LỜI MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
Đời Đường (618 – 907) là thời kỳ toàn thịnh của xã hội phong kiến ở
Trung Quốc.Trong giai đoạn này văn học đời Đường đã phát triển hơn bất kỳ
thời đại nào trước đó.Thơ Đường như một vườn hoa muôn màu muôn sắc nở rộ,
nhiều nhà văn, nhà thơ xuất hiện, nhiều thể loại văn học phát triển, đã để lại
những thành tựu rực rỡ ghi dấu ấn trong thơ ca.Giai đoạn này có nhiều tác giả đã
đi vào lịch sử thơ ca như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị . . .
Thơ Đường du nhập vào Việt Nam rất sớm, nó được Việt Nam chấp nhận
như một nội sinh. Cho đến hôm nay, thơ Đường vẫn rất gần gũi với người Việt
Nam, vì vậy, không gì khó hiểu khi ta thấy trong chương trình môn văn ở trường
phổ thông, thơ Đường có một vị trí đặc biệt. Số lượng không quá lớn nhưng quả
đã đặt người giáo viên văn trước một thử thách lớn, đòi hỏi họ phải tìm cách
vượt qua.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Ở trường phổ thông hiện nay, tình hình dạy thơ nhìn chung chưa đạt hiểu
quả cao. Riêng đối với thơ Đường, chưa có nhiều giáo viên giúp học sinh cảm
nhận được cái hay cái đẹp của nó. Phần lớn giáo viên mới chỉ phân tích được nội
dung tác phẩm mà chưa làm nổi bật các thủ pháp nghệ thuật cùng đặc trưng thi
pháp thơ Đường, nhiều giáo viên chỉ biết thuyết giảng, ít đối thoại với học sinh
vì sợ thiếu thời gian. Cách làm ấy vô hình dung đã đi ngược lại cái “phép” của
thơ Đường là “nói ít gợi nhiều”. Mặt khác, việc dạy học thơ Đường ở trường phổ
thông chưa đạt hiệu quả cao còn do việc cung cấp tri thức lý thuyết về thơ
Đường còn thiếu nên tri thức làm nền tảng cho học sinh tiếp nhận còn nghèo
nàn. Vậy nên khi học thơ Đường, học sinh có ấn tượng thơ Đường khó tiếp nhận.
Xuất phát từ thực tế này, tôi thấy vấn đề nghiên cứu cách dạy học thơ
Đường ở trường học phổ thông là rất quan trọng. Thực hiện đề tài này tôi hy
vọng đưa ra cách hiểu khoa học về thơ Đường nhằm góp phần nhỏ bé vào việc
cải tiến chất lượng dạy học thơ Đường trong nhà trường phổ thông.
Tuy nhiên bài viết khó tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực
chi Quảng Lăng có 4 câu 28 chữ cũng giống như hình thức của những bài thơ
khác trong văn học Trung đại Việt Nam như bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân
Hương. Bài Thu hứng của Đỗ Phủ về hình thức cũng giống như bài Qua đèo
Ngang của bà Huyện Thanh Quan với cấu trúc thơ cân đối hài hòa Mặt khác,
tâm lý học sinh thích học những bài thơ ngắn, bởi những bài ngắn dễ phân tích,
việc đọc hiểu cũng gọn gàng hơn.
- Văn học nước ngoài nói chung và thơ Đường nói riêng đã được giáo viên
nghiên cứu khá kỹ càng ở trường đại học qua các chuyên đề. Với thơ đường giáo
viên đã có dịp tiếp xúc và tìm hiểu qua các chuyên đề: Lịch sử văn học Trung
Quốc, Thi pháp thơ Đường Bởi lẽ đó, người giáo viên đã có kiến thức về chiều
sâu của thơ Đường; trong những giờ lên lớp, họ có thể cung cấp thêm những
kiến thức ngoài sách giáo khoa mà vẫn đảm bảo đi đúng trọng tâm bài giảng.
- Thơ đường là thơ của nước ngoài nên khi đưa vào chương trình văn học
ở trường phổ thông phải được phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ cẩn thận. Đọc
bản phiêm âm chữ Hán, học sinh đã phần nào lĩnh hội được sắc thái biểu cảm
của từ ngữ. Còn với giáo viên, điều kiện thuận lợi đã được tạo sẵn từ khi còn ở
giảng đường đại học, do đó có học ít nhiều về Hán Nôm. Đã có rất nhiều bản
dịch khác nhau về các bài thơ Đường được dạy học ở phổ thông, tuy vậy, khi
soan sách, các tác giả sách giáo khoa đã thực sự chọn được những bản dịch tiêu
biểu nhất, gây mỹ cảm đậm đà cho cả người dạy lẫn người học.
