Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học
môn hóa học trung học phổ thông (Chương 3:
Cacbon - Silic sách giáo khoa Hóa học 11)
Trần Thị Hà Thu Trường Đại học Giáo dục
Luận văn ThS. ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (Bộ môn Hóa học)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Kim Long
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Nghiên cứu một số thành tố của quá trình dạy học bao gồm chương trình
và sách giáo khoa đổi mới, phương pháp dạy học, các phương pháp kiểm tra đánh
giá môn Hóa học ở bậc Trung học phổ thông (THPT). Nghiên cứu thực trạng và đề
xuất các biện pháp đổi mới về phương pháp dạy học, các phương pháp kiểm tra đánh
giá kết quả học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học trong
chương 3: Cacbon – silic sách giáo khoa Hóa học ở trung học phổ thông. Tiến hành
thực nghiệm sư phạm (TNSP) tại hai trường THPT Nguyễn Trãi và THPT Việt Nam
– Ba Lan nhằm đánh giá kết quả đạt được và rút ra các bài học cần thiết, các khuyến
nghị cần thực hiện để nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học.
Keywords. Hóa học; Cacbon; Silic; Phương pháp giảng dạy; Chất lượng giáo dục
Content
MỞ ĐẦU
Quá trình dạy và học môn Hóa học trung học phổ thông (chương 3: Cacbon – silic sách
giáo khoa Hóa học 11)
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Các thành tố của quá trình dạy học góp phần thúc đẩy việc nâng cao chất lượng dạy
và học môn Hóa học THPT.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Hóa
học trung học phổ thông.
Vận dụng các biện pháp đã đề xuất vào quá trình dạy học chương 3: Cacbon – Silic,
sách giáo khoa Hóa học 11 (Ban Cơ bản)
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số thành tố của quá trình dạy học bao gồm chương trình và sách giáo
khoa đổi mới, phương pháp dạy học, các phương pháp kiểm tra đánh giá môn Hóa học ở bậc
THPT.
- Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp đổi mới về phương pháp dạy học, các
phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn
Hóa học trong chương 3: Cacbon – silic sách giáo khoa Hóa học ở trung học phổ thông.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) tại hai trường THPT Nguyễn Trãi và THPT
Việt Nam – Ba Lan nhằm đánh giá kết quả đạt được và rút ra các bài học cần thiết, các
khuyến nghị cần thực hiện để nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với điều kiện và khả năng của bản thân, trong luận văn này chúng tôi chỉ tập trung
nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học 11 trung học
phổ thông cụ thể là vận dụng chủ yếu vào chương 3: Cacbon – Silic.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Biện pháp nào cần được đưa ra để nâng cao chất lượng dạy và học Hóa học ở trung
học phổ thông?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu có sự đổi mới về phương pháp, phương tiện dạy và học, phương pháp kiểm tra –
Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của
người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động
nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Trong đó, hoạt động dạy là sự điều khiển, tổ chức của người giáo viên tối ưu quá trình
học sinh lĩnh hội tri thức để hình thành và phát triển nhân cách người học sinh. Hoạt động
dạy có chức năng kép là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học
Hoạt động học là sự tự giác, tích cực và sáng tạo của người học dưới sự tổ chức, điều
khiển của thầy nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học. Từ đó, hình thành cấu trúc tâm lý mới,
phát triển nhân cách của người học.
1.1.2. Các thành tố và các mối liên hệ cơ bản của quá trình dạy học
QTDH thường bao gồm những thành tố sau đây:
- Mục tiêu dạy học (MT)
- Nội dung dạy học (ND)
- PPDH (PP)
- Phương tiện dạy học (PT)
- Đánh giá kết quả dạy học (ĐG)
Các thành tố này có quan hệ mật thiết với nhau: mục đích dạy học định hướng cho các
thành tố khác trong QTDH, mục đích này được hiện thực hóa bằng nội dung dạy học. Người
GV với hoạt động dạy của mình, với những PP, PT, TC tác động đến động cơ của người học
để thúc đẩy người học học tập. Sự tác động lẫn nhau giữa GV và HS sẽ tạo nên kết quả dạy –
học. Như vậy, muốn nâng cao chất lượng dạy học, thì cần phải có sự cải tiến đồng bộ các
thành tố liên quan, nâng cao chất lượng của toàn bộ hệ thống.
