Mối quan hệ của luật tục với pháp luật trong tự quản cộng
đồng
A- Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Pháp luật nảy sinh từ lịch sử và phát triển theo tiến trình riêng. Pháp luật ra đời từ khi nhà
nước xuất hiện. Xét về phương diện khách quan, nhà nước và pháp luật cùng phát sinh từ
một nguồn gốc, là kết quả của sự phát triển kinh tế và phân hoá xã hội. Xét về phương diện
chủ quan, pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và trở thành một phương tiện
của nhà nước để bảo vệ địa vị của lực lượng thống trị, điều hành và quản lý xã hội.
Trong các tổ chức cộng đồng nguyên thuỷ trước đây, quan hệ giữa các thành viên được điều
chỉnh bằng phong tục tập quán, điều chỉnh các quan hệ bình đẳng giữa các cá nhân trong xã
hội, gọi là luật tục. Nhưng đến khi xã hội có sự phân hoá về giai cấp, nhà nước được hình
thành, quốc gia được xác lập, thì luật tục không còn khả năng điều hành các quan hệ xã hội
vốn luôn phát striển cả về phạm vi, mức độ, và tính chất. Để đáp ứng nhu cầu khách quan
của xã hội đó, một loại quy phạm mới đã ra đời, đó là pháp luật.
Tuy nhiên, trong lịch sử nhà nước và pháp luật luật tục được sử dụng nhiều trong hệ thống
pháp luật của nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến. Trong nhà nước tư sản, luật tục vẫn
tồn tại nhiều, nhất là ở các nước có chế độ quân chủ.
Riêng ở Việt Nam - một quốc gia đa dân tộc, luật tục tồn tại khá nhiều ở các cộng đồng dân
tộc ít người nhưng là nguồn của pháp luật, bảo đảm cho pháp luật mang đậm bản sắc văn
hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam. Hệ thống luật tục giữ vai trò vô cùng quan
trọng trong việc gắn kết cộng đồng, trong tự quản ở cộng đồng dân cư, điều hòa xã hội,
trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc.
Nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em với hơn 2000 năm hình thành và phát triển nên có
nền văn hóa dân tộc rất phong phú và đa dạng. 54 dân tộc là 54 giá trị và sắc thái văn hóa
riêng nhưng lại cùng chung một tình đoàn kết gắn bó trong việc bảo vệ Tổ quốc từ xưa đến
nay.
Nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, người Việt Nam đặc biệt là cộng đồng các
dân tộc ít người đã chịu sự tác động rất lớn từ những mặt trái của xã hội, công tác tự quản
của cộng đồng bản làng, thôn xóm cũng chịu sự tác động đó. Qua những khảo sát sơ bộ cho
thấy, cộng đồng bản làng, thôn xóm cũng như công tác tự quản trong cộng đồng có nhiều
đồng; mối quan hệ giữa luật tục và luật pháp.
- Phân tích các yêu cầu vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng, sử dụng luật tục trong
hệ thống luật pháp.
- Đề xuất các giải pháp vận dụng luật tục trong tự quản cộng đồng, sử dụng luật tục tiến bộ
trong pháp luật hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, về dân tộc và các quan điểm của Đảng về đổi mới Nhà nước và
pháp luật.
Phương pháp nghiên cứu là các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử Mác-Lênin trên cơ sở quán triệt nguyên tắc thống nhất kết hợp giữa lý
luận và thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp xã hội học và luật học
so sánh.
Với quá trình lịch sử phát triển lâu dài và phong phú, đề tài luật tục đã được nhiều nhà khoa
học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Tiêu biểu có một số công trình nghiên cứu
sau:
- "Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam", (kỷ yếu hội thảo khoa học), NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000.
- "Tìm hiểu luật tục các dân tộc ở Việt Nam", GS Ngô Đức Thịnh, NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội 2003.
- "Luật tục Thái ở Việt Nam", GS Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng, NXB Văn hóa dân tộc, Hà
Nội, 2003.
- "Luật tục và vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên; những gợi ý nhăm hòa hợp luật thành
văn và luật tục châu á", John Ambler - Mỹ, Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở
Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000.
