LUẬN VĂN
ĐỀ TÀI: “
Một số biện pháp nâng cao chất
lượng dạy học môn hóa học trung học phổ
thông (Chương 3: Cacbon - Silic sách giáo
khoa Hóa học 11)”
Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học
môn hóa học trung học phổ thông (Chương 3:
Cacbon - Silic sách giáo khoa Hóa học 11)
Trần Thị Hà Thu
cách thụ động, không phát huy được tư duy sáng tạo của người học. Bên cạnh đó, việc kiểm
tra – đánh giá vẫn còn nhiều bất cập. Mặc dù đã hạn chế được tình trạng học thuộc máy móc
theo sách giáo khoa, song về cơ bản, vẫn theo lối học vẫn chỉ để thi. Việc đánh giá học sinh
vẫn nặng về yêu cầu kiến thức, chứ chưa chú trọng đến yêu cầu thực hành, vận dụng kiến
thức, kỹ năng và suy nghĩ sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học cho học sinh. Cũng vì học để
thi mà việc thực hiện các chuẩn kỹ năng cũng như đổi mới phương pháp dạy học trở thành
không cần thiết với đại đa số học sinh cũng như giáo viên. Giải pháp trong tầm giáo viên dạy
môn Hóa học cho những vấn đề này là nghiên cứu một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy
và học.
Trong chương trình Hóa học ở bậc THPT, chương III: Cacbon – silic (sách giáo khoa
Hóa học 11) là chương có nội dung tương đối phong phú về kiến thức hóa học, nhất là các
kiến thức về chất, vật liệu, các kiến thức thực tiễn, công nghệ sản xuất và đởi sống hàng
ngày. Do đó, việc sử dụng nội dung kiến thức trong chương III: Cacbon – silic (sách giáo
khoa Hóa học 11) để vận dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Hóa
học là khả thi.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc đổi
mới, nâng cao chất lượng dạy và học cũng như nhằm củng cố và làm phong phú thêm vốn
kiến thức của mình, tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn
Hóa học THPT (Chương 3: Cacbon – Silic sách giáo khoa Hóa học 11). Kết quả nghiên
cứu của đề tài sẽ làm tài liệu tham khảo cho giáo viên trong giảng dạy môn hóa học ở trường
trung học phổ thông.
2. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
2.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học môn Hóa học trung học phổ thông (chương 3: Cacbon – silic sách
giáo khoa Hóa học 11)
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Các thành tố của quá trình dạy học góp phần thúc đẩy việc nâng cao chất lượng dạy
và học môn Hóa học THPT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
8. Luận cứ đề tài
- Luận cứ lý thuyết: Cơ sở lý thuyết của việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa
học trung học phổ thông.
- Luận cứ thực tiễn: Các số liệu thực nghiệm đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã đề
xuất. Các quan sát về thái độ học tập của học sinh trung học phổ thông.
9. Những đóng góp của đề tài
Đề tài đóng góp một số nội dung sau:
- Nghiên cứu và đề xuất được một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
Hóa học ở trường THPT, đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm tài liệu tham khảo cho giáo viên trong dạy học
môn hóa học ở trường THPT.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục nội
dung luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của của việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học
Chương 2: Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa
học ở THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC MÔN HÓA
HỌC
1.1. Quá trình dạy học
1.1.1. Khái niệm
Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của
người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động
nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Trong đó, hoạt động dạy là sự điều khiển, tổ chức của người giáo viên tối ưu quá trình
học sinh lĩnh hội tri thức để hình thành và phát triển nhân cách người học sinh. Hoạt động
dạy có chức năng kép là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học
Hoạt động học là sự tự giác, tích cực và sáng tạo của người học dưới sự tổ chức, điều
trò lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực:
- Đào tạo nghề có chuyên môn về mặt Hóa học phục vụ cho đời sống, sản xuất, khoa
học xã hội hiện đại phát triển xã hội, đặc biệt cho công cuộc Hóa học hóa đất nước.
