MỘT số kĩ THUẬT dạy học địa lý TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG nguyễn thị thu phượng - Pdf 17

I. Kĩ thuật sơ đồ tư duy
1.1. Khái niệm
• Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình ảnh để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng.
• Kỹ thuật sơ đồ tư duy do Tony Buzan đề xuất, xuất phát từ cơ sở sinh lý thần
kinh về quá trình tư duy: não trái đóng vai trò thu thập các dữ liệu mang tính logic như số
liệu, não phải đóng vai trò thu thập dữ liệu như hình ảnh, nhịp điệu, màu sắc, hình dạng
v.v…
• Cách làm: Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề. Từ
chủ đề trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm, phản ánh
một nội dung lớn của chủ đề, viết bằng chữ in hoa. Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và
viết cùng một màu. Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm, chỉ sử dụng các thuật
ngữ quan trọng để viết lên các nhánh. Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết
tiếp những nội dung thuộc nhánh phụ đó. Các chữ viết trên nhánh phụ được viết bằng chữ
in thường, tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.
Đối với môn địa lý SĐTD có thể ứng dụng trong nhiều nội dung giảng dạy: tóm
tắt nội dung, ôn tập một chủ đề, trình bày tổng quan một chủ đề bằng sơ đồ.
• Lưu ý:
+ Luôn sử dụng màu sắc, bởi vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh.
+ Nên dùng các đường kẻ cong vì các đường cong có tổ chức rõ ràng sẽ thu hút
được sự chú ý của mắt hơn.
+ Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm.
+ Tạo ra một kiểu sơ đồ riêng cho mình ( kiểu đường kẻ, màu sắc…).
1.2. Quy trình sử dụng
Sử dụng SĐTD làm công cụ, phương tiện để tổ chức các hoạt động nhận thức cho
HS trong khi dạy trên lớp.
a. Vừa giảng bài trên lớp vừa vẽ SĐTD trình bày bài giảng trên bảng phụ.
• Trong khi giảng bài, GV có thể sử dụng bảng đen, bảng trắng hay bảng giấy lật
nhanh.
• GV vẽ phần tương ứng của SĐTD khi đang giảng bài. Cách biểu thị quy trình tư
duy như thế này sẽ làm rõ cấu trúc bài học, duy trì sự chú ý của HS trong suốt tiết học

trong lớp có SĐTD riêng tùy theo cách thể hiện của mỗi cá nhân các em.
− Cách khác, sau khi học xong bài học, GV dành khoảng 5 phút cho HS cả lớp tự lập
SĐTD thể hiện nội dung kiến thức đã học.
− VD: Dạy xong bài 12, lớp 9 : “Sự phát triển và phân bố ngành công nghiệp”, GV có
thể yêu cầu HS vẽ SĐTD về bài học này. Thời gian cho hoạt động này không cần nhiều
vì HS đã được tìm hiểu sâu sắc về bài học, công việc của các em là nhớ lại những kiến
thức bài học và sắp xếp chúng theo 1 trật tự logic trong SĐTD.
d. GV chia HS thành các nhóm và yêu cầu mỗi nhóm lập SĐTD
• GV nêu ra vấn đề địa lý cụ thể
• Sau đó chia lớp thành các nhóm nhỏ từ 4 - 5 em, yêu cầu các nhóm tìm cách giải
quyết vấn đề địa lý đó và thể hiện nó trên SĐTD.
• GV có thể hướng dẫn các nhóm sử dụng SĐTD để hoạch định, theo dõi, trình bày
kế hoạch, thuyết trình, báo cáo công việc của cả nhóm đã hoàn thành trước lớp.
• VD: Khi dạy phần địa lý địa phương, GV có thể tổ chức cho HS tìm hiểu về các
điều kiện tự nhiên, KTXH của địa phương mình.
• Các bước thực hiện:
B1: GV chia lớp thành 4 nhóm khác nhau. Mỗi nhóm tiến hành tìm hiểu một vấn đề
cụ thể của địa phương mình.
B2: GV hướng dẫn các nhóm sử dụng SĐTD để lập kế hoạch, phân công công việc
cho các thành viên trong nhóm, hướng dẫn các em thu thập tài liệu và điều tra thực tế, sử
dụng SĐTD trong khi thuyết trình báo cáo trước lớp.
B3: Sau khi nhóm hoàn thành công việc, GV tổ chức cho các nhóm trình bày kết quả
làm việc nhóm, đánh giá cho điểm.
Sử dụng SĐTD trong khi hướng dẫn HS ôn tập, hệ thống lại kiến thức địa lý đã
học và khi làm bài thi.
Khi dạy các tiết ôn tập thay vì việc GV cho HS tự ngồi dưới lớp ôn tập hoặc gọi
HS lên trả lời các câu hỏi theo đề cương. GV có thể yêu cầu các em tự lập các SĐTD
ngay trên lớp để hệ thống lại các nội dung kiến thức đã được học theo từng chương trong
SGK.
II. Kĩ thuật khăn trải bàn