1.1.3. Một số định hướng phát triển của quá trình dạy học
Một số định hướng phát triển của QTDH trong thời đại mới này là:
- Học suốt đời: tất cả mọi người cần phải học tập suốt đời vì đó chính là động lực để
phát triển nền kinh tế.
- Bốn trụ cột giáo dục: Học để biết ( bản chất là phải hiểu), học để làm (trên cơ sở
hiểu), học để cùng sống với nhau (trên cơ sở hiểu nhau) và học để làm người (trên cơ sở hiểu
bản thân).
- Xã hội học tập . Hai thành phần chủ yếu của nền giáo dục trong xã hội học tập là
hiệu qủa công việc. Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu có
quan hệ mật thiết với nhau. Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông
qua kết quả của kiểm tra. Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra- đánh
giá.
1.3.2. Vai trò của kiểm tra, đánh giá trong dạy học
- Đối với học sinh: việc kiểm tra – đánh giá cung cấp kịp thời những thông tin “liên
hệ ngược” có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng.
- Đối với giáo viên: việc kiểm tra – đánh giá có hệ thống và kịp thời cung cấp cho
giáo viên những thông tin "liên hệ ngược ngoài" giúp người dạy điều chỉnh hoạt động dạy
- Đối với cán bộ quản lí giáo dục: việc kiểm tra – đánh giá cung cấp cho cán bộ quản
lí giáo dục những thông tin về thực trạng dạy và học ở đơn vị mình.
Như vậy, nếu xem chất lượng của quá trình dạy – học là sự “trùng khớp với mục tiêu”
thì kiểm tra – đánh giá là cách tốt nhất để đánh giá chất lượng của qui trình đào tạo.
1.3.3. Những yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra – đánh giá
1.3.3.1. Tính khách quan
1.3.3.2. Tính phát triển
1.3.3.3. Tính toàn diện
1.3.3.4. Tính thường xuyên và hệ thống
1.4. Những xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện nay
1.4.1. Dạy học lấy người học làm trung tâm
Trong dạy học lấy học sinh làm trung tâm, mục tiêu hướng đến của quá trình dạy học
là chuẩn bị cho HS thích ứng với đời sống xã hội, tôn trọng mục đích, khả năng, hứng thú của
HS. Nội dung dạy học là chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng thực hiện để vận dụng kiến
thức, năng lực giải quyết vấn đề, hướng vào sự chuẩn bị kiến thức cơ bản cho tìm kiếm việc
làm, hòa nhập với xã hội. Học sinh được tham gia vào quá trình kiểm tra, nhận xét đánh giá
kết quả học tập của bản thân (quá trình tự đánh giá), đánh giá nhận xét lẫn nhau. Giáo viên
đánh giá một cách khách quan.
Như vậy, bản chất của “dạy học lấy HS làm trung tâm” là đặt người học vào vị trí
trung tâm của quá trình dạy học, quan tâm đến các phẩm chất, năng lực riêng của từng người
học. Tư tưởng của quan điểm này đang được quán triệt sâu sắc và cụ thể hơn trong phương
1.5.2. Chức năng của sách giáo khoa
1.5.2.1. Đối với học sinh
- Cung cấp những thông tin về khái niệm, định luật, qui tắc, hiện tương của khoa học
hóa học ở mức độ phổ thông.
- Hình thành và phát triển kĩ năng hóa học.
- Giúp HS tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
- Dùng để tra cứu, tham khảo
1.5.2.2. Đối với giáo viên
- SGK quy định phạm vi và mức dộ kiến thức kỹ năng mà giáo viên phải chuyển tải
đến học sinh
- SGK giúp giáo viên có phương hướng hành động trong việc tổ chức các hoạt động
dạy học và khơi gợi, phát huy khả năng tự học của học sinh.
- SGK có chức năng hỗ trợ giáo viên trong việc thiết kế giáo án, tiến hành bài học, tổ
chức điều khiển lớp học, đánh giá học sinh.
