Đ
Đ
Ạ
Ạ
I
IH
H
Ọ
Ọ
C
CK
K
I
I
N
N
H
HT
T
À
À
I
IC
C
H
H
Í
Í
N
N
H
HD
D
O
O
A
A
N
N
H
H
GGiiááoo vviiêênn hh ưướớnngg ddẫẫnn :: PPGGSS TTSS SSửử ĐĐììnnhh TThhàànn hh t
t
h
h
ự
ự
c
ch
h
i
i
ệ
ệ
n
n
N
N
g
g
u
u
y
y
ễ
ễ
n
V
V
ũ
ũT
T
h
P
P
h
h
a
a
n
nT
T
h
Đ
Đ
ỗ
ỗT
T
h
N
N
g
g
u
u
y
y
ễ
ễ
n
L
L
ê
êĐ
Đ
ặ
N
N
g
h
ậ
ậ
t
tT
T
â
â
n
n
T
h
h
ị
ịT
T
h
h
ù
ù
y
y
:
:C
C
a
a
o
oH
H
ọ
ọ
c
cN
N
g
g
à
à
y
bởi các sắc lệnh hiến pháp trong các cuộc bầu cử định kỳ xảy ra được mô tả thông qua
thuật ngữ chu kỳ kinh tế chính trị. Sự xuất hiện của những chu kì này là do hành vi cơ
hội của những người đương nhiệm trước khi bầu cử. Các chính trị gia trong chính phủ
thông qua việc thao túng có chiến lược trong các công cụ chính sách và đặc biệt là mở
rộng tài chính nhằm nỗ lực tạo ra các lợi thế kinh tế cho các cử tri. Nghiên cứu thực
nghiệm gần đây đã xác định thao túng có chiến lược các chính sách tài khóa trước khi
bầu cử, thay mặt Chính phủ, trong các nền dân chủ mới thành lập (Brender và
Drazen,2008). Một số các đặc điểm thể chế khác, như tham nhũng và không minh
bạch đã được kiểm định thực nghiệm và tìm thấy ý nghĩa thống kê trong việc giải thích
chu kỳ ngân sách chính trị và cũng có thể đúng cho những quốc gia có cơ chế chính trị
còn non trẻ. Dưới sự sáng tỏ của những phát hiện này, một câu hỏi được đặt ra là liệu
có là những công cụ khác ngoài chính sách tài khóa có thể được áp dụng cho các thao
túng bầu cử trước cử tri mà không có rối loạn quá mức trong cân đối ngân sách của
chính phủ và nó có tồn tại trong nền dân chủ cũ hay không. Chúng tôi cho rằng quy
định kinh tế và các lợi ích kinh tế theo sau được tạo ra thông qua sự can thiệp của
chính phủ vào nền kinh tế có thể là một công cụ. Alesina et al (2008) cung cấp bằng
chứng yếu cho 21 quốc gia mà các cuộc cải cách xảy ra vào lúc bắt đầu của một nhiệm
kỳ mới, kết quả là nó bị giới hạn trong các lĩnh vực nhất định của nền kinh tế và không
liên hệ được với chu kỳ ngân sách chính trị. Họ gán các phát hiện của họ với hiệu ứng
tuần trăng mật trong cải cách những năm qua đã gặp sự phản đối mạnh mẽ. Trong bài
báo này, chúng tôi cung cấp bằng chứng mạnh mẽ cho 30 nền kinh tế OECD trong đó
xu hướng tổng thể tiến tới bãi bỏ quy định làm kiềm hãm các hoạt động kinh tế trong
những năm bầu cử và đó là sự lựa chọn mang t ính chiến thuật của những nhà cầm
quyền. Hơn nữa chúng tôi kiểm định điều này có phải là do cơ chế chính trị còn non
trẻ và tác động của nền dân chủ như m ô tả của Brender & Drazen (2008) hay không.
Kết quả của chúng tôi cho thấy sự kìm hãm các hoạt động kinh tế cũng có mặt trong
nền dân chủ đã được thành lập lâu đời một kết quả kiểm định giả thuyết những quy
định của chính phủ được xem như là một công cụ thay thế cho những thao túng trước
bầu cử.
