skkn một số nguyên tắc cần áp dụng khi dạy phân môn làm văn ở trường phổ thông nguyễn thị minh khai - Pdf 18

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Mục lục 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
PHẦN NỘI DUNG 4
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
II. THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC LÀM VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ
THÔNG 4
1.Thực trạng về khả năng làm văn của học sinh phổ thông
2. Tình hình dạy làm văn của giáo viên ở trường phổ thông 6
III. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 7
1. Nguyên tắc tích cực hóa hoạt động làm văn của chủ thể học sinh 7
2.Nguyên tắc tích hợp trong dạy học làm văn 10
3. Nguyên tắc kết hợp lí thuyết với thực hành, chú trọng khâu luyện tập 14
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 16
PHẦN KẾT LUẬN 17
I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
II. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI.
III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG TRIỂN KHAI 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Bối cảnh của đề tài.
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà
nước, Bộ giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương đổi mới tích cực nhằm nâng
cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo, tiếp tục khẳng định “Giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu” . Những chủ trương lớn như: Đổi mới chương trình
sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích cực, chủ
động và sáng tạo của học sinh; dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, dạy học tích
hợp, lồng ghép nhằm hướng đến mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh. Hưởng

4. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm luận giải những vấn đề lí luận và thực tiễn dạy học làm văn ở
trường phổ thông. Qua đó, đề xuất các nguyên tắc cần áp dụng khi dạy phân môn
này để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học làm văn nói chung ở trường
phổ thông để đáp ứng chủ trương của ngành Giáo dục trong điều kiện hiện nay.
5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu của đề tài
Đề tài Một số nguyên tắc cần áp dụng khi dạy phân môn Làm văn ở
trường phổ thông hướng tới xây dựng một số nguyên tắc dạy học làm văn, góp
thêm cơ sở khoa học cho việc đổi mới phương pháp, khích lệ, động viên, tạo hứng
thú cho học sinh góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học phân môn làm văn ở
trường phổ thông.
3
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Dạy và học được xem là hoạt động chủ đạo trong nhà trường được quy định
trong Điều lệ trường Trung học phổ thông, trong quy chế chuyên trong các nghị
quyết của tổ chức Đảng và chính quyền, đoàn thể nhà trường và trong luật Giáo
dục. Mục tiêu của nhà trường là dạy và học, chất lượng học tập của học sinh là
thước đo hiệu quả giảng dạy của giáo viên và hoạt động của nhà trường.
Học sinh yếu, kém về phân môn làm văn nói riêng và môn ngữ văn nói chung
là những học sinh thiếu kỹ năng làm văn, không ham thích học môn học này, có kết
quả thường xuyên dưới trung bình. Việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng cần
thiết ở những học sinh này thường đòi hỏi nhiều công sức và thời gian so với những
học sinh khá, giỏi ở lớp.
Sự yếu kém của học sinh trong phân môn làm văn có nhiều biểu hiện khác
nhau nhưng nhìn chung thường có những biểu hiện như sau:
-Nhiều chỗ hỏng kiến thức, thiếu kỹ năng làm văn.
-Việc tiếp thu kiến thức, hình thành kỹ năng chậm
-Năng lực tư duy yếu, thờ ơ với việc học trên lớp; thường xuyên không
chuẩn bị bài trước khi viết bài làm văn, thiếu sáng tạo, thường học và làm theo bài