4. Kết cấu đề tài:
Bài tiểu luận được chia như sau:
A- Phần mở đầu
B- Nội dung
Chương 1: Khái quát về luật tục:
hủ , lạc hậu, mê tín dị đoan thì sẽ bị Nhà nước cấm đoán. Luật tục có thể tồn tại bằng
truyền miệng hoặc có thể được ghi bằng văn bản. Văn bản luật tục có thể tồn tại dưới hình
thức đơn giản như hương ước, nhưng cũng có thể được xây dựng dưới dạng bộ luật như bộ
luật tục của dân tộc Ê-Đê: 11 chương, 236 điều. Luật tục khác với tập quán thông thường ở
tính bắt buộc thực hiện bởi vì đó chính là pháp luật của các cộng đồng làng xã hoặc của cả
một dân tộc thiểu số.
Luật tục hay tập quán pháp là một hiện tượng phổ biến của nhân loại ở thời kì phát triển
tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay ở nhiều tộc người trên thế giới, châu á và châu
Phi. ở Việt Nam, luật tục của các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt còn tồn tại
khá phổ biến và được nhà nước quan tâm phát triển những bản sắc truyền thống tốt đẹp
cùng với việc thừa nhận chúng là một hình thức pháp luật.
Tuy nhiên, luật tục trên thế giới cũng như ở Việt Nam không hoàn toàn giống nhau mà có
nét riêng biệt về tín ngưỡng, tôn giáo, các quan hệ xã hội và tục lệ của mỗi cộng đồng làng
xã và dân tộc mình.Chính vì thế, khi thừa nhận luật tục, nhà nước luôn phải có sự tìm hiểu
về văn hóa cũng như tục lệ của địa phương để có sự quản lí tốt hơn về việc tự quản cộng
đồng, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội.
1.2. Đặc điểm của luật tục
Luật tục là sản phẩm của những xã hội cổ truyền, phản ánh những điều kiện, đặc điểm
riêng của xã hội đó. Nội dung của luật tục cũng phản ánh những đặc trưng của xã hội cổ
truyền ấy. Đó là các hình thức sở hữu đất đai, rừng núi, mà phổ biến nhất là hình thức sở
hữu của cộng đồng, bản làng.
Luật tục có sự hình thành và phát triển trước luật pháp, các nhà nước chủ nô và phong kiến
trước đây thường sử dụng nó làm tiền đề để xây dựng pháp luật. Hiện nay, luật tục tiến bộ
được coi là một hình thức pháp luật (tập quán pháp) nếu được Nhà nước thừa nhận. Tuy
nhiên, luật tục có những điểm không đồng nhất với luật pháp, thậm chí có những điểm còn
trái ngược với luật pháp.
Giữa luật tục và pháp luật có những điểm tương đồng và cũng có nhiều điểm khác biệt
nhau:
- Sự tương đồng giữa luật tục và pháp luật:
• Trước hết, cả luật tục và pháp luật về cơ bản đều có cùng mục đích là tạo ra sự
còn luật tục chủ yếu là hoà giải, không có hình phạt giam cầm và nhà tù
Đặc trưng của luật tục đó chính là hình thức trung gian giữa hai yếu tố "luật" và "tục". Hay
nói cách khác, nó là hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ và là hình thức sơ khai,
hình thức tiền luật pháp. Chính vì thế, hình thức luật tục này phù hợp với xã hội tiền công
nghiệp, phù hợp với các cộng đồng nhỏ hẹp gắn với từng nhóm tộc người, từng địa phương
cụ thể.
Mặt khác, luật tục cũng chính là tấm gương phản chiếu nhiều mặt của đời sống: môi trường
thiên nhiên và môi trường xã hội, thế giới trần tục và thế giới linh thiêng, quan hệ sản xuất
và phân phối trong xã hội, quan hệ xử lí trong gia đình và dòng họ, tổ chức chính trị xã hội,
tín ngưỡng và tôn giáo, luật pháp và đạo đức Đặc biệt, luật tục tìm cách xử lý những mối
qua hệ giữa xã hội con người với xã hội linh thiêng. Có thể thấy điều đó ở khắp nơi trên thế
giới như luật tục của người theo đạo Do Thái được thể hiện theo kinh Talmud, luật tục của
người theo đạo Kitô được thể hiện trong kinh thánh, luật tục của người theo đạo Hồi được
thể hiện theo kinh Coran Qua các luật tục ấy có thể thấy rằng luật tục không những chỉ
quan tâm tới mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cộng đồng này với cộng đồng
khác trong xã hội loài người mà còn quan tâm xử lý mối quan hệ giữa thế giới trần tục và
thế giới linh thiêng, giữa con người và thần linh.
