố để hình thành nên giá cả của tiền vay, mặt khác Nhà nớc sử dụng nó
để điều tiết nền kinh tế thông qua chính sách tiền tệ.
Vai trò của lãi suất tín dụng trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô.
Xét trên tầm vĩ mô, lãi suất tín dụng là công cụ quản lý kinh tế của Nhà nớc,
Cơ chế tác động của lãi suất tín dụng đối với hoạt động kinh tế vĩ mô.
Cơ chế tác động qua lãi suất tín dụng là cơ chế truyền tải ảnh hởng của chính
sách tiền tệ tới nền kinh tế thông qua phản ứng dây chuyền giữa các mức lãi suất và
các loại giá cả trên thị trờng tài chính. Đây là cơ chế kiểm soát sự biến động lãi suất
mà theo đó, chính sách tiền tệ có thể tác động tới các bộ phận cấu thành tổng cầu
thông qua những ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp của lãi suất tới hành vi chi tiêu
của các chủ thể kinh tế.(Đợc biểu diễn qua sơ đồ trang sau)
Việc điều hành lãi suất của NHTW chủ yếu đợc thực hiện thông qua hai cơ
chế:
Cơ chế điều hành gián tiếp.
Thông qua cơ chế tái cấp vốn của NHTW đối với các tổ chức tín dụng,
NHTW thực hiện quản lý gián tiếp lãi suất cho vay của các NHTM đối với nền kinh
tế. Cơ chế này đợc thực hiện theo nguyên tắc: NHTW chỉ công bố mức lãi suất áp
dụng đối với các khoản cho vay tái chiết khấu hoặc cho vay cầm cố chứng từ có giá
của mình đối với các tổ chức tín dụng. Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể
theo từng kỳ hạn, từng đối tợng của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế sẽ do tổ
chức tín dụng ấn định, dựa trên cơ sở cung cầu về vốn và sự cạnh tranh trên thị
trờng.
Khi muốn điều chỉnh lãi suất kinh doanh của tổ chức tín dụng đối với nền
kinh tế, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ từng giai đoạn, NHTW sẽ điều
chỉnh lãi suất tái chiết khấu của mình. Từ đó tác động đến lãi suất thị trờng tiền tệ
liên ngân hàng, cuối cùng tác động đến lãi suất kinh doanh của tổ chức tín dụng.
Cơ chế điều hành lãi suất này đợc áp dụng phổ biến đối với các nền kinh tế
có hệ thống tài chính phát triển. Cơ chế này cũng trở nên linh hoạt hơn, khi bên
cạnh các loại lãi suất trên, NHTW chấp nhận lãi suất do thị trờng hình thành và tác
động vào lãi suất này để duy trì ở mức mong muốn.
Cơ chế điều hành trực tiếp.
Thông qua các hình thức quản lý lãi suất của các tổ chức tín dụng đối với
nền kinh tế, nh quy định các mức lãi suất cụ thể về tiền gửi, cho vay, khung lãi
suất, trần lãi suất cho vay, biên độ chênh lệch lãi suất bình quân Thực chất là
Để phù hợp với quá trình đổi mới nền kinh tế đất nớc, đòi hỏi phải đổi mới
việc xây dựng chính sách tiền tệ, mà trớc hết là phải xác định và lựa chọn mục tiêu
điều hành phù hợp với đờng lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng và nhà nớc. Mục
tiêu của chính sách tiền tệ đã hớng vào kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trởng
kinh tế.
1.1.Giai đoạn 1986 1988
Đây là giai đoạn đặc trng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tổng cầu
luôn vợt tổng cung, đồng thời do thiếu hụt ngân sách, Nhà nớc đã bành trớng phát
hành tiền. Vì vậy nền kinh tế luôn ở trạng thái bất ổn định, lạm phát đạt kỷ lục ba
con số tức siêu lạm phát, nền kinh tế tăng trởng chậm. Tại thời điểm gay cấn đó,
hai thay đổi lớn trong chính sách tiền tệ: đa tỷ giá hối đoái lên ngang mức giá thị tr-
ờng và thi hành chế độ lãi suất thực dơng đã tạo thành xung lực mạnh nhất để đẩy
lùi lạm phát và khủng hoảng.
1.2.Giai đoạn 1989 1991
Các chính sách kinh tế mới đã có ý nghĩa quyết định cắt đợc cơn sốt lạm phát
cao, nhng vẫn ở mức trên 66% năm 1990 1991, vì nguồn lực cho nền kinh tế
đang ở trong quá trình chuyển đổi thích nghi theo kinh tế thị trờng. NHTW công bố
các mức lãi suất cụ thể để các tổ chức tín dụng làm cơ sở ấn định các mức lãi suất
kinh doanh, thực hiện cơ chế lãi suất âm. Thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, sau
đó nới lỏng dần nhằm kiềm chế lạm phát và góp phần tăng trởng kinh tế, thực hiện
cho vay tái cấp vốn đối với các NHTM.
1.3.Giai đoạn 1992 1995
Sự ổn định kinh tế đã đi vào chế độ dừng do Nhà nớc đã nhận thức đợc rõ nét
tác động của cung ứng tiền tệ lên lạm phát. Vì vậy việc cung ứng tiền cho bội chi
ngân sách đã chấm dứt, thay thế bằng việc vay dân, vay nớc ngoài. Các biện pháp
và hình thức vay dần dần đợc cải thiện nhằm huy động cao nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân c. Bên cạnh việc phát hành tín phiếu kho bạc Nhà nớc, việc vay nợ nớc
ngoài cũng đợc khai thác triệt để. Kết quả là từ năm 1992 1994 Nhà nớc không
còn phát hành tiền để bù đắp bội chi cho ngân sách Nhà nớc.