- Lỗi về đoạn văn:
Do chưa nắm vững được khái niệm, nội dung và nhiệm vụ của đoạn văn,
hoặc do nắm lí thuyết nhưng ít được thực hành nên nhiều học sinh chưa biết viết
các đoạn văn. Đa số học sinh thường không có ý thức về dựng đoạn, ngắt đoạn nên
cứ viết dài dài rồi chấm xuống dòng, không cần chủ đề, không cần liên kết.
5
- Lỗi về bố cục văn bản:
Nhiều bài làm văn của học sinh thiếu sự cân đối, hài hòa giữa ba phần mở
bài - thân bài - kết bài. Nguyên nhân là do các em không biết cách mở bài, kết bài
cũng như không biết triển khai thân bài như thế nào cho phù hợp. Cá biệt, có em
viết liền một mạch từ đầu đến cuối, không hề chia phần, chia đoạn. Do đó, bố cục
của bài văn thiếu chặt chẽ, logic, không phù hợp với kết cấu của một bài làm văn.
- Lỗi về tìm ý và lập dàn ý:
Đây là loại lỗi rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến kết quả bài làm của học
sinh. Nhiều học sinh ngơ ngác trước một đề bài làm văn do hạn chế về vốn từ, vốn
sống, khả năng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng cùng với thói quen lười suy nghĩ,
do không tìm được ý, không biết phải viết gì. Có học sinh khi nghĩ ra được một vài
điều thì cứ đặt bút xuống viết ngay, không bận tâm đến khâu lập dàn ý. Vì thế, bài
viết của các em thường rơi vào tình trạng thiếu ý, lạc ý, lạc đề.
- Lỗi về diễn đạt và lập luận:
Loại lỗi này có liên quan mật thiết với lỗi dùng từ, lỗi về tìm ý và lập dàn ý.
Đọc các bài làm văn của học sinh, chúng ta thường bắt gặp lối diễn đạt dàn trải, dài
dòng và cách lập luận không lôgic, chặt chẽ. Có khi chỉ với một ý nhỏ mà học sinh
cứ loanh quanh nhắc đi nhắc lại, không sao tìm được “lối ra”, không biết làm thế
nào để chuyển sang ý khác. Nhìn chung, rất hiếm có những bài làm của các em thật
sự thể hiện tính độc đáo, sáng tạo.
2. Tình hình dạy Làm văn của giáo viên ở trường phổ thông
Nhìn chung, chương trình và sách giáo khoa mới đã có nhiều thay đổi tích
cực theo hướng phát huy vai trò chủ thể năng động, tự giác của người học. Tuy
nhiên, việc dạy học làm văn ở trường phổ thông không phải là không gặp khó khăn.

học tập” [19, tr.281]. Đây cũng chính là nguyên tắc cốt lõi của quá trình đổi mới
7
phương pháp dạy học nói chung và dạy học Làm văn nói riêng. Theo nguyên tắc
này, việc dạy học phải hướng vào học sinh, phát huy cao độ tính tích cực học tập
của học sinh. Tính tích cực học tập ấy được biểu hiện ở những dấu hiệu cụ thể như:
hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, mạnh dạn tranh luận, bổ sung các câu trả
lời của bạn, thích bày tỏ suy nghĩ, quan niệm, thái độ của mình trước vấn đề đặt ra,
tập trung chú ý vào vấn đề đang học, hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ
những vấn đề chưa đủ rõ, chủ động vận dụng kiến thức và kĩ năng đã học để nhận
thức vấn đề mới, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản chí trước khó khăn…
Việc tích cực hóa hoạt động làm văn của chủ thể học sinh đòi hỏi người giáo
viên Ngữ văn phải có năng lực sư phạm vững vàng để biết cách kết hợp nhuần
nhuyễn các phươn pháp khác nhau, biết linh hoạt giải quyết các tình huống nảy
sinh trong quá trình dạy học một cách thuyết phục, có hiệu quả. Xác lập vai trò chủ
thể tích cực của học sinh hoàn toàn không có nghĩa là hạ thấp vai trò của người
giáo viên. Trái lại, người giáo viên có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng,
gợi mở, điều khiển quá trình chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng làm văn cho
học sinh. Vấn đề là phải tạo được sự chuyển hóa bên trong học sinh, phải biến
những hoạt động của học sinh thực sự trở thành hoạt động tìm hiểu và sáng tạo.
Dưới sự điều khiển của giáo viên, học sinh sẽ tự mình chiếm lĩnh tri thức một cách
chủ động, tự giác, hình thành phương pháp học tập khoa học. Đây chính là yếu tố
cơ bản có tính quyết định đến chất lượng và hiệu quả học tập.
Muốn tích cực hóa hoạt động làm văn của chủ thể học sinh, cần tạo ra được
nhu cầu giao tiếp ở các em. Kinh nghiệm cho thấy, học sinh không thể nói được,
viết được khi các em không có nhu cầu giao tiếp. Bởi vậy, cái khó đối với người
giáo viên là ở chỗ phải tạo được những tình huống giao tiếp lôi cuốn, hấp dẫn học
sinh. Những tình huống ấy sẽ kích thích tư duy độc lập sáng tạo, hình thành ở các
em kĩ năng giải quyết vấn đề. Khi HS đã thật sự “nhập vai” trong một tình huống
giả định nào đó, các em sẽ có nhu cầu biểu đạt, sẽ thể hiện chân thật những suy
8