1.3. Luật tục trong tự quản cộng đồng
1.3.1. Cộng đồng và tính cộng đồng
Khái niệm cộng đồng (community) được sử dụng rộng rãi trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội (như cộng đồng kinh tế châu Âu, cộng đồng các quốc gia Đông Nam á, cộng
đồng các dân tộc Tây Nguyên ). Theo nghĩa này, cộng đồng vừa mang những giá trị chung
mà mỗi thành viên thừa nhận và tuân theo, vừa tôn trọng sự phát triển độc lập của mỗi
thành viên trong các quan hệ hợp tác với nhau. ở Việt Nam, khái niệm cộng đồng được dùng
rộng rãi trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội như cộng đồng dân cư, cộng đồng làng xã, cộng
đồng văn hóa
Theo nhiều nhà khoa học, cộng đồng được hiểu: "là tập hợp người có tính chất một xã hội,
chung sống, có nhiều đặc tính của cải và quyền lợi chung" [5, tr.214]; "là một tập thể có
nhiều thành viên gắn bó với nhau bằng những giá trị chung. Cộng đồng có một sự cố kết nội
tại không phải do những qui tắc rõ ràng, những luật pháp thành văn, mà do những liên hệ
phận còn yếu của xã hội, những khu vực nghèo của đất nước qua việc chuyển giao tài chính
từ ngân sách nhà nước và qua việc nâng cao nhận thức của xã hội với vấn đề cộng đồng.
1.3.2. Vai trò của luật tục và pháp luật trong tự quản cộng đồng
- Pháp luật và luật tục có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Làm rõ nội dung mối quan
hệ đó có ý nghĩa về nhiều mặt, vừa làm phong phú thêm pháp luật vừa đảm bảo hiệu lực
điều chỉnh của pháp luật, phát huy được pháp luật trong hỗ trợ, bổ sung, hoàn thiện luật
tục. Tuy nhiên, vấn đề này rất phong phú và phức tạp nên trong đề tài này tôi chỉ tập trung
làm rõ các nội dung của mối quan hệ trên như sau:
• Thứ nhất, luật tục và pháp luật là những yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc, đều
bị quy định bởi cơ sở kinh tế nhất định trên nền tảng kinh tế xã hội phù hợp. Luật tục
và pháp luật do vậy có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ nhau trong quá trình điều chỉnh
hành vi con người. Pháp luật tác động ở phạm vi rộng, bao quát các quan hệ quan
trọng, cơ bản. Luật tục tác động ở phạm vi hẹp nhưng cụ thể, vì thế mà luật tục như
" cánh tay kéo dài" của pháp luật, hỗ trợ, bổ sung cho pháp luật.
• Thứ hai, luật tục và pháp luật cùng có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội,
cùng hướng đến trật tự xã hội. Nếu pháp luật hướng đến trật tự xã hội chung thì luật
tục hướng đến trật tự cộng đồng; pháp luật tạo lập đồng thuận xã hội thì luật tục tạo
lập, củng cố đồng thuận cộng đồng. Song, trật tự xã hội chỉ có thể tồn tại trên cơ sở
trật tự của các cộng đồng. Ngược lại, trậ tự xã hội được xác lập sẽ làm cho trật tự
cộng đồng thêm vững chắc, ổn định.
• Thứ ba, trong điều chỉnh quan hệ xã hội, pháp luật có vị trí ưu trội hơn luật tục về
hiệu lực, về cơ chế và hình thức. Pháp luật ra đời nhằm duy trì trật tự trong xã hội đã
có sự phân chia thành các giai cấp đối kháng, nên pháp luật có tính giai cấp. Pháp
luật bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp thống trị, đàn áp sự phản kháng của các giai
cấp và tầng lớp khác. Pháp luật được thi hành bằng cưỡng chế của Nhà nước. Là luật
thành văn nên Nhà nước có thẩm quyền ban hành pháp luật theo một thủ tục, trình
tự chung có tính quy phạm chặt chẽ cả về nội dung và hình thức. Pháp luật có hiệu
lực, hiệu quả cao, có tính thống nhất về nội dung và tính phổ biến rộng rãi. Do vậy,
trong mối quan hệ với luật tục, pháp luật có hiệu lực cao hơn, cơ chế điều chỉnh được
định hình chặt chẽ hơn. Trong trường hợp giữa pháp luật và luật tục có sự xung đột
định còn thiếu của pháp luật, tạo điều kiện cho pháp luật thực hiện được vai trò quản
lý xã hội có hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu khách quan trong việc điều chỉnh các
quan hệ phát sinh trong cộng đồng.
