MỤC LỤC TRANG
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
2
1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG
ĐỘI TUYỂN HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Người thực hiện: Hoàng Thị Chiên
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2013
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
4
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
4
II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ
TÀI
4
II.1. Những thuận lợi và khó khăn đối với giáo viên khi thực hiện đề tài 4
II.2.Thực trạng chung về việc bồi dưỡng học sinh giỏi và số lượng, chất
lượng giải học sinh giỏi trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài.
5
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÔI ĐÃ VÀ ĐANG LÀM ĐỂ BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI CÓ HIỆU QUẢ
6
III.1. Người giáo viên phải luôn giữ được ngọn lửa nhiệt tình, đam mê với
nghề nghiệp
6
III.11. Gặp gỡ và truyền đạt một số bí quyết để học sinh có thể đạt giải 18
IV. KẾT QUẢ
19
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
22
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
2
1. Ở thời đại nào cũng vậy, người tài đều có vai trò quan trọng, ảnh hưởng
đến sự sống còn của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam ta, điều đó lại càng được khẳng
định rõ nét qua lịch sử của dân tộc.
Người xưa từng nói “ Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí
thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống
thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng
nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên ”(Hiền tài là
nguyên khí của quốc gia - Thân Nhân Trung.)
Tiếp nối truyền thống ấy, ngày nay Đảng và Nhà Nước ta luôn coi giáo
dục là “quốc sách hàng đầu”, luôn xác định “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài” là mục tiêu quan trọng mà ngành giáo dục hướng tới.
Bộ giáo dục và đào tạo đã có rất nhiều chủ trương mới về công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi. Đó là chú trọng tiếp tục xây dựng hệ thống các trường
chuyên một cách hoàn thiện hơn; khuyến khích và tôn vinh những học sinh có
thành tích cao trong học tập; các học sinh có năng khiếu được học với chương
trình nâng cao phù hợp với năng lực và nguyên vọng của các em; những năm
trước, học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia từ giải ba trở lên còn được tuyển
thẳng vào Đại học theo nguyện vọng
Chính vì vậy mà có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là công tác mũi
nhọn và trọng tâm của ngành giáo dục. Nó có tác dụng tích cực, thiết thực và
mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên và kích thích
yêu cầu cao hơn rất nhiều. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ nặng
nề nhưng cũng rất đỗi vinh dự cho người giáo viên khi tham gia bồi dưỡng. Câu
hỏi mà bất cứ ai khi tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi cũng luôn đặt ra là: Làm
thế nào cho thật sự đạt kết quả tốt nhất trong khoảng thời gian hơn mấy tháng
ngắn ngủi? Làm sao để các em phát huy hết năng lực của mình trên một thời
gian làm bài trong ba giờ ấn định ? Làm thế nàơ để công lao vất vả của thầy và
trò không bị uổng phí ? Làm sao để mang lại niềm vinh dự cho bản thân của
các em và thành tích của nhà trường ? Mối băn khoăn đó luôn thường trực
trong suy nghĩ của tôi trong những năm qua.
5. Tôi đã tìm hiểu và tham khảo nhiều sách báo, tìm kiếm trên in-ter-net
để thu thập những kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi THPT. Tôi đã đọc được
những kinh nghiệm quí báu của thầy Đỗ Nguyên Thương ở Sở Giáo dục và đào
tạo Phú Thọ trên báo Văn học và tuổi trẻ số 7+8+9 năm 2012, những kinh
nghiệm của thầy Lê Đức Đồng ở Sở giáo dục và đào tạo Sóc Trăng ( trên báo
Dân trí) nhưng nhìn chung chưa thấy có nhiều chuyên đề trình bày thật sự hệ
thống, thấu đáo, đầy đủ về vấn đề này.Và đặc biệt trong những tài liệu đó chưa
có một số suy nghĩ giống như cá nhân tôi trong quá trình bồi dưỡng học sinh
giỏi.