- Góp phần vào việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất
nước và coi nền học vấn Hóa học như một bộ phận hỗ trợ
- Góp phần phát triển nhân cách, bồi dưỡng nhân sinh quan XHCN, hình thành các
giá trị tư tưởng đạo đức và lối sống phù hợp với mục tiêu giáo dục nói chung và thích hợp với
trình độ lứa tuổi của học sinh. Đây là nhiệm vụ có tầm quan trọng nhất Hóa học ở bậc phổ
thông.
1.2.2. Nhiệm vụ cơ bản của môn Hóa học và việc dạy học môn Hóa học
1.2.2.1. Nhiệm vụ giáo dục trí dục phổ thông, kĩ thuật tổng hợp
1.2.2.2. Nhiệm vụ phát triển những năng lực nhận thức của học sinh
1.2.2.3. Nhiệm vụ giáo dục tư tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa
Ba nhiệm vụ trên đây có liên quạt chặt chẽ với nhau: thông qua con đường trí dục
giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức một cách toàn diện, giáo dục thế giới quan khoa
học và tư tưởng đạo đức cho HS.
1.3. Kiểm tra, đánh giá trong dạy học
1.3.1. Khái niệm
Kiểm tra có thể được hiểu là sự theo dõi, tác động của người thầy đối với trò nhằm
thu thập số liệu, thông tin cần thiết để đánh giá và nhận xét.
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc
dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu đề ra, nhằm đề
xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và
hiệu qủa công việc. Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu có
quan hệ mật thiết với nhau. Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông
qua kết quả của kiểm tra. Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra- đánh
giá.
1.3.2. Vai trò của kiểm tra, đánh giá trong dạy học
- Đối với học sinh: việc kiểm tra – đánh giá cung cấp kịp thời những thông tin “liên
hệ ngược” có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng.
người giáo viên càng nặng nề và phức tạp hơn. Nguời giáo viên không phải là nguồn phát
thông tin, truyền thụ kiến thức, làm mọi việc cụ thể ở lớp học. Trách nhiệm của người GV là
phải am hiểu HS, tổ chức, hướng dẫn cho các em hoạt động sáng tạo để HS tự học, tự nghiên
cứu trong quá trình học tập.
1.4.3. Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
“Phương pháp tích cực” (active method) là nhắc đến các phương pháp giáo dục/ dạy
học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học. Áp dụng các phương pháp
tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp truyền thống. Phát triển các phương pháp
tích cực là kế thừa, phát triển những mặt tích cực trong hệ thống các phương pháp dạy học đã
quen thuộc, đồng thời phải học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới, phối hợp với
phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật, tính đặc thù của phương pháp dạy học hóa học
để nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học.
1.5. Vai trò của sách giáo khoa với việc dạy học Hóa học
1.5.1. Vai trò của sách giáo khoa
Ở nhà trường trung học phổ thông SGK có những vai trò chủ yếu sau đây:
- SGK cung cấp cho HS hệ thống kiến thức, kỹ năng cơ bản, hiện đại, thiết thực và có
hệ thống theo những quy định trong chương trình môn Hóa học.
- SGK góp phần hình thành ở học sinh phương pháp học tập tích cực, khả năng tự
học, tự nghiên cứu môn học Hóa học.
- SGK còn là công cụ để tạo điều kiện cho học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá kiến
thức, kỹ năng, tự khẳng định khản năng của mình đối với môn học.
- Cuối cùng, SGK còn góp phần chủ yếu trong việc giáo dục toàn diện đạo đức, thẩm
mỹ và nhân cách cho học sinh.
1.5.2. Chức năng của sách giáo khoa
1.5.2.1. Đối với học sinh
- Cung cấp những thông tin về khái niệm, định luật, qui tắc, hiện tương của khoa học
hóa học ở mức độ phổ thông.
- Hình thành và phát triển kĩ năng hóa học.