điểm, khắc phục nhược điểm. giáo viên cần phải biết chắc lọc từ bài làm văn củahọc
sinh những cái hay – dù là bé nhỏ – bên cạnh những thiếu sót, hạn chế để cổ vũ học
sinh, thúc đẩy các em cố gắng. Lời khen của giáo viên có ý nghĩa và giá trị to lớn, góp
phần tạo niềm hứng thú, say mê cho các em trong học tập và rèn luyện. Tấm lòng rộng
mở yêu thương, thái độ ân cần tận tụy, những lời động viên chân thành đúng lúc sẽ
giúp các em có nghị lực để phấn đấu vươn lên.
Tóm lại, tích cực hóa hoạt động làm văn của chủ thể học sinh là một nguyên
tắc dạy học đòi hỏi sự nỗ lực của cả giáo viên lẫn học sinh. Muốn đổi mới cách học
phải đổi mới cách dạy. Thực tế cho thấy cách dạy chỉ đạo cách học nhưng ngược
lại thói quen học tập của trò cũng có ảnh hưởng tới cách dạy của thầy. Có trường
hợp trò đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng thầy chưa đáp ứng được. Cũng
có trường hợp thầy hăng hái áp dụng phương pháp tích cực nhưng thất bại vì trò
chưa thích ứng, vẫn quen với lối học thụ động. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì cách
dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập tích cực chủ
động một cách vừa sức, từ thấp lên cao. Có sự hợp tác giữa thầy và trò, sự phối hợp
giữa hoạt động dạy với hoạt động học, việc dạy học Làm văn chắc chắn sẽ đem lại
hiệu quả khả quan.
2. Nguyên tắc tích hợp trong dạy học Làm văn
Tích hợp là một xu thế tích cực trong việc xây dựng chương trình, sách giáo
khoa các môn học ở nhà trường phổ thông hiện nay. Đối với bộ môn Ngữ văn, tích
hợp có thể được hiểu là sự liên hệ, kết nối các kiến thức, kĩ năng giữa ba phân môn
Văn học – Tiếng Việt – Làm văn nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
Có các phương diện tích hợp như: tích hợp ngang, tích hợp dọc và tích hợp đồng
tâm.
10
- Tích hợp ngang
Tích hợp ngang là thuật ngữ dùng để chỉ sự tích hợp trong việc xử lí mối quan
hệ hàng ngang giữa ba phân môn Văn học – Tiếng Việt – Làm văn trong một bài
học. Đó là sự hỗ trợ, bổ sung, tác động lẫn nhau giữa các phân môn để hình thành
kiến thức và kĩ năng. Theo nguyên tắc này, trong một bài học Ngữ văn, giáo viên