Với tất cả mọi nỗ lực của mình trong suy nghĩ, tìm tòi, trao đổi, thảo luận
với các đồng nghiệp trong trường và các đồng nghiệp khác trong ngành; cùng
với việc cọ xát thực sự trong thực tiễn trải nghiệm công tác bồi dưỡng học sinh
giỏi văn ở khối 12 qua một số năm học; cùng với cả niềm mong ước và hy vọng
là được trao đổi cùng đồng nghiệp, nhận được sự góp ý chân thành của những
người trong nghề, và góp một phần nhỏ bé của mình trong việc nâng cao chất
lượng giáo dục tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài : Một số kinh nghiệm bồi dưỡng
đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn trung học phổ thông.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
4
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, lớn lao,
+ Bản thân tích cực chịu khó trao đổi với đồng nghiệp trong và ngoài trường để
học hỏi và rút ra được những kinh nghiệm cần thiết áp dụng vào quá trình bồi
dưỡng. Vì thế qua từng năm công tác kinh nghiệm giảng dạy cũng được tích luỹ
phong phú hơn.
- Yếu tố khách quan ảnh hưởng tích cực đến vấn đề liên quan đến đề tài:
+ Ban giám hiệu, lãnh đạo nhà trường có sự quan tâm, động viên đúng mức đến
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi; đồng nghiệp nhiệt tình, hỗ trợ đắc lực trong
giảng dạy
II.1.2. Khó khăn:
- Chất lượng đầu vào (lớp 10) không cao, ít có những học sinh đam mê và có tư
chất văn chương thực sự .
5
- Tài liệu, sách báo tham khảo ở thư viện còn hạn chế. Chưa có đủ tư liệu để học
sinh và giáo viên tham khảo, nghiên cứu một cách thoải mái, dễ dàng.
- Do xu hướng lựa chọn nghề nghiệp gần đây của xã hội mà tinh thần học tập và
sự quan tâm của học sinh chưa cao đối với môn Ngữ văn ( Bởi vì môn Ngữ văn
trong nền kinh tế thị trường có đầu ra khá thấp so với các môn tự nhiên, điều
kiện và cơ hội xin việc làm rất khó đối với những ngành có bộ môn Ngữ văn).
Học sinh sôi nổi tham gia vào đội tuyển học sinh giỏi văn ít so với các đội tuyển
tự nhiên, nhiều em học được văn nhưng lại gặp sự phản đối từ gia đình
- Chất lượng đội tuyển không đồng đều, áp lực trong việc phải có nhiều giải và
đạt giải cao
II.2. Thực trạng về việc bồi dưỡng học sinh giỏi và số lượng, chất lượng giải
học sinh giỏi trước khi thực hiện các giải pháp của đề tài.
Tôi bắt đầu công tác giảng dạy môn Ngữ văn vào tháng 10 năm 2004 tại
trường THPT Quan Hoá, đến tháng 8 năm 2008 tôi chuyển công tác về trường
THPT Triệu Sơn 2. Tính đến nay tôi cũng đã dạy học năm thứ chín. Trong thời
gian dạy học tại trường THPT Quan Hoá tôi cũng đã có hai năm học được giao
trách nhiệm chính trong việc bồi duỡng học sinh giỏi. Tôi cũng đã có nhiều cố
gắng song hiệu quả công việc chưa cao.
Như trên đã nói, thực tế dạy học văn ngày nay gặp rất nhiều rào cản, mà
những rào cản đó xuất phát từ nhiều phía: có thể là do chương trình quá nặng, do
giáo viên dạy kém nhiệt tình, tâm huyết, hoặc do xu hướng, thực trạng của nền
kinh tế thị trường đã khiến nhiều gia đình định hướng cho con em họ không
theo những môn khoa học xã hội trước khá nhiều bất lợi như thế, người giáo
viên phải làm thế nào để dạy tốt môn văn và khiến học sinh yêu thích, say mê?
Đó là câu hỏi làm trăn trở mỗi trái tim, đánh động lương tâm nghề nghiệp của
biết bao thầy cô và cả những nhà quản lí giáo dục.
Cá nhân tôi nhận thấy, muốn làm cho học sinh yêu thích môn Ngữ văn,
nhất là trong thời điểm nhạy cảm này, điều trước tiên là người giáo viên dạy văn
phải luôn giữ được ngọn lửa đam mê của tình yêu nghề nghiệp và thổi bùng
ngọn lửa ấy vào các em học sinh.
Người giáo viên phải thật sự yêu bộ môn văn và xem việc giảng dạy là
trách nhiệm, sứ mệnh cao cả, vinh quang.Bởi vì việc thầy cô yêu nghề, yêu môn
văn sẽ là tiền đề tốt nhất để động viên, khơi gợi hứng thú học tập của học sinh;
đó cũng là động lực để thầy cô cố gắng tìm tòi, suy ngẫm, tìm ra những phương
pháp hợp lí, phù hợp nhất đối với tưng đối tượng học sinh để giảng dạy có hiệu
quả, làm cho các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn chương.