• Ba, luật tục có khả năng hỗ trợ cho pháp luật. Thực tế trong nhiều trường hợp các
qui định của pháp luật chưa hẳn được áp dụng và chấp hành chính xác, đầy đủ trong
một cộng đồng dân tộc thiểu số. Trong trường hợp này, pháp luật và sự thực hiện
pháp luật chỉ có thể diễn ra nếu có sự hỗ trợ của luật tục bởi vì luật tục có khả năng
cố kết cộng đồng, khả năng cụ thể hóa, chi tiết hóa các qui định của pháp luật thành
chuẩn mực đạo đức, cách cư xử của cộng đồng. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là mối liên
hệ của luật tục với pháp luật, những khả năng thay thế, bổ sung, hỗ trợ của nó đối
với pháp luật là mối quan hệ chặt chẽ, không thể rách rời, có giá trị to lớn, có ý
nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật ở nước ta hiện nay.
• Bốn, những giá trị tích cực trong hệ thống luật tục của các tộc người thiểu số đã
được đúc kết qua nhiêù thế hệ, là tinh hoa văn hóa dân tộc, có giá trị xây dựng, cố
kết cộng đồng lớn lao. Do đó, trong quá trình nghiên cứu xây dựng hoàn thiện hệ
thống pháp luật quốc gia, bên cạnh khả năng thay thế, bổ sung và hỗ trợ cho pháp
luật thì luật tục còn có thể thành nguồn trong hoạt động xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật, làm phong phú pháp luật. Luật hóa luật tục trở thành một trong các
phương thức xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam mà ĐCS Việt Nam
đã và đang chú trọng tại Nghị quyết 48/NQ - Nghị quyết của bộ Chính trị khóa IX.
Từ sự trình bày trên có thể khẳng định, trong suốt quá trình hình thành và phát triển, hệ
thống luật tục của các dân tộc đã được chắt lọc trở thành tinh hoa, sắc thái riêng của mỗi
tộc người, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam. Với những đặc
điểm riêng, hệ thống luật tục của các tộc người thiểu số luôn có mối quan hệ chặt chẽ với
pháp luật, tạo nên một cơ chế điều chỉnh hoàn chỉnh, đóng vai trò quan trọng trong quá
trình điều chỉnh các quan hệ xã hội, góp phần điều hòa và cân bằng xã hội, giúp cho xã hội
luôn ổn định và phát triển.
Chương 2: Các giải pháp để vận dụng luật tục trong tự quản
cộng đồng
2.1. Mối quan hệ của luật tục và pháp luât trong tự quản của cộng
của xã hội.
Từ mối quan hệ giưa luật tục và pháp luật trong tự quản của cộng đồng có thể thấy luật tục
có vị trí độc lập tương đối với pháp luật. Và từ đây, việc vận dụng trong tự quản của cộng
đồng đòi hỏi một mặt phảI coi trọng pháp luật, đề cao pháp luật, song phải biết phát huy
tính độc lập tương đối của luật tục, cụ thể là chú ý những vấn đề có tính chất phương pháp
luận như sau:
• Một, luật tục trong điều kiện nhất định có khả năng thay thế pháp luật. Pháp luật
có tính thống nhất trong phạm vi quốc gia và phản ánh được trình độ phát triển
chung của xã hội. Song, trính độ phát triển ở từng vùng, từng địa phương là khác
nhau, them chí chênh lệch nhau rất lớn cả về trình độ phát triển, đời sống văn hoá,
tinh thần, do đó không phảI lúc nào ở đâu pháp luật cũng thâm nhập được vào cuộc
sống, cũng có tác dụng điều chỉnh. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những
quy địng của pháp luật trên nhiều khía cạnh còn xa lạ đối với cộng đồng của họ.
Trong khi đó, luật tục với những giá trị tích cực của nó lại tác dụng thay thế cho pháp
luật, đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã
hội cụ thể. Thực tiễn trong giai đoạn hiện nay, ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực khi mà
pháp luật chưa thâm nhập sâu vào trong thực tế thì vai trò của luât tục thay thế
pháp luật là rất cần thiết, nhất là trong tự quản ở cộng đồng dân cư.