- Hầu hết những bài thơ Đường có trong chương trình văn học phổ thông
đều được sáng tác theo thể bát cú Đường luật (thất ngôn, ngũ ngôn) và tứ tuyệt
(thất ngôn, ngũ ngôn). Hai thể thơ này khá quen thuộc với học sinh. Thơ Đường
có đặc trưng “lời ít ý nhiều” và bút pháp “họa vân xuất nguyệt” , càng phân tích
kỹ càng thấy lý thú bởi nó như một khối càng bóc tách càng thấy rõ cốt lõi. Thơ
3
Đường chủ yếu làm theo luật nên có quy định của nó. Học sinh khi thấy những ý
tưởng bí ẩn xuất lộ theo quy luật chắc chắn sẽ rất hứng thú.
- Trong thơ Đường, các tác giả hay sử dụng những điển cố, đỉên tích nên
khi dạy học, giáo viên có điều kiện mở rộng hiểu biết về văn hóa, văn học cho
nghĩa rất tha thiết. Hay từ yên hoa được dịch thành hoa khói cũng đúng, nhưng
trong thơ Đường từ yên hoa còn hàm nghĩa nơi phồn hoa đô hội. Hai câu sau của
bài thơ vẽ ra sự xa dần của cánh buồm, ban đầu còn rõ (cô phàm), rồi mờ dần,
thấp thoáng như thực, như hư (viễn ảnh). Cho đến khi cánh buồm đã mất hút vào
khoảng trời xanh thăm thẳm bao la (bích không tận), nhà thơ vẫn còn đứng để
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu (Chỉ thấy sông Trường Giang chảy ở bên
trời). Không một chữ buồn, chữ trông, chữ luyến mà ta cứ thấy tâm hồn nhà thơ
4
dõi theo bóng buồm của bạn. Tiếc rằng bản dịch của Ngô Tất Tố chưa diễn tả
được hình ảnh cách buồm đơn chiếc dần xa trông cái nhìn vời vợi trông theo của
Lý Bạch.
- Thơ Đường là một mảng thơ hấp dẫn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu. Lượng sách nghiên cứu vì vậy có rất nhiều. Đứng trước số tài liệu
lớn như vậy, việc xử lý, bao quát nó xem ra cũng là một vấn đề khó khăn. Giáo
viên biết chọn tài liệu nào làm chuẩn mực? Đã nhiều tài liệu thì có nhiều cách
hiểu khác nhau
- Số lượng thơ Đường được đưa vào chương trình văn học phổ thông tuy
không nhiều nhưng so với văn học các nước khác thì thơ Đường chiếm một vị trí
đặc biệt. Nhưng vấn đề thời gian để dạy phần thơ đường theo phân phối chương
trình của Bộ Giáo dục vẫn còn quá ít (như ở chương trình Văn học 10, thời gian
dành cho việc dạy học thơ Đường là 3 tiết: có 2 tiết học chính và 1 tiết đọc thêm.
mà trong 3 tiết đó, giáo viên phải giới thiệu qua 5 tác giả, 5 tác phẩm), nên đây
cũng là một khó khăn đối với việc dạy học thơ Đường trong nhà trường phổ
thông.
- Muốn có sự cảm nhận sâu sắc về một bài thơ, trước hết ta phải hiểu cái
gọi là “nội dung” của nó. Trong thơ Đường, điển tích, điển cố rất nhiều đòi hỏi
người giáo viên phải hiểu sâu hiểu kỹ mới có thể cắt nghĩa lý giải được.
- Để cảm nhận được cái hay cái đẹp của bài thơ, đòi hỏi tất cả chúng ta
phải học thuộc lòng bài thơ. Học thuộc lòng ở đây không phải chỉ là học thuộc
lòng phần dịch thơ mà còn phải thuộc cả phần phiên âm. Mặc dù trong vốn từ
cho mỗi phần một nhiệm vụ xác định. Hai câu đề: Câu 1 phá đề: mở ra ý của bài;
Câu 2 thừa đề: tiếp ý để chuyển vào thân bài; Hai câu thực: giải thích rõ ý đầu
bài; Hai câu luận: phát triển mở rộng ý của bài; Hai câu kết: kết thúc bài.