Thật vậy, kinh nghiệm quí giá này tôi rút ra được sau năm học 2006 –
2007, lúc đó tôi còn dạy học ở THPT Quan Hoá.
Thật ra, nói một cách khách quan, chất lượng học sinh miền núi bao giờ
cũng có những hạn chế nhất định so với học sinh miền xuôi. Vì thế mà trong các
kì thi, nhất là thi học sinh giỏi toàn tỉnh thường không có giải hoặc giải không
cao. Tuy nhiên lí do chính là do bản thân tôi chưa có nhiều kinh nghiệm bồi
dưỡng học sinh.
Năm học 2005 - 2006, đội tuyển văn của trường THPT Quan Hoá rất ít vì
không có nguồn từ trước đó. Khi được giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi,
tôi không cho thi mà trực tiếp chọn luôn 03 học sinh ( căn cứ vào kết quả và
năng lực của các em trên lớp). Có thể nói là tôi đã “bắt cóc” ba em vào đội
7
trong quá trình dạy tôi luôn chú ý để tìm ra những hạt nhân sáng giá nhất. Đầu
tiên, tôi chú ý đến những em có đầu vào lớp 10 cao hơn những em khác ( từ 7
điểm trở lên). Sau đó tôi theo dõi quá trình học tập lớp 10, 11 của các em qua
các điểm kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, qua kết quả thi học sinh giỏi
trường (nếu có), rồi gặp gỡ, động viên để tạo nguồn cho đội tuyển.
Bằng việc làm này, hằng năm tôi và đồng nghiệp đã lựa chọn được một số
học sinh có tố chất, yêu thích môn văn để chuẩn bị cho việc thành lập đội tuyển
chính thức khi các em học lớp 12. Ví dụ năm học 2008 - 2009 tôi chọn được 02
em ngay từ lớp 10 đều có lòng đam mê và tố chất học văn là Lê Thị Huyền và
Mai Thị Lạng ( lớp 10A5). Cả hai em này đều trở thành thành viên đội tuyển
học sinh giỏi năm học 2010 - 2011, đều đạt giải cao và đậu Đại học với số điểm
môn văn là 8,0.
III.3. Tiến hành tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi.
8
Tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi là khâu quan trọng bậc nhất quyết
định chất lượng đội tuyển.Vì thế từ năm học 2008 – 2009, khi được giao nhiệm
vụ bồi dưỡng học sinh giỏi ( cùng với một đồng nghiệp nữa), tôi rất chú trọng
việc này. Làm thế nào lựa chọn được những em học sinh yêu và đam mê văn
học? Làm sao chọn lựa được những em có tư chất tốt và siêng năng, cần cù
luyện tập để gặt hái được những kết quả tốt nhất? Những câu hỏi ấy cứ làm tôi
trăn trở mãi. Và tôi cùng với đồng nghiệp đã tiến hành lựa chọn đội tuyển chính
thức bằng cách: cho học sinh đăng kí dự thi tuyển, sau đó tiến hành thi chọn rất
nghiêm túc, chặt chẽ, theo cấu trúc đề học sinh giỏi. Tôi chấm và chọn ra những
bài viết đạt từ 10,0 điểm trở lên ( thang điểm 20). Tiếp tục dạy một thời gian
ngắn (2 tuần), rồi cho thi tiếp vòng 2, chọn lấy 15 em theo thứ tự điểm từ cao
xuống thấp. Tôi lại dạy 2 tuần nữa, chọn ra 12 học sinh. Cuối cùng chọn 10 học
sinh trong đội tuyển chính thức. Lúc này khoảng cuối tháng 11, còn khoảng hơn
3 tháng là đến kì thi.
Chúng tôi tập trung dạy rất tích cực (theo kế hoạch đã chuẩn bị) để một
mặt vừa cung cấp kiến thức cho các em, mặt khác rèn kĩ năng làm bài và giúp
thì không thể tránh khỏi những lúng túng, ngượng ngập trong bài viết bởi thiếu
sự liên hệ, mở rộng, nâng cao.
