nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình công nghệ sinh học kết hợp lọc ngược bùn sinh học (upflow sludge blanket filtration - usbf) - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC RỈ RÁC BẰNG
MÔ HÌNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC KẾT HỢP LỌC
NGƯỢC BÙN SINH HỌC (UPFLOW SLUDGE BLANKET
FILTRATION - USBF)

Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Chuyên ngành: MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS TRƯƠNG THANH CẢNH
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN CHÍNH THỐNG
MSSV: 0851110232 Lớp: 08DSH5

- Thu thập tổng hợp tài liệu nước rỉ rác trên thế giới và Việt Nam.
- Nghiên cứu và vận hành mô hình bể USBF trong phòng thí nghiệm.
- Phân tích các chỉ tiêu COD và nitrat hóa, khử nitrat của mẫu nước rỉ rác trước và
sau thí nghiệm
5. Kết quả tối thiểu phải có:
1) Hiệu quả xử lý COD và nitrat hóa, khử nitrat của mẫu nước rỉ rác.
2) Đánh giá sự thích hợp của mô hình USBF khi áp dụng xử lý nước rỉ rác.

Ngày giao đề tài: 02/05/2012 Ngày nộp báo cáo: 21/07/2012 Chủ nhiệm ngành
(Ký và ghi rõ họ tên)

TP. HCM, ngày … tháng … năm ……….
Giảng viên hướng dẫn chính
(Ký và ghi rõ họ tên)

Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 1 -

CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Nước ta đang trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, quá trình công nghiệp


kim loại nặng rất caovà công nghệ xử lý tiêu tốn nhiều hóa chất, giá thành xử lý rất
cao, khó kiểm soát, hay công suất xử lý không đạt thiết kế. Việc nghiên cứu tìm ra
các giải pháp mới xử lý nước rỉ rác, thỏa mãn các điều kiện kinh tế, kỹ thuật và điều
kiện khí hậu tại nước ta là một bài toán đang được đặt ra trong thời gian gần đây.
Mô hình công nghệ sinh học kết hợp lọc dòng ngược bùn sinh học (Upflow
Sludge Blanket Filter - USBF)xử lý nước thải là công nghệ cải tiến của quá trình
bùn hoạt tính trong đó có sự kết hợp 3 quá trình Anoxic, Aeration và lọc dòng
ngược bùn sinh học trong một đơn vị xử lý nước thải. Công nghệ này được giới
thiệu đầu tiên ở Mỹ những năm 1990, sau đó được áp dụng ở châu Âu từ năm 1998
trở lại đây, công nghệ này vẫn chưa được sử dụng nhiều ở Việt Nam. Hy vọng với
những tính năng vượt trội của mô hình USBF sẽ được sử dụng rộng rãi, có thể tiết
kiệm vật liệu và năng lượng chi phí cho quá trình xây dựng, vận hành hệ thống đơn
giản.
Dựa trên những cơ sở đó, đề tài “ Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác
bằng mô hình công nghệ sinh học kết hợp lọc ngược bùn sinh học (Upflow
Sludge Blanket Filtration – USBF)” được hình thành, với mong muốn nghiên cứu
tìm ra phương pháp xử lý nước rỉ rác mới đạt hiệu quả cao, thời gian xử lý nhanh,
hoá chất dễ tìm và chi phí vận hành không quá lớn, góp phần đa dạng hóa công
nghệ xử lý nước rỉ rác.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu đánh giá hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình công nghệ sinh
học kết hợp lọc ngược bùn sinh hoc (USBF) thông qua các chỉ tiêu ô nhiễm : COD,
N-NH
3
, N-NO
3
-
, N-NO
2


Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 4 -

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC RỈ RÁC VÀ Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG DO NƯỚC RỈ RÁC
1.1. Tổng quan về các bãi chôn lấp rác
Hiện nay ở Việt Nam, xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) đô thị vẫn chủ
yếu vẫn là chôn lấp. Thực tế trên địa bàn các thành phố lớn của Việt Nam như: Hà
Nội và TP. Hồ Chí Minh thì tỷ lệ CTRSH đô thị đem chôn lấp chiếm tới 80- 90%.
Ví dụ trên địa bàn TP Hà Nội, tỷ lệ CTRSH đô thị đem chôn lấp 73-81%, sản xuất
phân Compost <7% và tái chế 12 – 20% (URENCO Hà Nội 2006). Riêng TP.Hồ
Chí Minh, ngoài 2 bãi chôn lấp (BCL) là BCL Đông Thạnh và Gò Cát đã ngừng
tiếp nhận rác từ năm 2008, hiện chỉ có BCL Phước Hiệp và BCL Đa Phước vẫn còn
tiếp nhận rác nhưng ngày càng quá tải. Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất của các BCL là
vấn đề nước rỉ rác phát sinh từ các BCL đang là vấn đề gây bức xúc.
Trên địa bàn cả nước có rất ít BCL có trạm xử lý nước rỉ rác.Riêng TP.Hồ
Chí Minh thì cả bốn BCL trên đều được nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng hiện
đại và có hiệu quả xử lý cao đạt TCVN.
Hiện nay, lượng rác của thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 7.000 tấn (2011)
chất thải rắn sinh hoạt phát sinh mỗi ngày đổ dồn về các bãi rác lớn là Đa Phước và

xã Bình Hưng Hòa – Bình Chánh có diện tích 25 ha được xây dựng theo công nghệ
hiện đại nhất tại Việt Nam. Đáy của BCL có tấm lót HDPE- Hight Density
Polyethylen dày 2 mm, có hệ thống thu gom khí và tái sử dụng khí để phát điện, có
hệ thống thu gom và xử lý nước rỉ rác. Công suất thiết kế bãi rác 2000 tấn/ngày.
BCL Gò Cát có nhà máy xử lý nước rỉ rác được xây dựng từ năm 2001, do
Công ty Gibros chế tạo và Công ty Vemeer – Hà Lan lắp đặt có công suất 17,5
m
3
/h, bước đầu vận hành chạy thử và đã xử lý xong 6000 m
3
. Nhưng sau khi BCL
Gò Cát chính thức tiếp nhận lượng rác theo thiết kế là 2000 tấn/ngày, đến ngày
27/01/2002 thì bị trục trặc ở hệ thống siêu lọc, công suất giảm còn khoảng 10 m
3
/h,
nước rỉ rác qua xử lý chưa ổn định. Từ 2007 đến nay, nhà máy xử lý nước rỉ rác Gò
Cát đã nghiên cứu và nâng cấp thay thế công nghệ mới do công ty kỹ thuật Seen đề
xuất và xây dựng đã cải thiện chất lượng nước thải sau xử lý với công suất 200
m
3
/ngày đêm đạt tiêu chuẩn xả thải.
Sau 05 năm hoạt động, ngày 01/08/2007, bãi rác Gò Cát chính thức đóng cửa
sau hai năm lùi hẹn.Hiện nay, chỉ còn nhà máy xử lý nước rỉ rác Gò Cát hoạt động.
BCL Phước Hiệp
Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 6 -

BCL Phước Hiệp đặt tại xã Tam Tân – huyện Củ Chi khởi công xây dựng từ
đầu năm 2003 theo công nghệ BCL vệ sinh như BCL Gò Cát. Trạm xử lý nước rỉ
rác, tạm thời giải quyết trong giai đoạn đầu, do Centenma lắp đặt cũng đã bắt đầu

chất ô nhiễm từ rác chảy vào tầng đất dưới bãi chôn lấp. Trong giai đoạn hoạt động
Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 7 -

của bãi chôn lấp, nước rỉ rác hình thành chủ yếu do nước mưa chảy tràn thấm vào
BCL và nước ép ra từ các lỗ rỗng của chất thải do các thiết bị dầm nén.
Nước rỉ rác được hình thành khi độ ẩm của rác vượt quá độ giữ nước.Độ giữ
nước của chất thải rắn là lượng nước lớn nhất được giữ lại trong các lỗ rỗng mà
không phát sinh ra dòng thấm hướng xuống, dưới tác dụng của trọng lực.Khả năng
giữ nước (FC – Field Capacity) của chất thải rắn là tổng lượng nước có thể lưu lại
trong bãi rác dưới tác dụng của trọng lực.FC của chất thải rắn là yếu tố rất quan
trọng trong việc xác định sự hình thành nước rỉ rác.FC thay đổi tùy thuộc vào trạng
thái bị nén của rác và việc phân hủy chất thải trong bãi chôn lấp.Cả rác và lớp phủ
đều có khả năng giữ nước trước sức hút của trọng lực. FC có thể tính theo công thức
sau :
W10000
W
55,06,0FC
+
−=

