Chơng I
Vốn cố định và sự cần thiết phải nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn cố định của các doanh nghiệp
trong điều kiện kinh tế thị trờng.
I - Vốn cố định trong các doanh nghiệp
I.1/ Khái niệm, đặc điểm của tài sản cố định trong doanh nghiệp
Những năm gần đây nền kinh tế nớc ta chuyển từ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng. Trong điều kiện đó các mối quan hệ
hàng hoá, tiền tệ ngày càng đợc mở rộng và phát triển, xuất hiện các doanh
nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng song song tồn tại,
cạnh tranh lẫn nhau và bình đẳng trớc pháp luật. Trong nền kinh tế quốc dân
thì mỗi doanh nghiệp là một tế bào kinh tế. Doanh nghiệp là một tổ chức đợc
thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Doanh nghiệp có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình đầu t từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, lao vụ dịch vụ trên thị
trờng nhằm mục đích sinh lợi.
Để tiến hành sản xuất sản phẩm, mọi doanh nghiệp đều cần phải có hai
yếu tố cơ bản, đó là sức lao động và t liệu sản xuất. Căn cứ vào tính chất và
tác dụng khi tham gia vào quá trình sản xuất, t liệu sản xuất lại chia ra làm
hai bộ phận là đối tợng lao động và t liệu lao động.
Tài sản cố định (TSCĐ) là những t liệu lao động chủ. Căn cứ vào tính
chất và tác dụng khi tham gia vào quá trình sản xuất, t liệu sản xuất lại chia
ra làm hai bộ phận là đối tợng lao động và t liệu lao động.
Tài sản cố định (TSCĐ) là những t liệu lao động chủ yếu đợc tham gia
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nh máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải, các công trình kiến
trúc... Đặc điểm chung của các TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào
1
nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là các công cụ lao động. Trong
quá trình đó hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là
không thay đổi, song giá trị của nó lại đợc chuyển dịch dần từng phần vào giá
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá, những TSCĐ đó không chỉ đợc
biểu hiện dới hình thái vật chất mà còn dới hình thái giá trị. Để đầu t mua
sắm TSCĐ, doanh nghiệp cần phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định. Vì vậy,
số vốn tiền tệ ứng trớc xây dựng, mua sắm TSCĐ đợc gọi là vốn cố định của
doanh nghiệp.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, TSCĐ có nhiều loại khác nhau, mỗi
loại lại có những đặc điểm về tính chất kỹ thuật công dụng khác nhau, đợc sử
dụng trong những lĩnh vực hoạt động khác nhau của quá trình sản xuất kinh
doanh. Do vậy cần phân loại TSCĐ để có những biện pháp quản lý, sử dụng
có hiệu quả hơn.
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ TSCĐ hiện có của doanh
nghiệp theo những tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp. Thông thờng có những cách phân loại TSCĐ chủ yếu
sau:
a. Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện
Theo phơng pháp này TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành hai loại:
TSCĐ có hình thái vật chất (TSCĐ hữu hình) và TSCĐ không có hình thái vật
chất (TSCĐ vô hình)
* TSCĐ hữu hình là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể nh nhà
xởng, máy móc thiết bị, phơng tiện vận tải, các vật kiến trúc... Những TSCĐ
này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm
nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức
năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh.
* TSCĐ vô hình là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể, thể
hiện một lợng giá trị đã đợc đầu t có liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp nh chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua
bằng phát minh sáng chế hay nhãn hiệu thơng mại...
3
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy đợc cơ cấu đầu t vào
TSCĐ hữu hình và vô hình. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng các quyết
nh phơng tiện đờng sắt, đờng thuỷ, đờng bộ, đờng không, đờng ống và các
thiết bị truyền dẫn nh hệ thống điện, hệ thống thông tin, đờng ống dẫn nớc...
* Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công
tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nh máy vi tính,
thiết bị điện tử, dụng cụ đo lờng, máy hút bụi...
* Các loại TSCĐ khác: là toàn bộ các loại TSCĐ khác cha liệt kê vào 5
loại trên nh tác phẩm nghệ thuật tranh ảnh...
Cách phân loại này cho thấy công dụng cụ thể của từng loại TSCĐ
trong doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng TSCĐ,
tính toán khấu hao TSCĐ chính xác.
d. Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng.