Vì thế, tôi đã nhắc nhở học sinh đọc thêm những tài liệu có liên quan. Đó
là các tác phẩm tiêu biểu của những tác giả lớn trong chương trình học nhưng lại
không được in trong sách giáo khoa để các em có phông viết rộng hơn, linh
hoạt hơn. Chẳng hạn như khi học Nam Cao, một học sinh giỏi văn không chỉ
biết tác phẩm Chí Phèo, Đời Thừa, Lão Hạc mà cần phải đọc rộng và am hiểu
thêm nhiều truyện ngắn của Nam Cao trước và sau cách mạng tháng Tám. Khi
dạy về đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm, tôi giới thiệu cả trường ca
Mặt đường khát vọng; khi dạy đến Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, tôi
yêu cầu học sinh đọc Đất nước đứng lên; dạy Vợ chồng A Phủ, học sinh cần đọc
cả tập Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
Ngoài việc nắm và cảm thụ tác phẩm văn học, học sinh còn cần phải đọc
các sách nghiên cứu lý luận phê bình về văn học mới thực sự có điều kiện thâm
nhập một cách đầy đủ về tác phẩm đó. Ví dụ khi học thơ Mới với các bài thơ
Vội vàng của Xuân Diệu, Tràng giang của Huy Cận, Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn
Mặc Tử, giáo viên không thể không hướng dẫn học sinh đọc thêm các tập thơ
của Xuân Diệu trước cách mạng tháng tám, tập thơ Lửa Thiêng của Huy Cận,
các tập thơ của Hàn Mặc Tử và cần đọc kỹ cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài
Thanh - Hoài Chân để học tập, cảm nhận những lời bình giảng độc đáo, súc tích.
Và còn nhiều những tài liệu nghiên cứu phê bình của các tác giả nổi tiếng khác
về văn học rất giá trị mà học sinh cần phải đọc.
Tôi còn tăng cường biện pháp kiểm tra, nắm bắt vấn đề tự học và nghiên
cứu của học sinh. Nếu có học sinh chưa thực hiện đầy đủ, còn có những lỗ hổng
kiến thức thì giáo viên phải đôn đốc, nhắc nhở và có biện pháp cần thiết để học
sinh làm việc. Nói tóm lại, không đọc hay đọc ít là một hạn chế rất lớn không
tránh khỏi đối với một học sinh giỏi. Đọc nhiều, đọc rộng sẽ phát huy được
nhiều mặt tích cực nhất là ở những học sinh có ít nhiều năng khiếu văn chương.
III.6. Giáo viên vừa cung cấp, vừa yêu cầu học sinh sưu tầm ghi chép vào
một cuốn sổ riêng những lời nhận định, đánh giá sắc nét, độc đáo của các
(Thế Lữ, lời tựa cho tập Thơ thơ).
- “ Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, khi vui cũng như
khi buồn người đề nồng nàn, tha thiết Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ
Mới” ; “ Với Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất
xưa. Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai xua ai nấy về hạ giới ”
( Hoài Thanh, Thi nhân Việt Nam)
Khi dạy đến chuyên đề Kim Lân và tác phẩm Vợ nhặt, tôi cung cấp cho
học sinh một số nhận định:
- “Kim Lân là người một lòng đi về với đất, với người, với những thuần
hậu nguyên thuỷ của cuộc sống nông thôn” (Nguyên Hồng)
- “Dù kề bên cái đói, cái chết, người ta vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn
hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai”(Kim Lân)
- “Hãy biết sống cả những khi cuộc đời trở nên không thể chịu được
nữa”.
( Lời nhân vật Pa-ven Coóc-sa-ghin trong Thép đã tôi thế đấy của Ô-xtơ-rốp-
xki)
Dạy về Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, để làm
rõ vẻ đẹp trầm mặc của sông Hương, tôi tìm cho học sinh bài Sông Hương một
nét thơ của tác giả Lam Hồ trên Văn học và tuổi trẻ:
“ Sông trầm mặc như muôn đời vẫn thế
Chảy vô tình để bồ kết đưa hương
Nét thơ Đường thả giữa lòng xứ Huế
Hay câu Kiều của dân tộc yêu thương?”
Hay những câu thơ nói lên đặc trưng dòng chảy Hương giang khi qua thành
Huế:
11
“ Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”
( Tạm biệt - Thu Bồn)
Khi dạy chuyên đề “ Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh học sinh sẽ
tập vận dụng để mang lại sự hiệu quả, chất lượng cho bài viết.
III.7. Giáo viên lựa chọn một số chuyên đề quan trọng gắn với chương trình
thi để giúp học sinh đi vào nắm bắt kiến thức của các chuyên đề đó có chiều
sâu và rộng
Đối với bồi dưỡng học sinh giỏi, việc dạy bồi dưỡng theo các chuyên đề
là điều cần thiết và nên làm nhiều nhất để cung cấp kiến thức cho học sinh, đồng
thời giúp các em rèn luyện kĩ năng làm bài tốt hơn.