nâng cao hơn.
Như vậy, tích hợp đồng tâm không có nghĩa là sự lặp lại giản đơn hay là sự
chồng chéo, trùng lặp. Tích hợp đồng tâm là một nguyên tắc sư phạm vừa phản ánh
tính tiếp nối và phát triển của hệ thống tri thức và kĩ năng, vừa phản ánh một số quy
luật nhận thức theo trình độ tâm sinh lí lứa tuổi.
Với các phương thức tích hợp nêu trên, chúng ta có thể thấy tác dụng riêng
của từng phương thức một. Nếu tích hợp dọc giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức
và kĩ năng từng phân môn một cách chặt chẽ, lôgic thì tích hợp ngang lại giúp các
em liên hệ, xâu chuỗi kiến thức cả ba phân môn, nhờ đó nắm bắt kiến thức một
cách vững chắc; còn tích hợp đồng tâm sẽ giúp học sinh nắm bắt kiến thức đã học
có tính chuyên sâu hơn. Cả ba phương diện tích hợp này có mối liên hệ chặt chẽ,
gắn bó, hỗ trợ cho nhau.
Tích hợp trong dạy học Ngữ văn nói chung, Làm văn nói riêng có một vai trò
quan trọng do tính hiệu quả của nó. Tích hợp giúp cho việc hình thành và phát triển
các năng lực của học sinh một cách hoàn chỉnh, toàn diện hơn. Nó có vai trò rèn
luyện cho học sinh tư duy phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức
một cách cụ thể và có tính hệ thống để họ có thể làm chủ trong việc vận dụng kiến
thức và kĩ năng của mình vào một bài làm văn cụ thể. Nó giúp học sinh hiểu sâu,
hiểu rộng về vấn đề cần viết, giúp mở rộng phạm vi, đi sâu vào đề tài, khám phá
nhiều cái hay, cái đẹp… Đồng thời, tích hợp cũng sẽ rèn luyện cho học sinh kĩ năng
12
lựa chọn và sắp xếp từ ngữ khi viết, nhờ đó trình độ ngôn ngữ của các em sẽ dần
được nâng cao hơn không chỉ trong văn bản viết mà cả trong giao tiếp thông thường.
Trước đây, Làm văn được tách riêng thành một môn học, có chương trình và
sách giáo khoa riêng. Trong chương trình Ngữ văn hiện hành, Làm văn chỉ là một
hợp phần cùng với Văn học và Tiếng Việt hợp nhất thành môn Ngữ văn theo tinh
thần tích hợp. Là một trong những hợp phần của môn Ngữ văn, Làm văn tất yếu có
liên quan chặt chẽ và chịu sự chi phối, ảnh hưởng qua lại với các phân môn khác
của bộ môn.
Tính tích hợp của hợp phần Làm văn thể hiện chủ yếu ở quan hệ gắn bó với

giờ lên lớp.
Triết học mác-xít quan niệm: “Giữa lí luận và thực tiễn có mối quan hệ biện
chứng, tác động qua lại với nhau, trong đó thực tiễn giữ vai trò quyết định”. Từ
nguyên lí ấy, có thể nhấn mạnh rằng việc dạy học làm văn nói chung, làm văn tự sự
nói riêng theo hướng kết hợp lí thuyết với thực hành, chú trọng khâu luyện tập là
hướng đi đúng đắn. Lí thuyết có tác dụng soi sáng, định hướng cho thực hành. Và
đến lượt mình, thực hành tác động trở lại lí thuyết, bổ sung những vấn đề đặt ra
trong lí thuyết. Không có lí thuyết, thực hành dễ sai lạc. Không có thực hành, lí
thuyết dễ trở thành lí thuyết suông. Dạy làm văn cho học sinh thì không thể dạy lí
thuyết suông, vì mục đích cuối cùng của dạy làm văn là giúp học sinh rèn luyện các
kĩ năng tạo lập văn bản. Điều quan trọng sau mỗi giờ học làm văn chính là học sinh
làm được gì chứ không phải chỉ dừng lại ở chỗ hiểu được gì. Vì thế, giáo viên cần
chú ý dành thời gian thích đáng và có biện pháp hữu hiệu để hướng dẫn học sinh
thực hành, luyện tập trên lớp và ở nhà. Chỉ thông qua thực hành, luyện tập, học
sinh mới rèn luyện và phát triển được kĩ năng. “Học đi đôi với hành” là như thế.
14
Công bằng mà nói, để viết được bài văn hay có thể cần đến ít nhiều năng
khiếu, nhưng đối với nhiều học sinh, đó là kết quả của một sự khổ công tích lũy,
rèn luyện kiến thức và kĩ năng. Thế nhưng, thực tế khảo sát cho thấy đa số học sinh
chưa quan tâm đến việc thực hành, rèn luyện kĩ năng. Do đó, có rất nhiều bài làm
của học sinh phạm vào những lỗi không đáng có. Đó là những lỗi về kiến thức
ngôn ngữ, kiến thức làm văn mà nếu học sinh có ý thức học tập, rèn luyện nghiêm
túc thì không dễ gì mắc phải. Vì vậy, giáo viên cần làm sao để học sinh có ý thức
và chịu khó thực hành, rèn luyện, chịu khó tập nói, tập viết – tập từ cách dùng từ
đến cách đặt câu, viết đoạn…; không ngại tập đi tập lại, sửa đi sửa lại các câu văn,
đoạn văn mình đã viết. Đấy là cả một quá trình thử thách học sinh lòng kiên trì,
nhẫn nại. Nhưng đến một lúc nào đó, học sinh sẽ có được niềm vui vì sự tiến bộ
đáng kể của mình.
Một sự nhìn nhận đúng đắn và đầy đủ về mối quan hệ giữa lí thuyết và thực
hành trong dạy học làm văn sẽ giúp giáo viên xác định được phương pháp dạy học