1.5.3. Việc biên soạn sách giáo khoa đổi mới
SGK hiện nay đã có sự đổi mới về cả nội dung, phương pháp và cách trình bày. Các
kiến thức khoa học được trình bày ở mức độ cao hơn, yếu tố định lượng nhiều hơn, tăng
cường các nguồn thông tin giúp HS dự đoán, tìm tòi kiến thức. Các khái niệm, định nghĩa đã
được chỉnh sửa và trình bày theo quan điểm hiện đại về lí thuyết và thực nghiệm. Ngoài ra,
còn tăng cường thêm các nội dung công nghệ sản suất, nội dung thực tiễn và vấn đề mối
trường. Sự đổi mới này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho GV thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học Hóa học.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Cơ sơ lý luận của đề tài đã được trình bày gồm có:
1. Quá trình dạy học và một số thành tố trong quá trình dạy học. Một số định hướng
trong quá trình dạy học
2. Vai trò và nhiệm vụ của môn Hóa học và việc dạy Hóa học
3. Kiểm tra, đánh giá trong dạy học Hóa học
4. Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học Hóa học hiện nay
5. Vai trò đặc biệt của SGK trong dạy học Hóa học và việc biên soạn SGK Hóa học đổi
Lan.
2.2.4. Phương pháp điều tra
- Dự giờ và đánh giá thực trạng phòng thí nghiệm Hóa học ở ba trường THPT
Nguyễn Trãi, THPT Thực Nghiệm và THPT Việt Nam – Ba Lan
- Phát và thu phiếu điều tra cho giáo viên, học sinh về điều tra thực trạng nâng cao chất
lượng dạy học môn Hóa học ở trường THPT hiện nay.
- Gặp gỡ và trao đổi giáo viên của 3 trường về các vấn đề này.
2.2.5. Kết quả điều tra
2.2.5.1. Đánh giá thực trạng về đổi mới nội dung chương trình và SGK Hóa học ở trường THPT
a. Ý kiến của GV
Khi nhận xét về chương trình và SGK Hóa học THPT có quá tải đối với HS hay không thì
có tới 86,36% cho rằng chương trình và SGK Hóa học hiện tại ôm đồm và nặng nề đối với HS.
Nhiều GV nhận định về chương trình, nội dung SGK hiện nay vẫn còn thiếu kiến thức nội dung
thực nghiệm, thực tiễn công nghệ và đời sống hàng ngày (chiếm 45,45%). Bên cạnh đó, 27,27%
GV cho rằng thời lượng cho phần luyện tập còn ít. Có 18,18% GV đánh giá về một số bài tập,
câu hỏi còn quá sức với HS.
b. Ý kiến của HS
Tổng hợp 281 phiếu điều tra ý kiến HS của 281 HS THPT của ba trường THPT
Nguyễn Trãi, THPT Thực Nghiệm và THPT Việt Nam – Ba Lan đánh giá về nội dung SGK
Hóa học 11 (Ban Cơ bản) có thể thấy các em gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp xúc với SGK
Hóa học. Có tới 156/281 HS (chiếm 55,52%) cho rằng nội dung kiến thức lí thuyết hóa học
trong SGK tương đối khó hiểu. 67/281 HS (chiếm 23,84%) đánh giá SGK còn ít nội dung
liên quan đến thí nghiệm, thực tiễn công nghệ và đời sống hàng ngày. Có 46/281 HS (chiếm
16,37%) cho rằng các bài tập, câu hỏi còn quá sức với bản thân.
Từ những nhận định từ phía GV và HS, có thể thấy rằng nội dung chương trình và
SGK Hóa học mới còn một số hạn chế cần khắc phục như sau: (1): Các nội dung kiến thức
hóa học cần đưa ra phong phú, có bề rộng, nhưng thật chọn lọc về kiến thức cơ bản, đặc biệt
các kiến thức thực nghiệm, thực tiễn công nghệ; (2): Tăng số lượng bài thí nghiệm hóa học;
(3): Đưa các nội dung hướng dẫn, bước giải chi tiết với một số câu hỏi, bài tập phức tạp, vận
dụng nhiều kiến thức Hóa học
học 11 – ban cơ bản) chúng tôi đã xây dựng 10 tình huống có vấn đề có thể sử dụng trong các
bài học của chương.
2.3.2. Áp dụng dạy học dự án trong dạy học Hóa học
2.3.2.1. Khái niệm về dạy học dự án
2.3.2.2. Thiết kế một số dự án trong khi dạy học chương 3 : Cacbon – silic
(1) Vai trò của Cacbon (hoặc Silic) trong cuộc sống?