Qua theo dõi cách ra đề của những năm gần đây, tôi thấy cấu trúc đề
thường là 02 hoặc 03 câu, gồm hai phần chính là nghị luận xã hội và nghị luận
12
văn học, trong đó nghị luận văn học chiếm 2/3 số điểm của đề bài. Phần nghị
luận văn học thường tập trung vào những tác phẩm có tính ngợi ca về con người,
vẻ đẹp đất nước, cách mạng hoặc thiên về những tác phẩm có giá trị hiện thực
và nhân đạo sâu sắc; có khi lại thiên về những tác phẩm mới được đưa vào sách
giáo khoa
Vì thế, trong những năm qua tôi đã biên soạn và dạy cho học sinh một số
chuyên đề. Tôi cùng đồng nghiệp đã tiến hành dạy liên tục, một tuần hai buổi
vào chiều thứ hai và chủ nhật hàng tuần (một buổi dạy hai tiếng rưỡi đến ba
tiếng). Các chuyên đề chính như sau:
Số tt Tên chuyên đề Số buổi
1 Kĩ năng làm văn nghị luận xã hội 2
2 Kĩ năng làm văn nghị luận văn học 3
3 Thơ mới 2
4 Thơ cách mạng trước 1945 2
5 Văn xuôi lãng mạn trước 1945 2
6 Văn xuôi hiện thực trước 1945 3
7 Thơ ca kháng chiến chống Pháp 3
8 Thơ ca kháng chiến chống Mĩ 2
9 Văn xuôi cách mạng 1945 – 1975 3
10 Thơ văn sau 1975 2
Đề 1: Bàn về tính tự lập của con người trong cuộc sống.
Đề 2: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về câu tục ngữ sau: “ Có công mài sắt, có
ngày nên kim”.
Đề 3: Viết một bài văn ngắn ( khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh chị về
câu nói sau: “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự
mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn mình tàn lụi ngay khi còn
sống”(Norman- kusin)
Đề 4: Bài học anh/ chị rút ra được từ câu chuyện sau : Vết nứt và con kiến
Khi ngồi ở bậc thềm trước nhà, tôi nhìn tháy một con kiến đang tha chiếc lá trên
lưng.Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần
Bò được một lúc, con kiến chạm phải một vết nứt khá lớn trên nền xi măng. Nó
dừng lại giây lát. Tôi nghĩ con kiến hoặc là quay lại, hoặc là nó sẽ một mình bò
qua vết nứt đó. Nhưng không. Con kiến đặt chiếc lá ngang qua vết nứt trước,
sau đó đến lượt nó vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá. Đến bờ bên kia, con
kiến lại tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình.( Theo Hạt giống tâm hồn)
Đề 5: Điều quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn.
- Tôi còn nhấn mạnh và lưu ý với học sinh: Làm văn nghị luận xã hội thực chất
là cách kéo gần các em trở về cuộc sống, làm cho các em có những nhận thức
thật đúng đắn, những hành động thật đẹp đẽ, nhân văn, những cách ứng xử thật
phù hợp với đạo lí làm người và phải hành động để góp phần làm cho cuộc
sống này tốt đẹp hơn. Làm văn nghị luận xã hội không phải là để nói khoác rồi
sau đó, khi vừa buông bút ra khỏi tay, ta lại làm ngược lại với những điều ta
viết.(Có học sinh phê phán rất gay gắt tình trạng học sinh trốn học chơi điện tử,
nhưng khi nạp bài xong lại đi ra quán nét ngay; trong phòng thi, có em viết cần
lên án, phê phán hiện tượng tiêu cực trong thi cử nhưng chính mình lại sử dụng
tài liệu ngay trong lúc làm bài nghị luận xã hội đó)
Với các đề ra như vậy hướng vào chuyên đề sẽ kích thích học sinh làm
việc và tư duy một cách toàn diện.
Trong quá trình dạy, tôi cũng rất chú ý đến chuyên đề kĩ năng làm văn
nghị luận văn học. Tôi đã dạy kĩ năng làm bài của một số dạng đề cơ bản mà tôi
từ đó suy ra Một tác phẩm có giá trị nhân đạo là một tác phẩm phải thể hiện
được niềm cảm thông với con người lao khổ; phải nâng niu cái đẹp trong tâm
hồn con người; phải phê phán đấu tranh với cái xấu, cái ác.