• Hai, bên cạnh việc có thể thay thế pháp luật, luật tục trong nhiều trường hợp còn
có khả năng bổ sung cho pháp luật. Trong điều kiện môt quốc gia có nhiều sắc tộc
cùng sống với trình độ phát triển còn khá trênh lệch nhau, với trình độ xây dựng
pháp luật của cơ quan nhà nước còn hạn chế thì pháp luật càng không thể điều chỉnh
hết các tình huống xảy ra trong thực tiễn.
Trong khi đó, mỗi người đã có một hệ thống luật tục được đúc kết, sàng lọc qua
nhiều thế hệ, được kiểm nghiệm qua thực tiễn điều chỉnh các quan hệ trong nội bộ
tộc người đó, và phần nào khẳng định được vai trò điều hoà xã hội có hiệu quả, đáp
ứng yêu cầu khách quan trong việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong cộng
đồng.
• Ba, luât tục có khả năng hỗ trợ cho pháp luật. Thưc tế trong nhiều trường hợp các
quy định của pháp luật chưa hẳn được áp dụng và chấp hành chính xác, đầy đủ trong
lớn trong phạm vi cả nước. Quá trình thực hiện cần lưu ý những bản gốc, những bản
có niên đại càng lâu càng phải sưu tầm kỹ lưỡng hơn.
• Thời điểm sưu tầm theo phương châm thực hiện "càng sớm càng tốt", nếu làm
chậm thì ngoài những tài liệu thành văn vốn viết bằng chữ cổ lại chưa được bảo quản
đúng cách sẽ hư hỏng, thì những già làng, trưởng bản hay những người am hiểu
tường tận về tập quán, luật tục, chữ cổ do lớn tuổi nên khi họ mất đi việc sưu tầm sẽ
càng gặp nhiều khó khăn.
• Các cơ quan chức năng cần phải vạch ra một kế hoạc hợp lý, lộ trình phù hợp, thời
gian phải phù hợp với khối lượng công việc. UBND cấp tỉnh phải kết hợp với Ban dân
tộc miền núi, phòng tư pháp phải kết hợp với phòng văn hóa thông tin cùng điều
hành phối hợp thực hiện.
• Thành phần nhóm sưu tầm, nghiên cứu: mời các nhà khoa học pháp lý ở Viện
Khoa học pháp lý TW, các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, các nhà sử học, luật học
để chủ trì; ở các tỉnh mời các thành viên thuộc các cơ quan chuyên môn tham gia;
mỗi huyện, mỗi xã cử những người có trình độ văn hóa, sự am hiểu về luật tục của
các dân tộc tại địa phương để tham gia nghiên cứu. Ngoài ra, nhóm sưu tầm, nghiên
cứu nên thông qua chính quyền cơ sở và các Trưởng bản, già làng, những người cao
tuổi có vai vế trong làng, bản để tìm hiểu sâu hơn, cụ thể hơn luật tục trong vùng.
Hai là, tiến hành phân loại và đánh giá luật tục trên cơ sở kết quả sưu tầm:
Hệ thống luật tục ở Việt Nam được hình thành, phát triển trên cơ sở nền kinh tế thấp kém,
xã hội còn lạc hậu.Vì vậy hệ thống luật tục đang còn chứa đựng nhiều hạn chế với những hủ
tục lạc hậu, không còn phù hợp thậm chí cản trở sự phát triển của xã hội. Đó là các qui định
về bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị (thể hiện tính bất bình đẳng của luật tục), các lễ nghi
rườm rà, các quan niệm lạc hậu Do đó, vận dụng luật tục trong tự quản ở cộng đồng bản
dân tộc và làng xã nông thôn, vừa phải lược bỏ các hạn chế, các luật tục lạc hậu còn tồn tại
trong xã hội trong cộng đồng đó, vừa phải tiếp thu, cải tiến những qui định mang tính tiến
bộ cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới, vừa phải xây dựng mới các qui định để có thể
điều chỉnh các quan hệ mới nảy sinh trong cộng đồng, đảm bảo cho luật tục luôn phát huy
được vai trò trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Đây là một công việc khó khăn, phức tạp, đòi
hỏi phải thực hiện trong một quá trình lâu dài nhằm tiến tới mục đích là phải nâng cao hệ
Việc đối chiếu thực hiện trên cơ sở những vấn đề sau đây:
• Đối chiếu về phạm vi điều chỉnh: Luật tục trước đây có phạm vi điều chỉnh tương
đối rộng (toàn bản, toàn cộng đồng dân tộc), còn phạm vi điều chỉnh của hương ước
mới ngày nay gắn liền với yêu cầu tự quản của thôn bản nên phạm vi điều chỉnh hệp
hơn. Do đó cần dựa vào đó để thay đổi phạm vi điều chỉnh của luật tục.