Trong giai đoạn này có nhiều yếu tố quyết định chiều hớng thuận lợi cho
không giao động quá mạnh, cán cân thanh toán quốc tế cân bằng và không có sự
giao động lớn của các biến số trên qua các năm. ở giai đoạn này cố gắng giữ lạm
phát ở mức 10%/năm.
Gia tăng tốc độ phát triển là mục tiêu chính trong giai đoạn naỳ. Nếu giai
đoạn 1992 1995 là bớc ổn định nghĩa là kiềm chế lạm phát và chúng ta đã thành
công, thì giai đoạn này sẽ là giai đoạn phát triển. Để đạt mục tiêu tăng trởng, Việt
Nam cần một lợng vốn khổng lồ. Với chính sách mở cửa nguồn vốn từ bên ngoài
vào sẽ tăng lên. Tuy nhiên để đạt đợc số vốn đó chính sách tiền tệ cần nỗ lực tối đa
cho huy động cả nguồn vốn trong và ngoài nớc. Quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta
đối với vấn đề này là dựa chủ yếu vào nguồn trong nớc, đồng thời tận dụng mọi khả
năng huy động nguồn vốn từ bên ngoài yếu tố đợc coi là đóng vai trò rất quan
trọng, đặc biệt trong thời kỳ đầu khi nguồn bảo đảm trong nớc còn thấp.
1.4.2. Các quan điểm xây dựng chính sách tiền tệ
Để xây dựng một chính sách tiền tệ phù hợp với tình hình của đất nớc phải
dựa trên các quan điểm sau:
Đề án môn học kinh tế phát triển Đặng Minh Ngọc - Lớp KTPT 43 B
Đề tài
Vai trò của chính sách tiền tệ trong điều tiết hoạt động kinh tế vĩ mô - 24
Một là, chính sách tiền tệ phải đợc xây dựng trên cơ sở tính độc lập tơng đối
của NHTW.
Hai là, phải cân đối giữa ổn định kinh tế vĩ mô và đầu t phát triển kinh tế.
Một chính sách tiền tệ đúng đắn sẽ tạo ra môi trờng tài chính lành mạnh, kích thích
tối đa sự vận động của các nguồn lực khác của đất nớc, kích thích đầu t phát triển
kinh té.
Ba là, xây dựng một chính sách tiền tệ gây lòng tin dân chúng và hệ thống
ngân hàng thơng mại đối với điều hành của NHTW. Khi đó sẽ thu hút một khối l-
ợng lớn tiết kiệm để tái đầu t, phát triển.
Bốn là, xây dựng chính sách tiền tệ (CSTT) trên cơ sở hội nhập với thị trờng
tài chính quốc tế. Với xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế, thị trờng tài chính trong n-
ớc cũng phải mở cửa cho thị trờng tài chính quốc tế, nhờ đó mà thu hút đợc nguồn
Hai là, lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân,
chấm dứt sự bao cấp về vốn qua kênh tín dụng ngân hàng.
Ba là, đối với lãi suất ngoại tệ NHTW quy định laĩ suất cho vay tối đa. Lãi
suất huy động bằng ngoaị tệ do các NHTM quyết định trên cơ sở lãi suất thị trờng
tiền tệ quốc tế và cung cầu vốn ngoại tệ trong nớc.
Từ tháng 6/1992 đến cuối năm 1993, NHTW đã năm lần điều chỉnh giảm lãi
suất cho phù hợp vơí chỉ số lạm phát và hiêụ quả sản suất kinh doanh cuả nền kinh
tế. Lãi suất cho vay tối đa bằng ngoại tệ đợc điều chỉnh tăng từ 6,5%/ năm lên
7,5%/năm, phù hợp với lãi suất trên thị trờng quốc tế.Kết quả là vốn huy động hàng
năm tăng hơn 20%, tín dụng đối với nền kinh tế tăng gần 50%.
Trong hai năm 1994 1995, cơ chế lãi suất tiếp tục đợc điều chỉnh theo h-
ớng thích ứng với cơ chế thị trờng, phù hợp với quan hệ cung cầu vốn, đồng thời
hạn chế sự can thiệp trực tiếp của NHTW vào hoạt động kinh doanh của các tổ chức
tín dụng. NHTW chỉ khống chế mức lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng
đối với nền kinh tế, các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể do tổ chức tín dụng
ấn định. Tăng lãi suất cho vay trung và dài hạn lên 1,7%/ tháng. Lãi suất ngoại tệ đ-
ợc điều chỉnh ba lần từ 7,5%/năm lên 9,5%/năm phù hợp với sự biến động của lãi
suất thị trờng quốc tế.
Bảng 1: Diễn biến lãi suất cho vay và tiền gửi bình quân các năm
đơn vị: % / tháng
Lãi suất/ thời điểm 1986-
1990
1991 1992 1993 1994 1995
Cho vay bình quân tháng 4,3 2,5 2,5 1,8 1,6 1,7
Tiền gửi bình quân tháng 6,0 2,9 1,9 1,4 1,3 1,4
Chênh lệch -1,7 - 0,4 0,6 0,4 0,3 0,3
Nh vậy, điểm nổi bật của cơ chế điều hành lãi suất tín dụng thời kỳ 1992
1995 so với thời kỳ trớc 1992 có thể đợc nhìn nhận dới các mặt sau:
- Cơ chế lãi suất thực dơng, lãi suất cho vay bình quân lớn hơn lãi suất tiền
gửi, lãi suất tiền gửi lớn hơn tỷ lệ lạm phát. NHTW chỉ quy định khung lãi suất tạo