Đây là cách chia bố cục truyền thống khi chúng ta phân tích bài thơ
Đường luật. Cách phân chia này là của người đời sau chứ ở đời Đường chưa có.
Người làm thơ chỉ chú trọng việc làm sao thể hiện được cái “tứ” mà mình từ sự
“trầm tư” đã “diệu ngộ” được, nên mạch cảm hứng đi “một hơi” do sự nhập
hứng. Vì vậy khi phân tích một bài thơ luật của thi nhân đời Đường không nhất
thiết chia làm 4 phần.
- Phân tích theo hai phần kết cấu của bài thơ. Mỗi bài thơ có 8 câu, chia
làm hai phần: 4 câu đầu và 4 câu cuối. Khảo sát thực tế giảng dạy thơ Đường thể
thất ngô bát cú đường luật được giới thiệu trong chương trình phổ thông hiện
nay, tôi thấy nhiều giáo viên đã vận dụng công thức này để khai thác tác
phẩm.Ví dụ như khi dạy bài thơ Thu hứng (Đỗ Phủ), nhiều giáo viên đã chia bố
cục bài thơ làm hai phần. Bốn câu đầu tả cảnh, mà trong cảnh lại đượm tình thu
đất khách với cách viết rất riêng. Trong 2 câu đầu tiên, cảnh thu được gợi lên bởi
các hình ảnh: rừng phong sương móc trắng xóa tiêu điều, u buồn, tàn tạ, cảnh núi
non hiu hắt, bi thương. Ở đây cảnh không còn mang tính chất ước lệ, là cảnh
thực của hai địa danh thuộc thượng lưu sông Trường Giang hiểm trở, hùng vĩ, về
thu, khí trời mịt mù. Ở hai câu 3,4, cảnh thu lại mang nét hoành tráng, dữ dội,
với cảnh con sông sóng vọt lên đến tận trời và cảnh nơi quan ải mây xa sát mặt
đất. Như vậy cảnh thu được tái hiện trong thơ rất sinh động: vừa có nét bi
thương, vừa có nét hùng vĩ, vừa mang nét ước lệ, vừa mang nét hiện thực. 4 câu
cuối tập trung thể hiện mối tình đối với quê hương: nhìn hoa cúc nở mà dòng lệ
cứ tuôn rơi; hoa cúc thêm một lần nở, dòng lệ thêm một lần chứa chan, giọt lệ
hiện tại cũng là giọt lệ năm trước, của quá khứ gần 2 năm và quá khứ xa (giọt
nước mắt đã chảy từ rất lâu trong tâm tưởng của thi nhân). Tình cảm của nhà thơ
được cụ thể qua hình ảnh con thuyền cô độc luôn hướng về bến quê. Thấm thía
nỗi niềm của kẻ lưu lạc nơi đất khách, thi nhân vô cùng buồn bã. Hai câu thơ
cuối tiến tục thể hiện tình cảm chủ quan của nhà thơ, nhưng cái khác ở đây là Đỗ
các phần. Cụ thể ở 4 câu đầu, đằng sau cảch thu với hình ảnh rừng phong tiêu
điều, xơ xác, khí trời âm u bao trùm lên núi Vu, kẽm Vu cùng không gian sông
nước hoành tráng , người đọc đã phần nào cảm nhận được nỗi buồn của tác giả
(bi nhưng không lụy). Trong bốn câu sau, nỗi buồn được hiện rõ qua cảnh sinh
hoạt cuối thu, đó là nỗi buồn của con người xa xứ, nặng tình với cố hương
2.1.2. Tìm hiểu kết cấu bài thơ tứ tuyệt
Thơ tứ tuyệt gồm ngũ tuyệt (4 câu, mỗi câu 5 chữ) và thất tuyệt (4 câu,
mỗi câu 7 chữ). Tuy dung lượng câu chữ ít hơn bài thơ bát cú nhưng tự nó là một
kết cấu chỉnh thể có cấu trúc riêng. Do vậy khi dạy loại thơ luật chúng ta có thể
vận dụng cách khai thác theo quá trình giàn dựng cấu tứ của bài thơ, tức là tìm
hiểu tác phẩm theo kết cấu của nó. Bố cục một bài thất ngôn tứ tuyệt gồm có 4
phần: khai, thừa, chuyển, hợp. Câu khai là câu mở để tạo ra “duyên cớ” để triển
7
khai toàn bộ tứ thơ, nhưng ngay trong câu đầu đã hàm chứa nội dung, tình cảm
của tác giả. Câu thừa có hai chức năng cơ bản: cùng với câu 1 hoàn thiện một ý,
và “niêm” liên 1 với liên 2, vừa hé lộ nội dung tư tưởng của bài thơ. Câu chuyển
là câu thơ thứ 3 – câu thơ có vị trí đặc biệt quan trọng trong bài thơ tứ tuyệt trong
chương trình trung học phổ thông đều được các nhà viết sách định hướng phân
tích theo kết cấu hai phần: hai câu đầu, hai câu cuối. Hai câu đầu chủ yếu tả cảnh
mà trong cảnh có tình. Hai câu sau thể hiện tình cảm trên nền phong cảnh. Ví dụ
bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch.