- Giúp HS tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
- Dùng để tra cứu, tham khảo
Cơ bản
2.1.2. Những chú ý về phương pháp dạy học
Nhóm nguyên tố này được nghiên cứu ngay sau khi HS đã được trang bị các kiến thức
chủ đạo của chương trình (cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, định luật tuần hoàn các
nguyên tố hóa học, lí thuyết về phản ứng hóa học). Vì vậy phương pháp dạy học chương này
phải rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức lí thuyết chủ đạo để dự đoán, giải thích
tính chất của các đơn chất, hợp chất cụ thể để hoàn thiện một số nội dung của kiến thức chủ
đạo.
2.2. Thực trạng về chất lƣợng dạy học môn Hóa học qua quá trình dạy học ở trƣờng
phổ thông hiện nay
2.2.1. Nhiệm vụ điều tra
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học Hoá học ở trường trung học phổ thông.
- Tìm hiểu hứng thú của học sinh với môn hoá học.
- Tình hiểu việc đổi mới chương trình, SGK, các PPDH và hình thức kiểm tra, đánh
giá HS của GV ở trường THPT để nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học.
2.2.2. Nội dung điều tra
Nghiên cứu cụ thể thực trạng về nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học qua quá
trình dạy học ở trường phổ thông hiện nay (Phiếu điều tra đưa vào phụ lục).
2.2.3. Đối tượng điều tra
- 22 giáo viên dạy Hóa học ở trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Thực Nghiệm và
THPT Việt Nam – Ba Lan
- 281 HS lớp 11 ban Cơ Bản tại 6 lớp: 11A8, 11A9 ở trường THPT Nguyễn Trãi
;11A, 11B ở trường THPT Thực Nghiệm và 11A5, 11A6 ở trường THPT Việt Nam – Ba
Lan.
2.2.4. Phương pháp điều tra
- Dự giờ và đánh giá thực trạng phòng thí nghiệm Hóa học ở ba trường THPT
Nguyễn Trãi, THPT Thực Nghiệm và THPT Việt Nam – Ba Lan
- Phát và thu phiếu điều tra cho giáo viên, học sinh về điều tra thực trạng nâng cao chất
lượng dạy học môn Hóa học ở trường THPT hiện nay.
- Gặp gỡ và trao đổi giáo viên của 3 trường về các vấn đề này.
nghiệm hóa học, các phương tiện trực quan, phương pháp nghiên cứu rất ít được sử dụng.
Việc hình thành năng lực giải quyết vấn đề cho HS cũng chưa được GV Hóa học chú ý.
b. Ý kiến của HS
Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là HS trong các giờ Hóa học ít được hoạt động, kể
cả hoạt động cơ bắp và đặc biệt là hoạt động tư duy. HS chưa được trở thành chủ thể của hoạt
động học tập.
Từ những phân tích trên cho phép rút ra một số nhận định chung sau đây: (1) Cần tổ
chức cho HS được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo; (2)
Sử dụng phối hợp nhiều phương pháp dạy học của GV, nhiều hình thức hoạt động của HS
giúp HS được hoạt động chủ động, sáng tạo như phương pháp dạy học nêu vấn dề, dạy học
chương trình hóa (dạy học dự án)
2.2.5.3. Đánh giá về thực trạng đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn
Hóa học
Chúng tôi tiến hành điều tra các tình hình sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá.
GV thường xuyên sử dụng phương pháp: kiểm tra miệng, kiểm tra viết. Các phương pháp
kiểm tra đánh giá mà GV ít hoặc không sử dụng là: Bài tập lớn (theo nhóm), viết bài thu
hoạch, bài thuyết trình, trình diễn, HS tự kiểm tra, đánh giá, bài tập đề án.
2.3. Một số biện pháp nâng cao chất lƣợng dạy và học môn Hóa học ở THPT
2.3.1. Áp dụng dạy học nêu và giải quyết vấn đề trong dạy học Hóa học
2.3.1.1. Quy trình của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
2.3.1.2. Xây dựng các tình huống có vấn đề và hướng giải quyết vấn đề trong khi dạy học
chương 3: Cacbon – Silic (SGK Hóa học 11)
Dựa trên việc nghiên cứu nội dung kiến thức của chương 3: Cacbon - silic (SGK Hóa
học 11 – ban cơ bản) chúng tôi đã xây dựng 10 tình huống có vấn đề có thể sử dụng trong các
bài học của chương.