+ Khẳng định truyện ngắn Vợ nhặt đã thể hiện khá đầy đủ những đặc điểm đó.
+ Phân tích triển khai cụ thể từng biểu hiện
+ Bàn bạc mở rộng: Điểm đáng nói nhất về giá trị nhân đạo của tác phẩm là nói
lên được niềm tin tưởng sâu sắc của nhà văn vào con người lao động nghèo khổ,
vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ. Tình cảm nhân đạo ở đây
có nhiều nét mới so với các tác phẩm trước cách mạng.
- Kết bài: Kết thúc vấn đề, khẳng định vai trò quan trọng của giá trị nhân đạo
trong tác phẩm văn học nói chung và trong Vợ nhặt nói riêng.
Còn rất nhiều những chuyên đề khác mà tôi không thể nói hết ở đây. Các
chuyên đề khác cách thức tiến hành có nhiều điểm tương tự như các chuyên đề
trên.
15
III.8. Chn lc mt s thi qua cỏc kỡ thi hc sinh gii tnh Thanh Hoỏ, tnh
bn, kỡ thi quc gia qua mt s nm hng dn hc sinh cỏch tip cn ,
nm yờu cu ra, nh hng lp ý v tỡm ý cho mt bi vn ngh lun.
Cú kin thc vn hc v k nng vit l cn thit trong mt bi vn ngh
lun, nhng iu ú cha nhng yu t m bo thnh cụng trong mt bi
vit. iu quan trng trong mt bi vn ngh lun l hc sinh phi xỏc nh c
yờu cu ca ra, nh hng, tỡm ý v lp c dn ý.
Vy rốn luyn cho hc sinh gii trong cụng tỏc bi dng v k nng
ny, giỏo viờn cú th chn mt s thi hc sinh gii quc gia, hc sinh gii
tnh trc õy giỳp hc sinh luyn tp.
Vớ d v mt cõu trong thi hc sinh gii quc gia nm 2008:
Cõu 2 (12,0 im):
Th n vit v tỡnh yờu thng th hin sõu sc bn lnh v ý thc v hnh phỳc
ca chớnh ngi ph n. Hóy phõn tớch, so sỏnh bi th "T tỡnh" (bi II) ca H
Xuõn Hng v "Súng" ca Xuõn Qunh lm rừ nột chung v nột riờng trong
Trong những năm gần đây đề thi học sinh giỏi tỉnh có thêm một câu nghị
luận xã hội. Vì vậy giáo viên bồi dưỡng cũng cần phải chọn lọc những đề nghị
luận xã hội hay và có ý nghĩa sâu sắc để giúp học sinh học tập. ( Phần này có thể
tham khảo mục 7 ở trên, chuyên đề Nghị luận xã hội).
Những đề văn như vậy giáo viên yêu cầu học sinh tự xác định đề, lập dàn
ý cùng với sự định hướng của giáo viên sẽ kích thích các em động não, tư duy
để hiểu ý nghĩa nội dung yêu cầu đề , có cách trình bày ý và các thao tác lập
luận sao cho đầy đủ và thuyết phục nhất.
Đề ra để học sinh luyện tập rất nhiều nhưng khuôn khổ sáng kiến này
không cho phép tôi trình bày dài. Chỉ đơn cử vài ví dụ minh họa. Hướng dẫn và
định hướng cho học sinh theo những cách thức như trên sẽ có ý nghĩa góp phần
khơi gợi, tạo khả năng chủ động cho các em biết tư duy, phân tích, xác định đề
và tìm ý một cách nhanh chóng khi đứng trước một đề văn. Các em sẽ biết cách
đi đúng hướng, chặt chẽ, khai thác khá đầy đủ các ý lớn, nhỏ cần thiết khi làm
bài và vận dụng hợp lý các thao tác lập luận trong một bài văn nghị luận.
III.9. Ra đề làm bài văn trên lớp, kể cả bài viết ở nhà để học sinh viết theo
thời gian ấn định.Giáo viên chấm bài, giúp học sinh phát huy ưu điểm và
khắc phục nhược điểm.
Trong bốn kĩ năng Nghe - nói - đọc - viết, kĩ năng nào cũng quan trọng.
Đối với học sinh, viết bài chính là một trong những kĩ năng quan trọng nhất. Bởi
vì học sinh có thể có kiến thức, hiểu biết rộng nhưng nếu không biết cách diễn
đạt những suy nghĩ, tình cảm và kiến thức của mình thì cũng không có hiệu quả.