• Đối chiếu về đối tượng điều chỉnh: hương ước ngày nay có phạm vi điều chỉnh hẹp
hơn luật tục vì hương ước yêu cầu tự quản trong phạm vi thôn bản. Mặt khác, luật
tục ra đời trong nền kinh tế - xã hội ở trình độ thấp nên đối tượng điều chỉnh còn lạc
hậu so với hương ước.
• Đối chiếu về qui phạm điều chỉnh: Qui phạm điều chỉnh của luật tục thực tế là qui
phạm phong tục tập quán, điều chỉnh các quan hệ xã hội trong một tộc người nhất
định. Do vậy, nếu không đối chiếu qui phạm điều chỉnh của luật tục với hương ước
mới thì sẽ gây ra nhiều khó khăn khi dự thảo hương ước mới.
• Đối chiếu về hình thức thể hiện: Thông thường, nội dung diễn đạt của luật tục
thường là thơ xuôi, tục ngữ, thành ngữ, ít có chế tài và mang tính chất giáo dục, răn
đe là chính. Hương ước mới ngày nay trước hết phải tuân thủ nguyên tắc qui định
của Nhà nước và thường thể hiện dưới hình thức mệnh lệnh hành chính, nên khi vận
dụng để xây dựng hương ước mới cần đối chiếu với luật tục và khi đưa vào vận dụng
cũng cần phải phù hợp với điều kiện thực tiễn.
Như vậy, mục đích của việc đối chiếu nêu trên là nhằm làm cho quá trình vận dụng luật tục
trong xây dựng hương ước mới đi đến thống nhất cả nội dung lẫn hình thức thể hiện ngay từ
ban đầu, sát sao với thực tế và sẽ được cộng đồng đón nhận và thực hiện có hiệu quả hơn.
Sau khi thực hiện quá trình đối chiếu, các cơ quan chức năng cần thực hiện "hương ước hóa"
luật tục:
Về nguyên tắc, việc xây dựng hương ước mới phải đảm bảo tính dân chủ, khách quan trên
cơ sở nền tảng văn hóa, vừa phải tôn trọng các nguyên tắc bắt buộc của pháp luật hiện
hành. Hương ước mới cần phải xây dựng trên tinh thần pháp luật thì khi đó mới trở thành
công cụ quan trọng, bổ sung cho pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong
cộng đồng. Quá trình xây dựng và thực hiện hương ước mới cho cộng đồng là quá trình "luật
tục hóa pháp luật". Nếu khéo léo đưa pháp luật, luật tục vào các qui định của hương ước và
hiện nay chưa hoàn chỉnh, nhiều mặt trong cuộc sống xã hội của các tộc người ở nông thôn
miền núi vẫn chưa được pháp luật ghi nhận. Vả lại, dân trí ở những vùng này chưa cao nên
hiệu lực pháp luật chưa có hiệu quả, người dân đa phần còn xa lạ với các qui định của pháp
luật. Trong tình hình như vậy, cần có những bản hương ước, qui ước mới ra đời nhằm để
điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh mà nhà nước chưa điều chỉnh.
Luật tục là từ đời sống cộng đồng mà hình thành, là hệ thống tri thức về quản lý cộng đồng,
là ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của các tộc người. Xã hội càng hiện đại, càng
phát triển thì việc quản lý từ đơn vị cơ sở càng phải được chú ý. Vấn đề đặt ra hiện nay là
phải kết hợp hài hòa, có sự hỗ trợ, bổ sung giữa luật pháp chung của Nhà nước với luật tục
trong các hoạt động quản lý ở cơ sở và hoạt động tự quản ở cộng đồng bản, làng, thôn, xóm
một cách có hiệu quả.