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, ngời ta chia TSCĐ của doanh
nghiệp thành các loại:
* TSCĐ đang sử dụng: là những TSCĐ của doanh nghiệp đang sử dụng
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động phúc lợi, sự
nghiệp, an ninh, quốc phòng của doanh nghiệp.
* TSCĐ cha cần dùng: là những TSCĐ cần thiết cho hoạt động sản
xuất kinh doanh hay các hoạt động khác của doanh nghiệp sang hiện tại cha
cần dùng, đang đợc dự trữ để sử dụng sau này.
* TSCĐ không cần dùng cho thanh lý: là những TSCĐ không cần thiết
hoặc không phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cần
đợc thanh lý, nhợng bán để thu hồi vốn đầu t đã bỏ ra ban đầu.
Cách phân loại này cho thấy mức độ sử dụng có hiệu quả của TSCĐ
của doanh nghiệp nh thế nào, đồng thời tạo điều kiện cho việc phân tích,
kiểm tra, đánh giá tiềm lực sản xuất cần đợc khai thác, từ đó có biện pháp
nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng TSCĐ.
e. Phân loại TSCĐ theo quan hệ sở hữu.
5
Theo phơng pháp này, TSCĐ của doanh nghiệp đợc chia thành hai
loại: TSCĐ chủ sở hữu (tự có) và TSCĐ thuê ngoài.
của vốn cố định (VCĐ) nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của TSCĐ, ảnh h-
ởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngợc lại những đặc điểm kinh tế của
TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có ảnh hởng quyết định chi phối đặc điểm
tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ. Trên ý nghĩa của mối liên hệ đó, có thể
khái quát những nét đặc thù về sự vận động của VCĐ trong quá trình sản
xuất kinh doanh nh sau:
- VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm có đặc điểm này
là do TSCĐ đợc sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất. Vì thế mà VCĐ
- hình thái biểu hiện bằng tiền của nó cũng tham gia vào các chu kỳ sản xuất
tơng ứng.
- VCĐ đợc luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ đợc luân
chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dới hình thức chi phí khấu
hao) tơng ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ.
- VCĐ sau nhiều chu kỳ sản xuất mới hoàn thành một vòng luân
chuyển.
Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn đợc luân chuyển vào giá trị sản
phẩm dần dần tăng lên. Song phần vốn đầu t ban đầu vào TSCĐ lại giảm dần
xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó đợc chuyển
dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì VCĐ mới hoàn thành một vòng
luân chuyển.
Những đặc điểm luân chuyển trên đây của VCĐ đòi hỏi việc quản lý
VCĐ phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là các
TSCĐ của doanh nghiệp.
Từ những nội dung phân tích trên có thể đa ra khái niệm về VCĐ nh
sau:
7
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu t, ứng trớc
vê TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều
chấp hành các quy phạm pháp luật trong sử dụng và bảo dỡng TSCĐ. Tiếp
đến là các nhân tố về tự nhiên và môi trờng sử dụng TSCĐ nh nhiệt độ, độ
ẩm, tác động của các hoá chất... Ngoài ra mức độ hao mòn hữu hình còn phụ
thuộc vào chất lợng chế tạo TSCĐ, ví dụ nh chất lợng nguyên vật liệu đợc sử
dụng, công nghệ chế tạo...
Việc nhận thức rõ các nguyên nhân ảnh hởng đến mức hao mòn hữu
hình TSCĐ sẽ giúp các doanh nghiệp có biện pháp cần thiết, hữu hiệu để hạn
chế nó.
b. Hao mòn vô hình.
Hao mòn vô hình của TSCĐ là sự giảm thuần tuý về mặt giá trị của tài
sản do có những TSCĐ cùng loại nhng đợc sản xuất ra với giá rẻ hơn hoặc
hiện đại hơn.
Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hao mòn vô hình của TSCĐ, không
phải do chúng đợc sử dụng nhiều hay ít trong sản xuất mà là do tiến bộ khoa
học kỹ thuật. Trong điều kiện tăng trởng mạnh mẽ về khoa học công nghệ
hiện nay, ngời ta có thể sản xuất ra đợc những loại máy móc có tính năng tác
dụng nh máy cũ nhng với giá hạ hơn hoặc sản xuất ra những loại máy có
cùng giá trị nhng công suất lớn hơn chất lợng tốt hơn. Do vậy, những máy
móc đợc sản xuất ở thời gian trớc đây sẽ bị mất giá so với hiện tại, sự mất
giá đó chính là hao mòn vô hình. Hao mòn vô hình còn xuất hiện cả khi chu
kỳ sống của sản phẩm nào đó bị chấm dứt làm cho những máy móc để chế
tạo ra sản phẩm đó cũng bị lạc hậu, mất tác dụng.