Vì thế trong quá trình bồi dưỡng tôi cũng quan tâm đến việc này. Tôi thường
dành riêng một số buổi học, ra đề bài để các em làm từ 150-180 phút. Đề bài tôi
ra thường khá linh hoạt về nội dung, nhưng đều giống với cấu trúc đề thi học
sinh giỏi những năm gần đây. Tôi cũng trực tiếp chấm bài, sửa lỗi cho các em.
Đây là cơ sở để tôi nắm bắt khả năng của học sinh trên nhiều phương
diện, từ cách hiểu đề, xác định yêu cầu của đề ra, tìm ý và lập dàn ý đến cách
hành văn trong một bài làm cụ thể. Năng lực viết và cảm thụ văn học của học
sinh cũng bộc lộ rõ từ đây.
Tôi còn viết thư động viên, có lúc chỉ cần một mảnh giấy nho nhỏ, một tin
nhắn, hay chỉ đơn giản là gấp một con hạc giấy, một ngôi sao nhỏ tặng các em
kèm theo lời chúc may mắn Nhưng thật bất ngờ, chính những việc làm đó lại là
nguồn động lực vô giá đối với học sinh trên con đường thi cử, thực hiện ước mơ,
và cả trong cuộc sống.
Tôi đã có những kỉ niệm thật xúc động về điều này. Năm học 2009 - 2010
tôi có một học sinh là Nguyễn Văn Dũng lớp 12C4 tham gia thi học sinh giỏi.
Em kể rằng : khi đọc đề xong em thấy không biết bắt đầu từ đâu và ngồi suy
nghĩ. Sau đó em viết lên tờ đề thi một cụm từ ngắn gọn là “ Vì cô Chiên” rồi
dốc hết sức làm bài.Kết quả là em được giải khuyến khích.
Cũng trong năm học này có em Hứa Thị Mai, khi thi vòng cuối cùng vào
đội tuyển chính thức điểm của em gần như thấp nhất. Tuy nhiên căn cứ vào quá
trình học tôi vẫn quyết định cho em vào. Tôi đã gần gũi động viên em rất nhiều.
Năm đó em đạt giải Nhì - giải cao nhất của đội tuyển tính đến thời điểm ấy. Và
cả khi đã là sinh viên, em vẫn gửi về những tình cả đầy yêu thương “ cô ơi, em
cảm ơn cô! Nhờ cô mà em mới có được sự tự tin và tinh thần chiến đấu để có
được thành công”.
Năm học 2010 - 2011, đội tuyển của tôi có em Nguyễn Thị Oanh lớp
12A5 bị sốt và lên thuỷ đậu đúng vào ngày thi. Em nhất định không bỏ thi dù
mặt đỏ bừng, bố mẹ và thầy cô can ngăn. Em nói khi thi xong: “Cô ơi em cũng
không biết mình viết gì nữa, em đã làm hết sức mình thôi cô ạ ”. Kết quả em đạt
giải Ba.
Tôi luôn chân thành với học sinh và không hề coi nhẹ việc động viên các
em vì nó tạo nên hiệu quả không ngờ trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi và gắn
kết tình cảm giữa cô và trò. Đến bây giờ tôi vẫn làm việc này một cách rất tự
nhiên và thường xuyên .
III.11. Gặp gỡ và truyền đạt một số bí quyết để học sinh có thể đạt giải
18
Trước khi đi thi khoảng một tuần, cả tổ sẽ gặp mặt đội tuyển và dành thời
gian liên hoan, tâm sự và ủng hộ cả vật chất lẫn tinh thần cho các em.
học), hầu như các em trong đội tuyển đều đạt từ điểm 8 trở lên. Đây là điều tôi
thực sự rất hài lòng.
- Nếu như từ năm học 2006 - 2007 trở về trước, số lượng giải học sinh
giỏi tỉnh môn văn khá khiêm tốn, chỉ dao động từ 2 đến 4/10 giải thì từ khi áp
dụng các giải pháp của sáng kiến, nhìn chung số lượng và chất lượng giải ngày
càng tăng lên: Năm học 2008 - 2009 đạt 5/10 giải, năm học 2009 - 2010 đạt 8/10
giải, năm học 2010 - 2011 đạt 10/10 giải
Chất lượng và kết quả của đội tuyển môn văn trường THPT Triệu Sơn 2 đã được
Sở Giáo dục Thanh Hoá và các trường bạn đánh giá cao. Đặc biệt là năm học
2010 - 2011 (Năm đó tôi và một đồng nghiệp nữa chịu trách nhiệm chính), đội
tuyển đạt 10/10 giải, xếp thứ 06/109 trường THPT trong tỉnh. Đây là một kết
quả rất đáng mừng, góp phần nâng cao uy tín, chất lượng giáo dục của nhà
trường nói riêng và tỉnh nhà nói chung.