2.5. Đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật, luật tục trong
nhân dân
Muốn vận dụng có hiệu quả cùng với việc thực hiện pháp luật nghiêm minh đòi hỏi các cơ
quan chức năng phải quan tâm, chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp
luật và luật tục trong nhân dân. Công tác tuyên truyền giáo dục cần được đa dạng hóa về
hình thức, chú trọng chất lượng, nội dung truyền đạt theo các hướng như sau:
- Giáo dục pháp luật, luật tục thông qua hội toàn thể nhân dân, hội nghị đại diện
hộ gia đình.
Đây là một trong những hình thức giáo dục khá phổ biến khi nhà nước cần tuyên truyền một
chính sách nào đó tới nhân dân ở cấp cơ sở. Thông qua hội nghị này, pháp luật, luật tục
(sau khi đã vận dụng thành hương ước, qui ước mới) sẽ đươc giới thiệu thông qua những
nét chính, sau đó sẽ giải đáp những thắc mắc của bà con nhân dân về vấn đề này. Việc
tuyên truyền, giáo dục pháp luật cũng được thường xuyên lồng ghép cùng với các nội dung
trong những hội nghị thôn bản trên, vừa nâng cao ý thức người dân, vừa nâng cao trình độ
cho các trưởng bản, trưởng thôn.
- Giáo dục pháp luật, luật tục thông qua sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thông qua
các lễ hội.
Thông qua các buổi sinh hoạt văn nghệ của chi hội nông dân, chi hội phụ nữ, chi đoàn thanh
niên, ngày lễ hàng năm của địa phương, chính quyền có thể định hướng cho các hoạt động
chính sách về tài chính để nâng cao cuộc sống, đồng thời mở những lớp tập huấn để họ nắm
vững hơn các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là nắm vững những
hương ước mới của thôn bản để trả lời những khúc mắc của dân.
Tóm lại, luật tục có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng, là sự bổ sung không thể
thiếu được của pháp luật nhà nước. Do vậy, việc xem xét mối quan hệ của pháp luật và luật
tục trong tự quản cộng đồng là cần thiết, từ đó vận dụng luật tục tiến bộ dưới hình thức
hương ước mới để luật tục có thể trở thành công cụ hỗ trợ pháp luật trong việc điều chỉnh
các quan hệ xã hội trong nhân dân. Tuy nhiên, công việc này sẽ phải gặp nhiều khó khăn,
bất cập nên rất cần sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền Trung Ương cùng với sự
đồng thuận của cán bộ cơ sở và quần chúng nhân dân. Khi đó, mối quan hệ giữa luật tục và
pháp luật trong tự quản cộng đồng sẽ trở thành mối quan hệ khăng khít, thúc đẩy nhau
trong quá trình nâng cao và phát triển xã hội.
C - Kết luận
Trong kho tàng văn hóa, lịch sử của dân tộc, luật tục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong
việc gắn kết cộng đồng, trong việc giữ gìn và bảo vệ bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, trong hoàn
cảnh phát triển hiện nay, một số nội dung của luật tục không còn tiến bộ nữa nhưng vẫn có
sức ảnh hưởng đáng kể đối với cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng dân tộc ít người.
Hiện nay, đất nước ta đã thực sự hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình hội nhập không chỉ là
giữa Việt Nam và bạn bè quốc tế mà còn là sự hòa nhập về văn hóa truyền thống của chính
dân tộc Việt Nam. Sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta với mục tiêu chiến lược là đẩy mạnh
CNH, HĐH theo định hướng XHCN với nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là CNH, HĐH nông
nghiệp nông thôn. Trong khi đó, luật pháp vẫn chưa hoàn thiện và theo kịp với sự phát triển
xã hội cho nên việc xem xét mối quan hệ giữa luật tục và pháp luật trong tự quản cộng
đồng, từ đó, vận dụng luật tục dưới hình thức hương ước, qui ước mới là rất cần thiết và phù
hợp với hoàn cảnh hiện nay.
Để luật tục được phát huy vai trò quan trọng của mình, góp phần vào quản lý xã hội, quản
lý cộng đồng và giữ gìn bản sắc dân tộc thì các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền cần có
nhận thức rõ bằng những hành động thiết thực đối với hệ thống luật tục hơn nữa. Có như
vậy, vai trò của hệ thống luật tục mới được phát huy, góp phần xứng đáng vào việc xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam./.