Để khắc phục hao mòn vô hình, các doanh nghiệp phải coi trọng đổi
mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ
khoa học. Điều đó có ý nghĩa rất quyết định trong việc tạo ra lợi thế cho
doanh nghiệp trong cạnh tranh trên thị trờng.
I.3.2. Khấu hao TSCĐ và các phơng pháp tính khấu hao TSCĐ
a. Khấu hao TSCĐ.
9
Để bù đắp giá trị TSCĐ bị hao mòn trong quá trình sản xuất kinh
khấu hao hàng năm đợc xác định theo mức không đổi trong suốt thời gian sử
dụng TSCĐ. Mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm đợc xác định theo
công thức:
M
KH
=
T
KH
=
Trong đó:
M
KH
: Mức khấu hao trung bình hàng năm.
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao trung bình hàng năm.
G
đ
: Nguyên giá TSCĐ.
T: Thời gian sử dụng của TSCĐ (năm)
Nếu doanh nghiệp trích khấu hao hàng tháng thì lấy mức khấu hao
hàng năm chia cho 12 tháng.
Ưu điểm của phơng pháp khấu hao bình quân là tính toán đơn giản, dễ
hiểu. Mức khấu hao tính vào giá thành đều đặn làm cho giá thành ổn định.
Tuy nhiên, phơng pháp này có nhợc điểm là không phản ánh chính xác mức
độ hao mòn thực tế của TSCĐ vào giá thành sản phẩm trong các thời kỳ sử
dụng khác nhau; khả năng thu hồi vốn chậm làm TSCĐ chịu ảnh hởng bất lợi
của hao mòn vô hình.
* Ph ơng pháp khấu hao giảm dần.
Phơng pháp khấu hao này gồm hai phơng pháp: Khấu hao theo số d
=
Trong đó:
T
KH
: Tỷ lệ khấu hao theo năm sử dụng
T: Thời gian dự kiến sử dụng TSCĐ
t: Thứ tự năm cần tính tỷ lệ khấu hao.
Phơng pháp khấu hao giảm dần có u điểm là phản ánh chính xác hơn
mức hao mòn TSCĐ vào giá trị sản phẩm, thu hồi vốn nhanh nên hạn chế đợc
ảnh hởng của hao mòn vô hình. Tuy nhiên nhợc điểm của phơng pháp này là
việc tính toán mức khấu hao và tỷ lệ khấu hao hàng năm sẽ phức tạp, số tiền
trích khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng cũng cha đủ bù đắp toàn bộ giá trị
đầu t ban đầu vào TSCĐ.
Trên thực tế ngời ta có thể sử dụng kết hợp phơng pháp khấu hao bình
quân với phơng pháp khấu hao giảm dần bằng cách: trong những năm đầu sử
dụng TSCĐ thì áp dụng phơng pháp khấu hao giảm dần, còn những năm cuối
thì thực hiện phơng pháp khấu hao bình quân. Bằng cách này có thể hạn chế
đợc hao mòn vô hình và số khấu hao luỹ kế đến năm cuối cùng sẽ bù đắp đợc
giá trị ban đầu của TSCĐ.
Việc nghiên cứu các phơng pháp khấu hao TSCĐ là một căn cứ quan
trọng giúp cho các doanh nghiệp lựa chọn phơng pháp khấu hao phù hợp với
chiến lợc kinh doanh của doanh nghiệp mình, đảm bảo cho việc thu hồi, bảo
12
toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ. Đồng thời cũng là căn cứ cho việc
lập kế hoạch khấu hao TSCĐ của các doanh nghiệp.
II - Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
cố định trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp.
II.1. Hiệu quả sử dụng vốn cố định (VCĐ).
Trong các doanh nghiệp, VCĐ là một bộ phận quan trọng của vốn đầu
nghiệp, ngời ta thờng dùng một hệ thống các chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu
tổng hợp và các chỉ tiêu phân tích.
Các chỉ tiêu tổng hợp nhằm phản ánh về mặt chất của việc sử dụng
VCĐ doanh nghiệp. Thông qua các chỉ tiêu này, ngời quản lý có thể so sánh
kết quả quản lý giữa kỳ này với kỳ trớc, giữa doanh nghiệp mình với các
doanh nghiệp khác có quy mô tơng tự để rút ra những trọng điểm cần quản
lý. Thuộc loại này bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố
định có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ.