2.3.2. Áp dụng dạy học dự án trong dạy học Hóa học
2.3.2.1. Khái niệm về dạy học dự án
2.3.2.2. Thiết kế một số dự án trong khi dạy học chương 3 : Cacbon – silic
(1) Vai trò của Cacbon (hoặc Silic) trong cuộc sống?
(2) Dự án vai trò của cacbon và hợp chất của chúng trong cuộc sống
giá. Chúng tôi cũng thiết kế các đề kiểm tra 15 phút và kiểm tra 1 tiết có sử dụng câu hỏi
TNKQ phối hợp với tự luận.
CHƢƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Kế hoạch thực nghiệm
3.1.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm
3.1.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm
Trên cơ sở những nội dung đề xuất ở phần trên, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm
sư phạm nhằm giải quyết một số vấn đề sau:
- Tiến hành các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học trong
chương 3 : Cacbon – silic (SGK Hóa học 11 – Ban Cơ bản) gồm có :
+ Bước đầu đưa ra hệ thống các vấn đề, các tình huống có vấn đề gắn liền với cuộc
sống, môi trường xung quanh được thiết kế trong chương nhằm thông qua các bài học,
hình thành kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức hóa học, hình thành năng
lực giải quyết vấn đề cho HS.
+ Sử dụng phương pháp dạy học theo dự án vào dạy học nhằm nâng cao chất lượng
dạy học, tăng cường tính tích cực chủ động học tập, phát huy hoạt động độc lập, khả năng
tìm kiếm và xử lý thông tin của học sinh trong quá trình học tập môn hoá học, kích thích
HS đi vào con đường học tập tìm tòi sáng tạo.
- Xác định tính hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp. Từ đó, khẳng định mục
đích nghiên cứu của đề tài là thiết thực, cần thiết trên cơ sở lý luận và thực tiễn.
3.1.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
- Đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học Hóa học ở THPT.
+ Nhiệm vụ thứ nhất: đánh giá kiến thức của học sinh trước khi tiến hành thực
nghiệm sư phạm
+ Nhiệm vụ thứ hai: đánh giá kiến thức của HS sau khi tiến hành thực nghiệm sư
phạm, để khẳng định mục đích nghiên cứu của đề tài là thiết thực.
3.1.2. Phương pháp thực nghiệm
“Phương pháp thực nghiệm” chúng tôi sử dụng trong đề tài này là phương pháp
Chúng tôi đã tiến hành các công việc sau:
3.3.1. Thiết kế chương trình thực nghiệm
- Nội dung 1 : Khảo sát mức độ nhận thức của lớp ĐC và lớp TN (kết quả môn Hóa học
năm lớp 10)
- Nội dung 2 : Tiến hành thực nghiệm sư phạm :
+ Tiến hành giảng dạy các giáo án đã soạn trong chương 3: Cacbon – silic, trong đó có
sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề ; phương pháp DHDA. Chúng tôi lựa
chọn những đơn vị kiến thức sau để thực nghiệm : Bài 15 : Cacbon (1 tiết) ; bài 16 : Hợp chất
của cacbon (1 tiết); Bài 17: Silic và hợp chất của silic (1 tiết) ; Bài 18: Công nghiệp silicat (1
tiết).
+ Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi tiến hành kiểm tra 15 phút với các đề kiểm tra đã
thiết kế trong luận văn nhằm đánh giá trình độ của HS qua từng bài học.
+ Kết thúc chương học, chúng tôi tiến hành kiêm tra 45phút với đề kiểm tra đã thiết kế
trong luận văn nhằm đánh giá khả năng tiếp thu và vận dụng kiến thức của HS các lớp ĐC và
TN trong cả chương học.
+ Sau khi tiến hành thực nghiệm ở các lớp, chúng tôi tiến hành phỏng vấn, phát phiếu
phỏng vấn học sinh ở hai lớp TN để thu hồi ý kiến của HS về các biện pháp đã thiết kế trong
chương 2.