GV cho mỗi HS tự suy nghĩ các nhân tố theo ý kiến của riêng mình trong vòng 2 phút,
sau đó chia lớp thành các nhóm và yêu cầu các thành viên trong nhóm đóng góp ý kiến, ý
kiến nào chung ghi vào giữa tờ A0, còn các ý kiến khác tiến hành thảo luận nhóm để tìm
ra câu trả lời đầy đủ nhất.
III. Kĩ thuật mảnh ghép

3.1. Khái niệm
Kỹ thuật các mảnh ghép là kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, kết hợp giữa cá
nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích
thích sự tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác.
3.2. Quy trình sử dụng
Vòng 1: Nhóm chuyên gia
• Lớp học sẽ được chia thành các nhóm (khoảng từ 3- 6 người). Mỗi nhóm được
giao một nhiệm vụ với những nội dung học tập khác nhau. Ví dụ:
+ Nhóm 1: Nhiệm vụ A
+ Nhóm 2: Nhiệm vụ B
+ Nhóm 3: Nhiệm vụ C
• Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề
và ghi lại những ý kiến của mình.
• Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời
được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành chuyên gia của lĩnh vực đã
tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2.
Vòng 2: Nhóm mảnh ghép
+ Hình thành nhóm mới khoảng từ 3-6 người (bao gồm 1-2 người từ nhóm 1; 1-2 từ
nhóm 2; 1-2 người từ nhóm 3…), gọi là nhóm mảnh ghép.
+ Các câu hỏi và câu trả lời của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mới chia sẻ
đầy đủ với nhau.
+ Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu, được tất cả nội dung ở vòng 1 thì
nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết (lưu ý nhiệm vụ mới này phải gắn
liền với kiến thức thu được ở vòng 1).

+ Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng
Động não thường được:
- Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề
- Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn đề
- Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau
• Quy trình thực hiện
- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề ( có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu
trước cả lớp hoặc trước nhóm.
- Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt. Các thành viên
đưa ra những ý kiến của mình, trong khi thu thập ý kiến không đánh giá, nhận xét. Mục
đích là huy động nhiều ý kiến tiếp nối nhau.
- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to không loại trừ một ý kiến nào, trừ
trường hợp trùng lặp.
- Phân loại các ý kiến. Lựa chọn sơ bộ suy nghĩ, chẳng hạn theo khả năng ứng
dụng, có thể ứng dụng trực tiếp, có thể ứng dụng nhưng cần nghiên cứu thêm, không có
khả năng ứng dụng.
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng
- Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận
• Ví dụ:
Khi dạy bài 2, lớp 10 ban nâng cao: “Một số phương pháp biểu hiện các đối tượng
địa lí trên bản đồ”. GV yêu cầu mỗi HS hãy cho một ví dụ cụ thể về dạng kí hiệu dùng
để thể hiện đối tượng địa lí trên bản đồ.
Các ý kiến đưa ra viết vào giấy có thể là:
Mỏ neo: cảng biển
Hạt cà phê: vùng cà phê
Đọt chè: vùng trồng chè
Oto: vùng phát triển công nghiệp sản xuất oto
Fe: mỏ quặng sắt
Đường đứt đoạn: đường biên giới, ranh giới các địa phuwong
Các điểm chấm: thể hiện sự phân bố dân cư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status