Số vốn cố định bình quân trong kỳ đợc tính theo phơng pháp bình quân
số học giữa số vốn cố định ở đầu kỳ và cuối kỳ.
Trong đó:
Số vốn cố định đầu kỳ =
Số vốn cố định cuối kỳ =
- Hàm lợng vốn cố định: Chỉ tiêu này là đại lợng nghịch đảo của chỉ
tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định. Nó phản ánh để tạo ra một đồng doanh
thu hoặc doanh thu thuần cần bao nhiều đồng vốn cố định.
14
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định (tỷ suất lợi nhuận vốn cố định): Chỉ
tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định trong kỳ có thể tạo ra bao nhiều
đồng lợi nhuận trớc thuế (hoặc sau thuế). Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để
đánh giá chất lợng và hiệu quả đầu t cũng nh chất lợng sử dụng vốn cố định
của doanh nghiệp.
Bên cạnh những chỉ tiêu tổng hợp nêu trên, ngời ta còn sử dụng một số
chỉ tiêu phân tích để phản ánh từng mặt của việc sử dụng vốn cố định trong
kỳ. Thuộc các chỉ tiêu phân tích bao gồm các chỉ tiêu sau:
- Hệ số hao mòn TSCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn của
TSCĐ trong doanh nghiệp so với thời điểm đầu t ban đầu.
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ
trong kỳ tạo ra đợc bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần.
doanh nghiệp.
II.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp sản xuất là vấn đề cần thiết cấp bách, có ảnh h-
ởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, điều đó xuất phát từ
các lý do chủ yếu sau:
- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp với bất kỳ một
doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh đều hớng tới mục tiêu
lợi nhuận. Từ góc độ của doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của
doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh
nghiệp bỏ ra để đạt đợc thu nhập từ các hoạt động sản xuất kinh doanh mang
lại.
16
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ
hoạt động sản xuất kinh doanh và là nguồn tích luỹ cơ bản để tái sản xuất mở
rộng. Đặc biệt trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trờng,
doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đợc hay không thì điều quyết định là
doanh nghiệp tạo ra đợc lợi nhuận hay không. Vì thế lợi nhuận đợc coi là một
trong những đòn bẩy quan trọng, đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt
động của doanh nghiệp. Việc thực hiện đợc chỉ tiêu lợi nhuận là một điều
quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp đợc vững chắc.
Chính vì vậy, sản xuất kinh doanh nh thế nào để có lợi nhuận là mục tiêu
phấn đấu của tất cả các doanh nghiệp.
Để đạt đợc điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cờng công tác
tổ chức và quản lý sản xuất, trong đó có vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng
VCĐ, có nh vậy mới đem lại đợc lợi nhuận cao, góp phần thúc đẩy doanh
nghiệp ngày càng phát triển.
- Xuất phát từ vị trí, vai trò của VCĐ trong quá trình sản xuất kinh
điểm đầu tiên quyết định sự tồn tại, phát triển của một tổ chức kinh tế trong
điều kiện nền kinh tế mới.
Đối với nớc ta hiện nay, đang trong chặng đờng đầu của công cuộc
công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo con đờng chủ nghĩa xã hội, cơ sở vật
chất kỹ thuật đợc xây dựng và phát triển với tốc độ cao, TSCĐ đợc huy động
vào sản xuất ngày càng nhiều. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ
đợc coi là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản lý sản xuất
nói chung và kế hoạch sử dụng VCĐ nói riêng. Điều đó xuất phát từ ý nghĩa
của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ.
Để thực hiện nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ, doanh nghiệp cần phải
khai thác triệt để khả năng tiềm tàng của TSCĐ, phát huy hết công suất của
nó, tận dụng tối đa giờ máy, tăng cờng độ làm việc, lựa chọn đầu t hợp lý...