(2) Dự án vai trò của cacbon và hợp chất của chúng trong cuộc sống
Nội dung 1: Khí CO với đời sống và môi trƣờng
Nội dung 2: Khí CO
2
có lợi hay có hại đối với đời sống?
Nội dung 3: Thuốc muối và bệnh đau dạ dày
Nội dung 4: Than hoạt tính và một số sản phẩm sử dụng than hoạt tính
2.3.3. Sử dụng các phương tiện trực quan, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông
trong dạy học Hóa học
2.3.4. Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong môn Hóa học
2.3.4.1. Đa dạng hóa hình thức và nội dung kiểm tra đánh giá
2.3.4.2. Thiết kế một số nội dung kiểm tra, đánh giá sử dụng câu hỏi TNKQ phối hợp với tự
luận cho chương 3: Cacbon – silic (SGK Hóa học 11 – Ban Cơ bản)
Dựa trên việc nghiên cứu nội dung kiến thức của chương III: Cacbon – silic (SGK Hóa
học 11 – Ban Cơ bản), chúng tôi đã thiết kế 3 bài kiểm tra 15 phút và 1 bài kiểm tra 45 phút
có sử dụng hình thức TNKQ phối hợp với tự luận. Chúng tôi tuyển chọn và xây dựng câu hỏi
TNKQ phối hợp với tự luận dựa trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu, nội dung cần kiểm tra với số
lượng câu hỏi theo tỷ lệ phù hợp 3 mức độ của nội dung Hóa học: biết, hiểu, vận dụng.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2
Trong chương này, chúng tôi đã nghiên cứu một số nội dung chính sau:
1. Phân tích nội dung chương trình chương III: Cacbon – silic (SGK Hóa học 11 – Ban Cơ
bản)
2. Điều tra ý kiến của GV Hóa học và HS ở ba trường THPT Thực Nghiệm, THPT Nguyễn
Trãi và THPT Việt Nam – Ba Lan về thực trạng đổi mới nội dung, chương trình và SGK, đổi
dạy và học Hóa học ở THPT.
+ Nhiệm vụ thứ nhất: đánh giá kiến thức của học sinh trước khi tiến hành thực
nghiệm sư phạm
+ Nhiệm vụ thứ hai: đánh giá kiến thức của HS sau khi tiến hành thực nghiệm sư
phạm, để khẳng định mục đích nghiên cứu của đề tài là thiết thực.
3.1.2. Phương pháp thực nghiệm
“Phương pháp thực nghiệm” chúng tôi sử dụng trong đề tài này là phương pháp
thực nghiệm đối chứng.
3.1.3. Địa bàn và đối tượng thực nghiệm sư phạm
Để tiến hành tốt những nội dung đã biên soạn ở phần trên chúng tôi đã tiến hành
TN sư phạm ở 2 loại lớp có trình độ tương đương: Lớp dạy không áp dụng các biện pháp
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học (lớp ĐC); Lớp dạy có áp dụng các
biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học đã đề xuất (lớp TN).
Địa bàn TN: Chúng tôi đã tiến hành TN tại trường THPT Nguyễn Trãi và THPT
Việt Nam – Ba Lan ở khối lớp 11 chương trình cơ bản.
STT
Trƣờng THPT
Lớp TN
Lớp ĐC
Giáo viên TN
1
Nguyễn Trãi
11A7
11A9
Nguyễn Diệu Thu
2
Việt Nam – Ba Lan
11A8
11A11
Trần Thị Hà Thu
Ban cơ bản) đã thiết kế ở các lớp TN. Giáo án soạn theo truyền thống được dạy ở các lớp
ĐC .
- Sau khi kết thúc bài lên lớp, chúng tôi tiến hành kiểm tra 15 phút để đánh giá chất lượng,
xác định kết quả tiếp thu và vận dụng kiến thức của HS sau khi kết thúc hoạt động dạy học
của HS các lớp TN và các lớp ĐC. Hình thức kiểm tra gồm các câu hỏi TNKQ phối hợp với
tự luận đã thiết kế trong chương 2 của luận văn.
- Cuối chương học, chúng tôi tiến hành kiểm tra 45 phút gồm 20 câu hỏi TNKQ phối
hợp với tự luận nhằm mục đích xác định độ bền vững của kiến thức.