Hai câu đầu nói về bối cảnh của cuộc tiễn đưa cùng nỗi niềm tâm sự và
tình cảm của nhà thơ đối với người bạn quý.
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
(Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc ở phía tây, xuôi về Dương Châu giữa tháng
ba, mùa hoa khói)
Giữa thời thái bình bạn đã đi từ một thắng cảnh (lầu Hoàng Hạc – một di
chỉ thần tiên) đến một thắng cảnh (Quảng Lăng thuộc Dương Châu nơi phồn hoa
đô hội nổi tiếng thời Đường) nên buổi tiễn đưa không đầm đìa giọt lệ. Nhưng
ba bởi đó là bản lề, trục nối kết cấu hai phần của bài thơ, đưa người đọc đi vào
vấn đề chính yếu mà tác giả muốn đề cập thông qua bài thơ.
2. 2. Khai thác bài thơ Đường dựa vào niêm thơ và luật bằng trắc
Niêm nghĩa đen là dính, chỉ quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau về âm luật
giữa các câu theo hệ thống dọc của bài thơ. Trong mỗi cặp câu, tức mỗi liên thơ,
các chữ tương ứng câu số lẻ, số chẵn phải có thanh trái ngược nhau (trừ chữ thứ
5 và chữ thứ 7 trong liên đầu).
Ví dụ: bài Thu hứng (Đỗ Phủ)
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
Vu sơn vu giáp khí tiêu sâm
Giang gian ba lẵng kiêm thiên dũng
Tái thượng phong vân tiếp địa âm
Trong hai liên thơ trên, các chữ tương ứng ở câu số chẵn và câu số lẻ
thanh trái ngược nhau, trừ chữ thứ 3 ở liên 1, chữ thứ 7 ở liên 1 và chữ thứ 3 ở
liên 2. Điều này có thể chấp nhận được vì “nhất, tam, ngũ, bất luận – nhị, tứ, lục,
phân minh”
Trong hai cặp câu kề nhau, nhịp đi của liên trên phải khác nhịp đi của liên
dưới. Muốn như vậy chữ thứ 2 của câu chẵn thuộc liên trên phải cùng thanh với
chữ thứ 2 của câu lẻ thuộc liên dưới. Sự giống nhau như thế về thanh đã tạo nên
cái gọi là niêm vì nó đã làm cho hai câu thơ thuộc hai liên dính vào nhau. Theo
đó trong bài thơ thất ngôn bát cú câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, câu
4 niêm với câu 5, câu 6 niêm với câu 7, còn ở bài thơ thất ngôn tứ tuyệt, câu 1
niêm với câu 4, câu 2 niêm với câu 3.
Ví dụ bài Thu hứng (Đỗ Phủ).
Xem xét các từ thứ 2, 4, 6 đi dọc suốt tác phẩm sẽ thấy:
Liên 1: Câu 1+ câu 8:
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm
Bạch đế thành cao cấp mộ châm
Liên 2: Câu 2 + câu 3:
Vu sơn vu giáp khí tiêu sâm
phải luôn chú ý đến ý, khi được cả thanh với ý thì mới “đắt”. Nếu gặp trường
hợp cần giữ ý thì phải hi sinh từ. Trường hợp này có thể phải đổi từ loại này với
từ loại kia dẫn đến hiền tượng đối không chỉnh. Ví dụ trong bài Hoàng Hạc lâu,
Thôi Hiệu dùng động từ “khứ” đối với danh từ “lâu”. Theo nguyên tắc của luật
đối, trong tác phẩm thơ luật thất ngôn bát cú thì hai liên giữa phải đối nhau. Đi
vào thực tế sáng tác của các cá nhân ta thấy có nhà thơ sử dụng đối ở cả hai liên
đầu liên cuối (Đăng cao – Đỗ Phủ). Vì thế, khi giảng dạy không nên chỉ dừng lại
ở việc phát hiện cách khai thác luật đối theo quy định của thi nhân mà cần thiết
phải lưu ý khai thác dụng ý nghệ thuật tạo điểm sáng trong sự phá cách, đồng
thời định hướng cho học sinh vận dụng vốn hiểu biết tổng hợp để lý giải thấu
đáo hình thức nghệ thuật mà tác giả sử dụng nhằm diễn tả đắc lực nội dung ý tứ
của bài thơ.