Nh vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ có tác dụng thúc đẩy năng suất lao
động tăng lên, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất. Từ đó làm tăng số lợng
18
sản phẩm sản xuất ra trên một đơn vị TSCĐ, giảm lao động vật hoá tiêu hao
trong một đơn vị sản phẩm và tiết kiệm lao động sống trong quá trình sản
xuất kinh doanh, làm cho giá thành hạ, chất lợng sản phẩm đợc đảm bảo,
công tác tiêu thụ đợc đẩy mạnh... làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ còn có ý nghĩa thúc đẩy vòng chu
chuyển của VCĐ tăng nhanh, tạo điều kiện rút ngắn thời gian hao mòn vô
hình và hữu hình, từ đó thúc đẩy nhanh nhịp độ đổi mới TSCĐ theo kịp với
tốc độ phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nâng cao hiệu quả sử dụng
VCĐ còn đồng nghĩa với việc mở rộng sản xuất mà không cần bỏ thêm vốn
đầu t xây dựng cơ bản để xây dựng mới TSCĐ. Do đó tiết kiệm đợc vốn mà
vẫn tăng doanh lợi cho doanh nghiệp, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp thực sự mang lại hiệu quả kinh tế cao và ngày một phát
triển.
Qua đây chúng ta thấy đợc việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ có ý
nghĩa vô cùng to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất nói
doanh góp vốn bằng TSCĐ và góp bằng vốn đầu t xây dựng cơ bản đã hoàn
thành.
- Nguồn vốn vay: gồm các khoản vay Ngân hàng, vay các tổ chức kinh
tế khác để đầu t vào TSCĐ, hoặc các khoản huy động đợc từ phát hành cổ
phiếu, trái phiếu...
Thực tế trong điều kiện sản xuất cha phát triển, hiệu quả kinh tế đạt đ-
ợc nhìn chung còn thấp, trình độ quản lý còn non kém, quá trình sản xuất
kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn thì việc bổ sung VCĐ bằng các quỹ của
doanh nghiệp còn rất hạn chế. Mặt khác, các doanh nghiệp làm ăn còn kém
hiệu quả nên việc liên doanh liên kết và huy động vốn liên doanh của các đơn
vị khác sẽ rất khó khăn. Bởi vì khi đem đồng vốn đi góp vốn liên doanh các
nhà kinh tế phải phân tích hiệu quả kinh tế của đồng vốn đem đi góp, phân
tích tình hình sản xuất của doanh nghiệp định liên doanh làm ăn có hiệu quả
hay không ? Chính vì vậy mà nguồn VCĐ huy động từ liên doanh hay các
nguồn khai thác từ bên ngoài cũng chỉ đạt đợc ở một mức độ nhất định. Vì
20
vậy nguồn VCĐ của doanh nghiệp chủ yếu là do nguồn vốn Ngân sách cấp.
Theo quy định hiện hành thì doanh nghiệp Nhà nớc đợc cấp không VCĐ.
VCĐ có vòng luân chuyển chậm (đối với máy móc thiết bị trung bình từ 15
đến 20 năm) do đó làm cho doanh nghiệp không thấy căng thẳng về tài chính
dẫn đến tình trạng ít quan tâm đến việc tính toán hiệu quả đầu t VCĐ đa đến
tình trạng TSCĐ đợc trang bị một cách chắp vá, không đồng bộ theo một cơ
cấu bất hợp lý. Việc lắp đặt, sử dụng, bảo dỡng và sửa chữa kém nên TSCĐ
không phát huy hết năng lực nên hiệu quả sử dụng TSCĐ thấp, làm thất thoát
VCĐ.
Việc quản lý TSCĐ còn nhiều thiếu sót, việc phân loại TSCĐ, tính
toán từng loại TSCĐ trong tổng số cha hợp lý. Có những doanh nghiệp mà
loại TSCĐ cha dùng và không dùng chờ thanh lý vẫn còn có tiềm lực tận
dụng phục vụ sản xuất nhng cha đợc sử dụng hợp lý. Không ít doanh nghiệp
chỉ quan tâm đầu t TSCĐ có tính chất phục vụ sản xuất, phục vụ quản lý và
tồn tại tình trạng thiếu trách nhiệm, thiếu sự quan tâm đúng mức trớc hiệu
quả đầu t và sử dụng máy móc thiết bị, làm hạn chế rất lớn đến việc bảo toàn
vốn trong các doanh nghiệp Nhà nớc.
+ ý thức lao động của con ngời còn ở mức độ thấp cha có tính tự giác.
Bên cạnh đó việc quản lý lại còn nhiều thiếu sót cha có chế độ thởng phạt
nghiêm minh trong trách nhiệm bảo quản TSCĐ của cán bộ công nhân viên.