Trong đó :
• FC : khả năng giữ nước (tỷ lệ giữ nước và trọng lượng khô của chất thải rắn).
• W : khối lượng vượt tải (overburden weight) được tính tại chính giữa chiều
cao bãi chôn lấp, pound.
Các nguồn chính tạo ra nước rỉ rác bao gồm nước từ phía trên bãi chôn lấp,
độ ẩm của rác, nước từ vật liệu phủ, nước từ bùn nếu việc chôn bùn được cho phép.
Điều kiện khí tượng, thủy văn, địa hình, địa chất của bãi rác, nhất là khí hậu,
lượng mưa ảnh hưởng đáng kể đến lượng nước rỉ rác sinh ra. Tốc độ phát sinh nước
rỉ rác dao động lớn theo các giai đoạn hoạt động khác nhau của bãi rác. Trong suốt


Trong quá trình hoạt động của bãi rác, các thành phần trong nước rỉ rác biến
đổi qua các giai đoạn như sau:(Trương Thanh Cảnh, 2009)

Giai đoạn 1 – giai đoạn thích nghi ban đầu
Sau một thời gian ngắn từ khi chất thải rắn được chôn lấp thì các quá trình
phân hủy hiếu khí sẽ diễn ra, bởi vì trong bãi rác còn có một lượng không khí nhất
định nào đó được giữ lại. Giai đoạn này các chất hữu cơ dễ bị oxy hóa sinh hoá
thành dạng đơn giản như protein, tinh bột, chất béo và một lượng nhất định chất
cellulose. Giai đoạn 1 có thể kéo dài một vài ngày cho đến vài tháng, phụ thuộc vào
tốc độ phân hủy và các vi sinh vật.

Giai đoạn 2 - giai đoạn chuyển tiếp
Khi oxy bị cạn kiệt dần và sự phân hủy chuyển sang giai đoạn kỵ khí. Khi
đó, nitrat và sulphat là chất nhận điện tử cho các phản ứng chuyển hóa sinh học và
chuyển thành khí nitơ và hydro sulfit. Khi thế oxy hóa giảm, cộng đồng vi khuẩn
chịu trách nhiệm phân hủy chất hữu cơ trong rác thải thành CH
4
, CO
2
ưu thế theo 3
bước (thủy phân, lên men axit và lên men metan) chuyển hóa chất hữu cơ thành axit
Pha 1
Pha 2
Pha 3
Pha 4
Pha 5
Thời gian
Hình 1.1. Sự biến thiên các thành phần trong nước rỉrác


cao (>10000 mg/l), BOD
5
/COD >
0,5, tỷ số này cho thấy thành phần chất hữu cơ hoà tan chiếm tỷ lệ cao và dễ bị phân
huỷ sinh học.

Giai đoạn 4 – giai đoạn lên men metan
Trong giai đoạn này nhóm vi sinh vật thứ hai chịu trách nhiệm chuyển hóa
axit acetic và khí hydro hình thành từ giai đoạn trước thành hỗn hợp CH
4
và CO
2
sẽ
chiếm ưu thế tạo thành khí của bãi rác. Đây là nhóm vi sinh vật kỵ khí nghiêm ngặt,
được gọi là vi khuẩn metan. Do các axit hữu cơ và H
2
bị chuyển hóa thành metan và
carbonic nên pH của nước rỉ rác tăng lên đáng kể trong khoảng từ 6,8 – 8,0. Giá trị
BOD
5
, COD, nồng độ kim loại nặng và độ dẫn điện của nước rỉ rác giảm xuống
trong giai đoạn này. Trong khi đó, NH
3
vẫn tiếp tục thoát ra bởi quá trình lên men
axittheo bậc 1 và có nồng độ rất cao trong nước rỉ rác. Các chất vô cơ như: Fe, Na,
K, SO
4
2-
và Cl
-

thể xác định trong một khoảng giá trị nhất định và được cho trong bảng 1.1 Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 12 -