Ví dụ khi phân tích luật đối trong bài thơ Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu,
nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Phi đã có cách lý giải khá sâu sắc: ở ngay hai câu
thơ đầu mà thơ đã sử dụng hình thức đối thể hiện sự phá cách đầy dụng ý tái hiện
thực trạng cái còn và cái mất. Dùng “hoàng hạc” (loài chim) để đối với “Hoàng
Hạc” (tên lầu) là một sự phá cách nữa, song cho hai từ đó va chạm nhau như vậy
mới làm nổi bật được mối quan hệ giữa cái còn và cái mất, tâm trạng bàng hoàng
10
tiếc nuối của nhà thơ. Theo thông lệ từ “khứ” không thể đối được với từ “lâu”
song nhà thơ Thôi Hiệu vẫn cứ làm thế bởi vì diễn đạt cái đã đi xa mãi không
bằng động từ mà diễn đạt được cái còn lại, trở lại không gì bằng danh từ.
Trong bài thơ tứ tuyệt có thể đối hoặc không đối, nếu có đối chúng ta chú
ý hiện tượng tiểu đối làm cho bài thơ tuyệt cú có khả năng mở rộng bình diện
miêu tả và thể hiện.
2. 4. Khai thác bài thơ luật Đường dựa vào tìm hiểu vần
Mỗi bài thơ bát cú có năm vần. Thơ Đường luật chỉ gieo được 4 vần, mà
gieo vần bằng, còn vần trắc ít khi được dùng. Vần trắc thường chỉ được dùng
trong thơ cổ phong. Theo quy định vần ở tác phẩm thơ luật chỉ được đặt cuối
câu. Bài thất ngôn bát cú có 5 vần ở các câu 1,2,4,6,8; bài tuyệt cú có 3 vần các
nhận biết được sáng tạo của các nhà thơ trước cùng một vấn đề hiện thực, và cho
các em nhận biết được đặc điểm cách biểu hiện tứ thơ trong tác phẩm thơ đường.
Trong tác phẩm thơ Đường, tứ thơ được nâng đỡ bởi ngôn ngữ hàm súc,
tinh luyện và được gửi gắm một cách kín đáo chứ không bộc lộ một cách trực
tiếp như trong thơ hiện đại. Khảo sát các bài thơ Đường tôi thấy tứ thơ trong bài
thơ Đường thường ẩn dưới sự khái quát các mối quan hệ xưa – nay; không gian –
thời gian; tình – cảnh Đặc biệt là mối quan hệ tình và cảnh được dùng nhiều
trong khi chuyển tải tứ thơ. Chính vì thế cảnh trong thơ Đường là tâm cảnh, nhà
thơ mượn cảnh để tả tình, mượn ngoại giới để bộc lộ tâm trạng. Đó chính là nét
đặc sắc của thơ Đường.
- Khảo sát các bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tuyệt cú, có thể thấy ngôn ngữ
được các tác giả sử dụng hết sức tinh luyện. Từ đặc trưng của tính hàm súc trong
ngôn ngữ thơ Đường, khi khai thác chúng ta cần bám sát từ ngữ để phân tích và
quan trọng hơn là làm rõ dụng ý của nhà thơ khi tổ chức sắp xếp câu chữ. Đương
nhiên, đây là cách định hướng khai thác dựa trên bản phiên âm chữ Hán bởi vì
bản dịch thơ không chuyển tải hết thông tin trong nguyên tác (Ví dụ trường hợp
bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Lý Bạch mà tôi đã
phân tích ở trên). Như vậy, nếu bám câu chữ trong bản dịch sẽ gặp nguy cơ hiểu
sai lệch văn bản. Thực tế này đòi hỏi giáo viên khi giảng dạy tác phẩm thơ
Đường phải giúp học sinh nhận biết được mức độ chuyển tải nội dung trong câu
thơ dịch thông qua việc so sánh đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm nguyên
tác để nắm vững tinh thân tác phẩm. Nếu giáo viên đủ kiến thức và sự tự tin thì
nên khai thác ngôn ngữ bài thơ Đường trên cơ sở bản phiên âm bởi bản phiên âm
đó thể hiện một cách trung thực ý tưởng mà nhà thơ muốn chuyển tải.