- Các đề bài kiểm tra được sử dụng như nhau ở cả lớp TN và lớp ĐC chứng, cùng biểu
điểm và GV chấm.
- Sắp xếp kết quả theo thứ tự điểm từ thấp đến cao cụ thể từ 1 đến 10 và phân loại theo
nhóm:
+ Nhóm giỏi: Điểm 9, 10.
+ Nhóm khá : Điểm 7,8
+ Nhóm trung bình: Điểm 5,6.
+ Nhóm yếu, kém: Điểm 0, 1, 2, 3, 4.
- So sánh kết quả lớp TN và lớp ĐC.
- Kết luận.
3.3.3. Kết quả và xử lý kết quả TNSP
Để đưa ra được những nhận xét chính xác, kết quả kiểm tra được xử lí bằng phương
pháp thống kê toán học theo thứ tự các bước như sau: Lập bảng phân phối: tần suất, tần suất
luỹ tích; Vẽ đồ thị đường luỹ tích theo bảng phân phối tần suất luỹ tích; Tính các tham số
thống kê đặc trưng (áp dụng các công thức tính
X
, m, S
2
, S, V, t
d
, p đã nêu trên ta tính được
các tham số đặc trưng thống kê theo từng bài dạy của hai đối tượng TN và ĐC).
α
=1,96). Điều
này chứng tỏ kết quả lĩnh hội kiến thức của nhóm TN cao hơn nhóm ĐC.
- Các giá trị CV% của các lớp TN luôn thấp hơn của lớp ĐC. Cụ thể là ở lớp 11A7 (TN1)
và ở lớp 11A8 (TN2) hệ số biến thiên lần lượt là: 26,96% và 19,50% còn ở 2 lớp ĐC 11A9
(ĐC1) và 11A11 (ĐC2) hệ số biên thiến lần lượt là : 29,11% và 26,47% . Điều này chứng tỏ độ
bền kiến thức của HS và mức độ phân tán điểm của HS lớp ĐC rộng hơn của lớp TN, chất
lượng của lớp thực nghiệm luôn tốt hơn chất lượng lớp đối chứng. Mặt khác, CV% nằm
trong khoảng 10-30% , vì vậy kết quả thu được đáng tin cậy.
- Để đánh giá độ tin cậy của số liệu trên chúng tôi so sánh các giá trị
X
của lớp TN và
ĐC bằng chuẩn Student. Phép thử Student cho phép kết luận sự khác nhau về kết quả học tập
giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng là có ý nghĩa hay không.
Độ tin cậy t
d
ở cả hai lần kiểm tra trong TN lần lượt là : 3,49 (lớp TN1-11A7); 3.49
(TN2-11A8). So sánh với giá trị t
α
= 1,96 trong bản phân phối Student, ta thấy tất cả giá trị
độ tin cậy đều lớn hơn giá trị t
α
. Điều này chứng tỏ kết quả lĩnh hội tri thức của nhóm TN cao
hơn nhóm ĐC là đáng tin cậy. Như vậy, có thể nói việc áp dụng các biện pháp nhằm nâng
cao chât lượng dạy và học môn Hóa học trong đề tài này đã mang lại hiệu quả nhất định,
hướng nghiên cứu của đề tài phù hợp với thực tiễn của quá trình dạy học.
3.3.4.3. Nhận xét
Sau khi áp dụng các biện pháp nâng cao chát lượng dạy và học chưong 3: Cacbon – silic
(SGK Hóa học 11- Ban cơ bản), có thể nhận xét sau:
- Với biện pháp đổi mới PPDH (sử dụng dạy học nêu và giải quyết vấn đề, dạy học dự án) và
cường khả năng tự học, tự nghiên cứu, khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc
sống.
- Lựa chọn và xây dựng được 3 đề kiểm tra 15 phút và 1 đề kiểm tra 1 tiết với hình
thức trắc nghiệm khách quan phối hợp với tự luận để kiểm tra kiến thức của học sinh trong
chương học.
- Đã thiết kế được giáo án sử dụng phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề,
dạy học dự án và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học.
3. Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá chất lượng, tính hiệu quả của việc sử dụng
các biện pháp rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn của học sinh.
- Đã tiến hành thực nghiệm sư phạm tại 2 lớp ở trường THPT Nguyễn Trãi và 2 lớp ở
trường THPT Việt Nam – Ba Lan.