Các cơ quản chủ quản cấp trên còn chậm trễ trong việc xây dựng, đổi mới cơ
chế tài chính về quản lý vốn đầu t vào TSCĐ, thiếu các chế độ quy định về
nguyên tắc và phơng pháp đánh giá TSCĐ. Chính vì vậy mà hiệu quả sử dụng
VCĐ trong các doanh nghiệp còn rất thấp.
Từ việc sử dụng kém hiệu quả VCĐ nêu trên đã dẫn đến tình trạng sản
phẩm làm ra bị hạn chế về chủng loại, mẫu mã không hợp lý ít đợc cải thiện
để phù hợp với thị hiếu của ngời tiêu dùng, chất lợng sản phẩm thấp không
đủ điều kiện để cạnh tranh ngay cả ở thị trờng trong nớc. Chất lợng sản phẩm
so với tiêu chuẩn xuất khẩu chỉ đạt bình quân là 15%. Do đó nếu không có sự
thay đổi lớn thì triển vọng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Nhà
nớc rất khó khăn, dẫn đến nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh làm ăn thua lỗ có
nguy cơ bị phá sản.
22
Qua những nội dung phân tích trên đây, chúng ta thấy rằng việc nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và VCĐ nói riêng có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong công tác quản lý tài chính doanh nghiệp, quyết định đến sự
tăng trởng và phát triển của mỗi doanh nghiệp trong cơ chế thị trờng. Chính
sự cần thiết và cấp bách của vấn đề này đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm mọi
biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ.
III - Các nhân tố ảnh hởng và các biện pháp để nâng
cao hiệu quả sử dụng VCĐ.
III.1. Các nhân tố ảnh hởng tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ.
Để có đợc các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ, trớc hết
chúng ta cần phải xem xét hiệu quả sử dụng VCĐ chịu ảnh hởng của những
sản xuất thấp, máy móc thiết bị cha cần dùng hoặc không cần dùng nhiều sẽ
gây ứ đọng về vốn, đồng thời hao mòn vô hình và hữu hình tăng (do nhiều
nguyên nhân khác nhau) trong khi không có doanh thu tiêu thụ những sản
phẩm do những TSCĐ này tạo ra. Vì vậy, hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh
nghiệp sẽ thấp.
* Việc tổ chức lao động một cách khoa học, bố trí sắp xếp công nhân
có trình độ và tay nghề phù hợp với máy móc thiết bị sẽ phát huy đợc công
suất của máy, tiết kiệm đợc chi phí, đồng thời năng suất lao động cũng tăng
nhanh, số lợng sản phẩm làm ra đạt yêu cầu chất lợng sẽ nhiều hơn, tức là kết
quả thu đợc từ việc sử dụng VCĐ sẽ cao hơn.
Và ngợc lại nếu tổ chức lao động không hợp lý, sắp xếp công nhân có
trình độ và tay nghề không phù hợp với máy móc thiết bị sẽ gây lãng phí do
không tận dụng đợc khả năng của máy, sản lợng sản phẩm làm ra bị hạn chế
dẫn đến kết quả thấp.
* Trách nhiệm và ý thức của ngời lao động cũng là một nhân tố ảnh h-
ởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng VCĐ. Nếu ngời lao động có ý thức tự
giác, có trách nhiệm cao đối với công việc và TSCĐ mà mình sử dụng cũng
nh những tài sản của doanh nghiệp mình, chú ý bảo quản TSCĐ sẽ hạn chế đ-
ợc h hỏng, mất mát TSCĐ, nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ.
24
* Công tác quản lý TSCĐ là một nhân tố quan trọng ảnh hởng tới hiệu
quả sử dụng VCĐ. Việc quản lý TSCĐ một cách chặt chẽ rõ ràng sẽ là cơ sở
cho việc thực hiện kế hoạch đầu t, kế hoạch tổ chức sản xuất, công tác sửa
chữa, bảo dỡng, nhợng bán, thanh lý..., đồng thời sẽ hạn chế việc h hỏng, thất
thoát TSCĐ.
* Nhân tố tiếp theo là công tác sửa chữa, bảo dỡng TSCĐ của doanh
nghiệp. Nếu công tác này đợc thực hiện tốt, việc bảo dỡng sửa chữa TSCĐ đ-
ợc tiến hành một cách kịp thời và có hiệu quả sẽ góp phần khôi phục duy trì
và nâng cao thêm năng lực sản xuất của TSCĐ, đảm bảo cho TSCĐ không bị
h hỏng trớc thời hạn, nh vậy sẽ tiết kiệm đợc chi phí sử dụng TSCĐ.