Bảng 1.1.Các số liệu tiêu biểu về thành phần và tính chất nước rác của các bãi chôn
lấp mới và lâu năm.
Thành phần
Giá trị, mg/l
Bãi mới (dưới 2 năm) Bãi lâu năm
( Trên 10 năm)
Khoảng Trung bình
BOD
5
2.000-55.000 10.000 100-200
TOC 1.500-20.000 6.000 80-160
COD 3.000-90.000 18.000 100-500
Chất rắn hòa tan 10.000-55.000 10.000 1.200
Tổng chất rắn lơ lửng 200-2.000 500 100-400
Nitơ hữu cơ 10 – 800 200 80-120
Amoniac 10 – 800 200 20-40
Nitrat 5 – 40 25 5-10
Tổ ng lượng photpho 5 – 100 30 5-10

5
, COD, TDS và nồng độ các chất dinh dưỡng (nitơ,
photpho) thấp đi. Hàm lượng kim loại nặng giảm xuống bởi vì khi pH tăng thì hầu
hết các kim loại ở trạng thái kiềm hòa tan.
Khả năng phân hủy của nước rỉ rác thay đổi theo thời gian. Khả năng phân
hủy sinh học có thể xác định thông qua tỷ lệ BOD
5
/COD. Khi mới chôn lấp tỷ lệ
này thường khoảng 0,5 hoặc lớn hơn. Khi tỷ lệ BOD
5
/COD trong khoảng 0,4-0,6
hoặc lớn hơn thì chất hữu cơ trong nước rỉ rác dễ phân hủy sinh học. Trong các bãi
rác lâu năm, tỷ lệ BOD
5
/COD rất thấp, khoảng 0,005 - 0,2. Khi đó nước rỉ rác chứa
nhiều axit humic và fulvic có khả năng phân hủy sinh học thấp.
Khi thành phần và tính chất nước rỉ rác thay đổi theo thời gian thì việc thiết
kế hệ thống xử lý cũng rất phức tạp. Chẳng hạn như, hệ thống xử lý nước rỉ rác cho
bãi chôn lấp mới sẽ khác so với hệ thống xử lý của bãi rác lâu năm.Đồng thời, việc
phân tích tính chất nước rỉ rác cũng rất phức tạp bởi nước rỉ rác có thể là hỗn hợp
của nước ở các thời điểm khác nhau.Từ đó, việc tìm ra công nghệ xử lý thích hợp
cũng gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phải nghiên cứu thực tế mới có thể tìm ra công
nghệ xử lý hiệu quả. Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 14 -

Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần tính chất nước rỉ rác
Rác được chôn trong bãi chôn lấp chịu hàng loạt các biến đổi lý, hóa, sinh

- 15 -

Khi rác được chôn càng lâu, quá trình metan hóa xảy ra. Khi đó chất thải rắn
trong bãi chôn lấp được ổn định dần, nồng độ ô nhiễm cũng giảm dần theo thời
gian. Giai đoạn tạo thành khí metan có thể kéo dài đến 100 năm hoặc lâu hơn nữa.
Đặc điểm nước thải ở giai đoạn này :
- Nồng độ các axit béo dễ bay hơi thấp.
- pH trung tính hoặc kiềm.
- BOD thấp.
- Tỷ lệ BOD/COD thấp.
- Nồng độ NH
4
+
thấp.
- Vi sinh vật có số lượng nhỏ.
- Nồng độ các chất vô cơ hòa tan vàkim loại nặng thấp.
Theo thời gian chôn lấp đất thì các chất hữu cơ trong nước rỉ rác cũng có sự
thay đổi. Ban đầu, khi mới chôn lấp, nước rỉ rác chủ yếu axit béo bay hơi. Các axit
thường là acetic, propionic, butyric. Tiếp theo đó là axit fulvic với nhiều cacboxyl
và nhiều vòng thơm. Cả axit béo bay hơi và axit fulvic làm cho pH của nước rỉ rác
nghiêng về tính axit. Rác chôn lấp lâu thì thành phần chất hữu cơ trong nước rỉ rác
có sự biến đổi thể hiện ở sự giảm xuống của các axit béo bay hơi và sự tăng lên của
axit f ul vic và humic. Khi bãi rác đã đóng cửa trong thời gian dài thì hầu như nước rỉ
rác chỉ chứa một phần rất nhỏ các chất hữu cơ, mà thường là chất hữu cơ khó phân
hủy sinh học.
Như vậy, các quá trình phân hủy sinh hóa trong bãi chôn lấp có ảnh hưởng
rất lớn đến thành phần và tính chất nước rỉ rác. Theo thời gian, các quá trình phân
hủy trong bãi chôn lấp sẽ có những biến đổi giai đoạn này sang giai đoạn khác làm
thay đổi tính chất nước rỉ rác.
b.