3.3.2. Tiến hành thực nghiệm
3.3.2.1. Khảo sát trình độ học tập môn Hóa học ở lớp ĐC và lớp TN
3.3.3.2. Tiến hành các giờ dạy
- Trên cơ sở thống nhất nội dung các giáo án đã soạn, chuẩn bị đầy đủ phương tiện dạy
học, chúng tôi đã tiến hành dạy các bài trong chương III : Cacbon – silic (SGK Hóa học 11 –
Ban cơ bản) đã thiết kế ở các lớp TN. Giáo án soạn theo truyền thống được dạy ở các lớp
ĐC .
- Sau khi kết thúc bài lên lớp, chúng tôi tiến hành kiểm tra 15 phút để đánh giá chất lượng,
xác định kết quả tiếp thu và vận dụng kiến thức của HS sau khi kết thúc hoạt động dạy học
của HS các lớp TN và các lớp ĐC. Hình thức kiểm tra gồm các câu hỏi TNKQ phối hợp với
tự luận đã thiết kế trong chương 2 của luận văn.
- Cuối chương học, chúng tôi tiến hành kiểm tra 45 phút gồm 20 câu hỏi TNKQ phối
Trong các giờ học ở các lớp TN, HS học tập sôi nổi hơn, hứng thú tham gia vào các
hoạt động học tập và nắm vững kiến thức, vận dụng lý thuyết vào việc giải quyết các vấn đề
của bài học nhanh hơn so với HS ở các lớp đối chứng.
3.3.4.2. Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm
a/ Tỉ lệ học sinh yếu, kém, trung bình, khá và giỏi
Qua kết quả thực nghiệm sư phạm được trình bày ở bảng 3 cho thấy chất lượng học
tập của học sinh khối TN cao hơn học sinh khối lớp ĐC, thể hiện:
- Tỉ lệ phần trăm (%) HS yếu kém, trung bình của khối TN luôn thấp hơn của khối
ĐC.
- Tỉ lệ phần trăm(%) HS khá giỏi của khối TN luôn cao hơn của khối ĐC.
b/ Đường luỹ tích
Đồ thị đường luỹ tích của khối TN luôn nằm ở phía bên phải và phía dưới đường luỹ
tích của khối ĐC
Điều này cho thấy chất lượng của lớp TN tốt hơn lớp ĐC.
c/ Giá trị các tham số đặc trưng
- Điểm trung bình cộng của HS khối TN cao hơn của khối ĐC . Cụ thể là ĐTB của khối
TN là 7,5 còn ở khối ĐC là 6,3 với cùng nội dung đề kiểm tra.
- Điểm trung bình cộng qua hai lần kiểm tra trong thực nghịêm của nhóm lớp TN đều
cao hơn so với nhóm ĐC, thể hiện ở t
d
ở tất cả các lần kiểm tra đều lớn hơn t
α (
t
α
=1,96). Điều
này chứng tỏ kết quả lĩnh hội kiến thức của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC.
- Các giá trị CV% của các lớp TN luôn thấp hơn của lớp ĐC. Cụ thể là ở lớp 11A7 (TN1)
và ở lớp 11A8 (TN2) hệ số biến thiên lần lượt là: 26,96% và 19,50% còn ở 2 lớp ĐC 11A9
(ĐC1) và 11A11 (ĐC2) hệ số biên thiến lần lượt là : 29,11% và 26,47% . Điều này chứng tỏ độ
bền kiến thức của HS và mức độ phân tán điểm của HS lớp ĐC rộng hơn của lớp TN, chất
các tiết học sau).