- Xử lý các số liệu thực nghiệm sư phạm bằng phương pháp thống kê toán học trong
khoa học giáo dục, phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm để có được những kết luận mang
tính chính xác, khoa học
- Trao đổi, lấy ý kiến của GV và HS tham gia các lớp thực nghiệm để khẳng định tính
thực tế, tính ứng dụng của đề tài.
Kết quả thực nghiệm đã bước đầu khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học
đề ra và tính khả thi của đề tài nghiên cứu, có thể triển khai trong quá trình dạy học chương 3:
Cacbon – silic (sách giáo khoa Hóa học 11) tại các trường THPT.
2. Khuyến nghị
Qua quá trình nghiên cứu đề tài và tiến hành thực nghiệm đề tài, để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học trong
nhà trường THPT, chúng tôi có một số đề nghị sau:
- Các trường trung học phổ thông cho phép giáo viên thử nghiệm đổi mới các phương
pháp dạy học, đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá để tăng hiệu quả quá trình dạy học.
- Tạo điều kiện về cơ sở vật chất, dụng cụ, hóa chất thí nghiệm, trang thiết bị, phương
tiện dạy học như máy tính, sơ đồ, tranh ảnh, máy chiếu, bản trong…. ; có chế độ đối với GV
trong việc áp dụng các phương pháp dạy học mới và đổi mới kiểm tra – đánh giá.
- Về phía giáo viên: cần chủ động, tích cực trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy
và kiểm tra – đánh giá phù hợp với các đối tượng HS, kích thích HS chủ động, sáng tạo trong
12. Nguyễn Văn Cƣờng, Bernd Meier, Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương
tiện dạy học mới, Tài liệu tập huấn dự án phát triển THPT, 2005.
13. Nguyễn Đình Độ - Võ Thị Minh Học. 27 đề kiểm tra trắc nghiệm hoá học 11. Nxb Đại
học Quốc gia, TpHCM, 2007.
14. Cao Cự Giác, Bài tập lí thuyết và thực nghiệm, tập 1-Hoá học vô cơ, Nhà xuất bản Giáo
dục,2005.
15. Cao Cự Giác. Phương pháp giải bài tập hoá học 11 tự luận và trắc nghiệm, Tập 1. Nxb
Đại học Quốc gia, TpHCM, 2008.
16. Trần Bá Hoành. Đánh giá trong giáo dục, Nxb Giáo dục, 1997
17. Trần Bá Hoành. Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa. Nxb
Đại học Sư phạm, 2007.
18. Nguyễn Văn Hộ - Hà Thị Đức. Giáo dục học đại cương, Tập 1, Nxb Giáo dục, 2002.
19. Lê Văn Năm. Dạy học nêu vấn đề Lý thuyết và ứng dụng. Nxb Đại học Quốc gia, Hà
Nội, 2008.
20. Trần Trung Ninh - Nguyễn Thị Nga. Ôn luyện và kiểm tra hoá học 11. Nxb Đại học
Quốc gia, TpHCM, 2008.
21. Nguyễn Thị Minh Phƣơng, Đề xuất những năng lực học sinh phổ thông Việt Nam cần
đạt, Kỷ yếu hội thảo quốc gia về khoa học giáo dục Việt Nam, Tập 2, Viện KHGD Việt
Nam, 2011
22. Nguyễn Ngọc Quang. Lý luận dạy học hoá học, Tập 1. Nxb GD, Hà Nội, 1994.
23. Nguyễn Thị Sửu, Lê Văn Năm. Phương pháp giảng dạy các chương mục quan trọng
của chương trình, sách giáo khoa hoá học phổ thông (nội dung bài giảng chuyên đề đào
tạo thạc sĩ), 2007.
24. Lâm Quang Thiệp. Giáo dục học đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000.
25. Lê Xuân Trọng (tổng chủ biên). Sách giáo khoa hoá học 11 nâng cao. Nxb GD, Hà
Nội, 2009.
26. Nguyễn Xuân Trƣờng. Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông. NXB GD,
Hà Nội, 2005.
27. Nguyễn Xuân Trƣờng - Nguyễn Thị Sửu - Đặng Thị Oanh - Trần Trung Ninh. Tài
liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên trung học phổ thông chu kì III (2004 -