nhiễm. Nhìn chung các quá trình thấm, chảy tràn, bay hơi diễn ra rất phức tạp và
phụ thuộc vào các điều kiện thời tiết, địa hình, vật liệu phủ, thực vật phủ …
e.
Độ ẩm rác và nhiệt độ
Độ ẩm thích hợp các quá trình sinh học xảy ra tốt.Khi bãi chôn lấp đạt trạng
thái bão hòa, đạt tới khả năng giữ nước FC, thì độ ẩm trong rác là không thay đổi
nhiều. Độ ẩm là một trong những yếu tố quyết định thời gian nước rỉ rác được hình
Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 17 -

thành là nhanh hay chậm sau khi rác được chôn lấp. Độ ẩm trong rác cao thì nước rỉ
rác sẽ hình thành nhanh hơn.
Nhiệt độ có ảnh hưởng rất nhiều đến tính chất nước rỉ rác. Khi nhiệt độ môi
trường cao thì quá trình bay hơi sẽ xảy ra tốt hơn làm giảm lưu lượng nước rỉ rác.
Đồng thời, nhiệt độ càng cao thì các phản ứng phân hủy chất thải rắn trong bãi chôn
lấp càng diễn ra nhanh hơn làm cho nước rỉ rác có nồng độ ô nhiễm cao hơn.
f.
Ảnh hưởng từ bùn cống rãnh và chất thải độc hại
Việc chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt với bùn cống rãnh và bùn của trạm xử
lý nước thải sinh hoạt có ảnh hưởng lớn đến tính chất nước rỉ rác. Bùn sẽ làm tăng
độ ẩm của rác và do đó tăng khả năng tạo thành nước rỉ rác. Đồng thời chất dinh
dưỡng vàvi sinh vật từ bùn được chôn lấp sẽ làm tăng khả năng phân hủy và ổn định
chất thải rắn. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, việc chôn lấp chất thải rắn cùng với
bùn làm hoạt tính metan tăng lên, nước rỉ rác có pH thấp và BOD
5
cao hơn.
Việc chôn lấp chất thải rắn đô thị với các chất thải độc hại làm ảnh hưởng
đến các quá trình phân hủy chất thải rắn trong bãi chôn lấp do các chất ức chế
nhưkim loại nặng, các chất độc đối với vi sinh vật… Đồng thời, theo thời gian các
chất độc hại sẽ bị phân hủy và theo nước rỉ rác và khí thoát ra ngoài ảnh hưởng đến

VAF mg/l 2 10100 -
Ca
2+
mg/l 9 1740 105
Độ kiềm mgCaCO
3
/l 11 3850 360
SO
4
2-
mg/l 11 830 70
Độ cứng mgCaCO
3
/l 11 7420 305
Fe- tổng mg/l 10 940 100
Zn
2+
mg/l 10 68 7,8
Ni
+
mg/l 10 0.48 0.15
Mn
2+
mg/l 10 59 5.8
Nguồn: Lancaster USA, 1992
Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 19 - CHỈ TIÊU

-
COD mg O2/L 39.614 – 59.750
2.950 – 7.000 24.000 – 57.300
1.510 – 4.520
38.533 – 65.333
916 – 1.702
BOD mg O2/L 30.000 – 48.000
1.010 – 1.430 18.000 – 48.500
240 – 2.120
33.570 – 56.250
235 – 735
Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 20 -