Như vậy, có thể kết luận chắc chắn rằng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
dạy và học môn Hóa học ở chương 3: Cacbon – silic (SGK Hóa học 11 – Ban cơ bản) mang
lại hiệu quả cao, học sinh thu nhận kiến thức chắc chắn, bền vững, khả năng vận dụng kiến
thức linh hoạt, độc lập và phát triển được tư duy tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3
Thông qua thực nghiệm sư phạm, đánh giá việc hoàn thành mục đích nghiên cứu đã
nêu của đề tài. Đồng thời qua đó cũng đánh việc sử dụng biện pháp nâng cao chất lượng dạy
và học môn Hóa học là hoàn toàn phù hợp với học sinh THPT hiện nay. Các số liệu phân tích
cho thấy phương pháp thống kê toán học là hoàn toàn chính xác.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đề tài đã thực hiện được những việc chính sau:
1. Điều tra ý kiến của giáo viên và học sinh về thực trạng đổi mới nội dung, chương
trình và sách giáo khoa; đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của học sinh tại các trường THPT Thực Nghiệm, THPT Nguyễn
Trãi và THPT Việt Nam – Ba Lan.
2. Phân tích cấu trúc chương trình, đề xuất và sử dụng một số biện pháp nâng cao chất
lượng dạy và học môn Hóa học trong chương 3: Cacbon – silic (sách giáo khoa Hóa học 11 –
Ban Cơ bản) bao gồm:
- Lựa chọn và thiết kế được 10 vấn đề, bài tập và tình huống có vấn đề sử dụng trong
các bài dạy trong chương
- Sử dụng biện pháp dạy học dự án theo mô hình dự án nhỏ và trung bình nhằm tăng
cường khả năng tự học, tự nghiên cứu, khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc
sống.
- Lựa chọn và xây dựng được 3 đề kiểm tra 15 phút và 1 đề kiểm tra 1 tiết với hình
thức trắc nghiệm khách quan phối hợp với tự luận để kiểm tra kiến thức của học sinh trong
chương học.
- Đã thiết kế được giáo án sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề,
dạy học dự án và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học.
References
1. Nguyễn Duy Ái- Đào Hữu Vinh. Bài tập hoá học đại cương và vô cơ. Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 2003.
2. Ngô Ngọc An. Bài tập trắc nghiệm hoá học THPT. Nxb Giáo dục, Hà Nội ,2002.
3. Ngô Ngọc An. Bài tập trắc nghiệm hoá học 11. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.
4. ThS. Cao Thị Thiên An. Phân dạng và phương pháp giải bài tập hóa học 11 Phần Vô
cơ. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008.
5. Nguyễn Ngọc Bảo. Phát triển tính tích cực, tự lực của học sinh trong quá trình dạy
học. Bộ Giáo dục và đạo tạo - Vụ giáo viên,1995.
6. Phạm Đức Bình: Phương pháp giải bài tập trắc nghiệm hoá học dùng cho học sinh ôn
thi đại học và cao đẳng, Nxb Đà Nẵng ,2000.
7 Bộ Giáo dục và Đào tạo. Dạy và học tích cực. Một số phương pháp và kỹ thuật dạy
học. Nxb Đại học Sư phạm, 2010.
8. Bộ Giáo dục và đào tạo, 2011. Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục
phổ thông sau năm 2015. Hà Nội.
9. Hoàng Chúng. Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục. Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 1993.
10. Nguyễn Cƣơng. Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông và đại học –
Những vấn đề cơ bản. Nxb Giáo dục, 2007.
11. Nguyễn Cƣơng – Nguyễn Mạnh Dung - Nguyễn Thị Sửu, Phương pháp dạy học hoá
học Tập 1, Nxb Giáo dục , 2000.
12. Nguyễn Văn Cƣờng, Bernd Meier, Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương
tiện dạy học mới, Tài liệu tập huấn dự án phát triển THPT, 2005.
13. Nguyễn Đình Độ - Võ Thị Minh Học. 27 đề kiểm tra trắc nghiệm hoá học 11. Nxb Đại
học Quốc gia, TpHCM, 2007.
14. Cao Cự Giác, Bài tập lí thuyết và thực nghiệm, tập 1-Hoá học vô cơ, Nhà xuất bản Giáo
dục,2005.
15. Cao Cự Giác. Phương pháp giải bài tập hoá học 11 tự luận và trắc nghiệm, Tập 1. Nxb
32. I.F.Kharlamop, Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào, Nhà xuất bản Giáo dục,
1978.