PHẦN KẾT LUẬN
I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
Làm văn là một hợp phần quan trọng trong môn học Ngữ văn ở nhà trường
phổ thông. Cùng với Văn học và Tiếng Việt, Làm văn góp phần hình thành nhân
cách, năng lực tư duy độc lập sáng tạo của người học. Một trong những mục tiêu
hàng đầu của dạy học làm văn là nâng cao năng lực lĩnh hội và tạo lập các loại văn
bản phục vụ cho quá trình giao tiếp ở học đường cũng như trong cuộc sống.
Để thực hiện tốt các nguyên tắc trong giảng dạy phân môn làm văn ở trường
phổ thông, giáo viên nên:
-Toàn tâm, toàn ý với nghề, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, giáo viên
phải hiểu từng đối tượng học sinh, giáo viên phải biết cách, biết nhiều kỹ năng tạo
ra mối thân thiện giữa các học sinh.
-Giáo viên phải ôn tập, định hướng trước cho học sinh; cân nhắc trước khi ra
đề, chấm cẩn thận, chấm kỉ từ cách dùng từ, đặt câu, diễn đạt, lập luận, viết đoạn,
viết phần mở bài, thân bài, kết bài; ghi nhận những hạn chế của từng học sinh, trả
bài phải có thống kê, so sánh đối chiếu với các bài làm trước đó, nhận xét khách
quan. Nên có phần khen ngợi, động viên những học sinh có tiến bộ.
II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Từ nhận thức về tầm quan trọng và tác dụng to lớn của phân môn Làm văn
cũng như từ thực trạng dạy học phân môn này ở trường phổ thông, bài nghiên cứu
đã đi vào xác lập và luận giải ba nguyên tắc cơ bản cần áp dụng trong dạy học Làm
văn, gồm: nguyên tắc tích cực hóa hoạt động làm văn của chủ thể học sinh, nguyên
tắc tích hợp và nguyên tắc kết hợp lí thuyết với thực hành, chú trọng khâu luyện
tập.
Đề tài có ý nghĩa thực tiễn đối với giáo viên và học sinh trong dạy học môn
Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay góp phần nâng cao hiệu quả dạy học noi
chung.
17
III. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG, TRIỂN KHAI.
Thiết nghĩ những nguyên tắc được đề xuất trên đây cũng mới chỉ là những

Ngữ văn ở trường phổ thông, Tài liệu BDTX cho GVTHPT chu kỳ 2002-2005,
Đại học Quy Nhơn.
13. Mai Xuân Miên (Chủ biên) (2005), Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn
ở THPT, Tài liệu BDGV cốt cán THPT – Dự án phát triển GDTHPT, Bộ
GD&ĐT.
19
14. Nguyễn Quang Ninh (1995), “Quan điểm giao tiếp và việc dạy Làm văn”,
Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, (1), tr. 13-14.
15. Trần Đình Sử (Chủ biên) (2004), Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch
sử, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội.
16. Trần Đình Sử (2008), “Đổi mới mô hình và phương pháp dạy học văn – một
vấn đề cần được suy nghĩ nghiêm túc”, Văn nghệ, (4), tr.10.
17. Đỗ Ngọc Thống (2001), Đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương
pháp dạy học và đánh giá bộ môn Ngữ văn ở trường phổ thông (Tài liệu tập
huấn Ngữ văn giáo viên THPT và THCS).
18. Thái Duy Tuyên (2001), Giáo dục học hiện đại (những nội dung cơ bản),
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
19. Thái Duy Tuyên (2004), “Một số vấn đề cần thiết khi hướng dẫn học sinh tự
học”, Tạp chí Giáo dục (82), tr.24-25.

XÁC NHẬN CỦA BGH TRƯỜNG NGƯỜI VIẾT

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status