Nguồn: CENTAMA, 2007

VFA mg/L 21.878 – 25.182 - 16.777 -
-

3
không cao và
giá trị pH thấp đối với nước rỉ rác mới nhưng chỉ sau một thời gian ngắn vận hành
nồng độ COD, BOD giảm rất đáng kể, tỉ lệ BOD
5
/COD thấp, nồng độ NH
4
+
tăng
lên đáng kể và giá trị pH tăng.
Kết quả phân tích cũng cho thấy sự khác biệt giữa thành phần nước rỉ rác tại
hai BCL Gò Cát và Phước Hiệp, sau hơn 5 năm vận hành BCL Gò Cát nồng độ
COD trong nước rỉ rác vẫn còn khá cao trung bình dao động trong khoảng 20.000 –
25.000 mgO
2
/L, tỉ lệ BOD
5
/COD dao động trong khoảng 0,45 – 0,50; với nồng độ
NH
3
cao nhất lên đến > 2.000mg/l, giá trị pH lớn hơn 7,3. Trong khi đó BCL Phước
Hiệp hoàn toàn khác biệt, chỉ sau gần một năm vận hành nồng độ COD giảm còn rất
thấp trung bình dao động trong khoảng 2.000 – 3.000 mgO
2
/L cao nhất đạt đến
5.000 mgO
2
/L, tỉ lệ BOD
5
/COD thấp dao động trong khoảng 0,15 - 0,30, nồng độ

bệnh lao phổi, lao hạch, lao xương, lao thận… Mycobacterium tuberculosis lây lan
qua đường hô hấp và tiêu hóa.
 Cầu khuẩn phổiDiplococus pneumoniae, là vi khuẩn gây bệnh viêm phổi,
viêm phế quản, viêm họng và bệnh ở nhiều cơ quan khác. Chúng xâm nhập vào cơ
thể qua đường hô hấp, khu trú tại yết hầu làm loét thành hầu và thanh quản, tạo
thành màng bao phủ khắp niêm mạc, che kín khí quản gây khó thở. Đồng thời tiết
độc tố làm liệt các dây thần kinh sọ não và làm xung huyết tuyến thượng thận.
Ngoài các loài phổ biến trên còn các loài khác như trực khuẩn thương hàn
Salmonella, cầu khuẩn màng não Neisseria meningitides, trực khuẩn dịch hạch
Pasteurella pestis…
Các kim loại nặng trong nước rỉ rác
Các kim loại sinh ra từ nước rỉ rác rất nhiều như sắt, đồng, chì, thủy ngân,
cadimium, kẽm, niken, thạch tín… xin được đưa ra vài kim loại điển hình, phổ biến,
có tính gây hại cao.
Nghiên cứu hiệu quả xử lý nước rỉ rác bằng mô hình USBF
- 23 -

 Cadimium ( Cd ):Sự tiêu hủy những vật bằng nhựa và pin dẫn đến sự xuất
hiện của cadimium dưới dạng các hơi độc. Tác hại của cadimium với con người rất
nghiêm trọng, nó có khả năng tích lũy trong thận, trong đó phải kể đến là bệnh
huyết áp, làm suy thận, phá hủy mô tinh hoàn và các tế bào hồng cầu.
 Chì (Pb)Chì vô cơ được dùng làm sơn công nghiệp, trong các nhà máy pin,
chất dẻo tổng hợp, ắc quy chì trong xe hơi, nguyên liệu trong luyện kim chì, làm
chất xúc tác trong sản xuất polimer. Một đặc tính nổi bật của chì là tích lũy trong cơ
thể với nồng độ cao lên theo thời gian. Theo nước rỉ rác chì có thể xâm nhập vào cơ
thể người qua nước ngầm hay nước mặt.
Tác hại nghiêm trọng của chì đối với cơ thể con người là làm giảm chức
năng thận, giảm chức năng hệ thống sinh sản, gan, não và hệ thống thần kinh, gây
ốm yếu và tử vong.
 Thủy ngân (Hg)Thủy ngân có nguồn gốc nhân tạo đi vào môi trường có liên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status