Một bài thơ Đường tuyệt tác luôn có ngôn ngữ diễn đạt tới hàm súc cao.
Số lượng câu chữ giới hạn không hề mâu thuẫn với khả năng diễn đạt vô cùng
phong phú, tinh tế. Chính vì vậy, khi phân tích thơ Đường, chúng ta phải hướng
học sinh chú tâm vào việc nắm bắt các điển cố, điển tích, hệ thống từ ngữ thể
hiện tư tưởng chủ đề, các hình ảnh ẩn dụ , bởi nắm bắt được, chúng ta mới có
thể hiểu một cách sâu sắc các tầng ý nghĩa của bài thơ. Chẳng hạn, chỉ bằng việc
THPT Nguyễn Mộng Tuân – Đông Sơn, tôi đã thu được kết quả sau đây để làm
bài học rút kinh nghiệm:
- Trong các tiết học về những bài thơ Đường như: Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng – Lý Bạch hay Thu hứng – Đỗ Phủ, học sinh
rất hứng thú học tập, tích cực phát biểu hơn, nắm nội dung bài học nhanh hơn,
đầy đủ hơn.
- Học sinh đọc – hiểu văn bản theo đúng đặc trưng thể loại.
- Học sinh có thói quen học tập nghiêm túc, khoa học.
Kết quả khảo sát chất lượng học sinh viết một bài văn cảm nhận sau khi
học xong những bài thơ Đường theo cách tiếp cận mới như sau:
Lớp 10A1 (Sĩ số 52 học sinh)
Điểm
Số HS 0.0-4.5 5.0-5.5
6.0-6.5 7.0-7.5 8.0-8.5 9.0-10.0
0 0%
03 6%
23 44%
21 40%
05 10%
0 0%
Có thể nói đó là kết quả khả quan, việc áp dụng phương pháp dạy học thơ
Đường theo hướng đổi mới đã cho thấy chất lượng dạy và học được nâng lên
một bước.
2. Bài học kinh nghiệm
14
Phương pháp dạy học của giáo viên Ngữ văn có ý nghĩa to lớn không chỉ
trong việc tiếp nhận giá trị văn bản mà còn bồi dưỡng tâm hồn các em. Do vậy,
việc đổi mới phương pháp dạy học thơ Đường nói riêng và thơ nói chung ở bậc
THPT là một yêu cầu cần thiết, đòi hỏi nhiều công sức của cả giáo viên và học
1.1. Cơ sở lý luận 1
1.2. Cơ sở thực tiễn 1
2. Mục đích đề tài 1
3. Phương pháp nghiên cứu 2
B. Nội dung 3
1. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 3
1.1. Thuận lợi 3
1.2. Khó khăn 4
1.3. Kết quả, hiệu quả của thực trạng 5
2. Một số vấn đề về phương pháp tiếp cận và dạy học thơ Đường ở nhà trường
phổ thông 5
2.1. Khai thác bài thơ Đường từ việc tìm hiểu kết cấu 6
2.1.1. Tìm hiểu kết cấu bài thơ luật thi 7
2.1.2. Tìm hiểu kết cấu bài thơ tứ tuyệt 8
2.2. Khai thác bài thơ Đường dựa vào niêm thơ và luật bằng trắc…… 9
2.3. Khai thác bài thơ Đường dựa vào tìm hiểu luật đối 10
2.4. Khai thác bài thơ Đường dựa vào tìm hiểu vần 11
2.5. Khai thác bài thơ Đường dựa vào tìm hiểu tứ thơ, ngôn ngữ… 11
C. Kết luận 14
1. Kết quả nghiên cứu 14
2. Bài học kinh nghiệm 15
3. Kiến nghị, đề xuất 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
16
1. Nguyễn Thị Bích Hải, (2003), Văn học châu Á trong nhà trường phổ thông,
NXB GD.
2. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THPT, (2007), Bộ Giáo dục và Đào
tạo, NXB GD.
3. Phan Trọng Luận, (1999), Phương pháp dạy học văn, NXB GD.
4. Lê Đức Niệm, (1995), Diện mạo thơ Đường, NXB VHTT, Hà Nội.