- Những năm qua, các em trong đội tuyển khi thi đại học điểm văn khá
cao. Ví dụ kì thi ĐH năm 2010 lớp chủ nhiệm 12C4 có em Nguyễn Thuý Ngân
7,5điểm ( Đại học sư phạm I Hà Nội), em Ngô Thị Thêm 8,0 điểm ( Học viện
hành chính quốc gia), em Nguyễn Văn Dũng 7,75 điểm ( ĐHKHXH và NV
TPHCM), em Hứa Thị Mai 8,0 điểm ( ĐH lao động xã hội), em Trần Thị Thảo
8,25 điểm ( Cao Đẳng Nội vụ) Năm học 2010 – 2011 lớp 12A5 của tôi dạy có
5 em đạt giải, khi thi đại học số điểm văn cũng rất cao: Lê Thị Huyền 8,0 điểm (
ĐH ngoại ngữ Đà Nẵng), Mai Thị Lạng 8,0 điểm( ĐH kinh tế - luật tp HCM),
Nguyễn Thị Oanh 7,5 điểm ( ĐH thương mại), Nguyễn Thị Nguyệt 8,0 điểm,
Nguyễn Thị Tuyên 7,5 điểm
- Một số học sinh còn tham gia viết bài gửi các báo, tạp chí như Văn học và tuổi
trẻ; Mực tím; Hoa học trò và đã được nhận nhuận bút. Khi sửa bài cho học
sinh, tôi vui mừng nhận ra khả năng cảm thụ, thẩm bình thơ văn của các em đã
tiến bộ rất nhiều
IV.1.2.Về phía giáo viên.
20
Về thực tiễn áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này trong nhà trường đã
nhiều cách thức và phương pháp tối ưu nhất theo mình để giảng dạy, bồi dưỡng
cho các em.
Phương pháp giảng dạy thì phong phú, kiến thức văn chương thì rộng
lớn,nhất là kiến thức gắn với yêu cầu đề thi của học sinh giỏi. Vì vậy trong giới
hạn của chuyên đề này, tôi chỉ khiêm tốn đưa ra một vài suy nghĩ về kinh
nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả mà tôi đã từng bước trải nghiệm
thực tế. Hy vọng rằng những nội dung trong chuyên đề này sẽ là những thông tin
để các đồng nghiệp trao đổi, thảo luận và rút ra được những kinh nghiệm thực sự
quý báu trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi - một công tác rất đỗi nặng nề
nhưng rất vinh dự của người giáo viên.
II. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT
- Đối với các cấp có thẩm quyền: Khôi phục lại chế độ ưu đãi cho học
sinh giỏi các cấp, nhất là học sinh giỏi quốc gia để các em có động lực phấn đấu
rõ ràng hơn.
- Đối với nhà trưòng: Quan tâm đồng bộ và sâu sắc hơn nữa trong việc
đào tạo, bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi Ngữ văn; có giải pháp tài chính hỗ
trợ công tác bồi dưỡng; chọn những giáo viên nhiệt tình, tâm huyết dạy bồi
dưỡng học sinh giỏi hoặc chủ nhiệm lớp khối C, D để phát hiện những học sinh
có tố chất, tạo nguồn cho đội tuyển. Tăng cường gặp gỡ, giao lưu, trao đổi kinh
nghiệm giảng dạy với giáo viên trường khác ở trong huyện, tỉnh và cả tỉnh ngoài
để giáo viên văn có điều kiện học hỏi được những phương pháp tốt, góp phần
vào việc nâng cao chất lượng dạy và học cho nhà trường nói riêng, cho ngành
giáo dục nói chung
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm chưa nhiều mà kiến thức và sự cảm
nhận văn học thì vô cùng nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi
rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô, nhất là những thầy cô trong
cùng bộ môn Ngữ văn để sáng kiến có thể phát huy tính ứng dụng, tính hiệu quả
một cách phổ biến.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hoá, ngày 24/4/2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của