Drazen & Eslava (2006) và Katsimi & Sarantides (2010) xem xét các hình thức
Quy định như một quá trình tạo ra lợi ích cho
một số ít với toàn bộ chi phí của
toàn xã hội và không chỉ bằng ngân sách của chính
phủ. Blanchard & Giavazzi
(2003) cho ví dụ liên quan đến lợi ích được tạo ra bởi quy
định sản xuất mà cả hai bên là nhà cầm quyền và liên đoàn lao động đều thích bởi vì
liên đoàn lao động là một trở ngại trong quá trình bãi bỏ quy định.
Hơn nữa, như Hillamn & Riley (1985) lập luận "chính sách của chính phủ có
thể tạo ra lợi ích và được bảo đảm, ví dụ các yếu tố đặc biệt trong ngành công nghiệp
được hưởng lợi từ sự bảo hộ của chính phủ, hoặc những nhà sản xuất đòi thặng dư sản
xuất là những
người được
hưởng lợi từ chính sách bảo hộ và điều chỉnh "(p.17). Mô
hình giới thiệu
khái niệm định giá phần thưởng bất đối xứng (trong khái niệm tranh
dành lợi ích chính trị) của các đại lý cạnh tranh. Một giá trị lớn hơn cho phần thưởng
chính trị bởi hành động của người tham gia nào đó được xem như một rào cản gia
nhập cho những người tranh cử này chỉ nhận một
giá trị thấp hơn cho nó. Vì vậy, theo
các tác giả các nhà cầm quyền có lợi thế rõ rệt
hơn các ứng cử viên tiềm năng của họ.
M ột kết luận nổi bật quan trọng là " bảo vệ chuy ển giao thu nhập từ nhóm này sang
nhóm khác, và người thua cuộc từ một chính sách bảo hộ phải chịu một mất mát ngay
.
2. Các nghiên cứu trước đây
Bài nghiên cứu này tập trung vào thuật ngữ chu kỳ ngân sách chính trị bắt
nguồn từ các tài liệu về chu kì kinh tế chính trị xuất hiện vào giữa những năm bảy
mươi. Các giả định trước đây của những tài liệu này là tác động của khái niệm bỏ
phiếu kinh tế. Đó là biến kinh tế đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định
của cử tri trước cuộc bầu cử. M ột số nghiên cứu thực nghiệm đã xác định rằng điều
kiện trước bầu cử này đã có ảnh hưởng lớn đến cuộc bầu cử trong một loạt các quốc
gia. Kramer (1971) tập trung vào cuộc bầu cử quốc hội từ 1896 đến 1964 cho thấy
rằng tổng số phiếu bầu cử cho đảng cầm quyền bị ảnh hưởng tiêu cực bởi tỷ lệ lạm
phát nhưng ảnh hưởng tích cực bởi tốc độ tăng trưởng thu nhập thực tế bình quân đầu
người. St igler (1973) đặt vấn đề tính bền vững của những kết quả này cho cuộc bầu cử
quốc hội một lập luận được giải thích bởi Crain, Deaton và Tollison (1978) như là một
dấu hiệu cho thấy rằng các cử tri không chịu trách nhiệm trước đại biểu quốc hội về
hiệu suất kinh tế vĩ mô. Fair (1978) (được cập nhật trong Fair 1982, năm 1988) lập
luận rằng nếu một liên kết nhân quả giữa hiệu suất kinh tế và đảng cầm quyền được
thành lập thì điều này có thể được phát biểu trong bầu cử tổng thống
3
. Fair phát hiện ra
rằng những thay đổi trong GNP thực bình quân đầu người hoặc tỷ lệ thất nghiệp đã tác
động đến bầu cử tổng thống. Một số nghiên cứu khác đã mở rộng phân tích này cho
các quốc gia khác và đã chứng minh thực nghiệm rằng bầu cử theo lợi ích kinh tế
không chỉ xuất hiện trong cuộc bầu cử Mỹ. M adsen (1980) tìm thấy kết quả tương tự
cho các nước Bắc Âu (Na Uy, Thụy Điển và Đan Mạch), Lewis-Beck (1988) cho Anh,
Pháp, Tây Đức, Ý và Tây Ban Nha.
2
Alesina et al (2008) thông qua ước lượng GLS đã cung cấp bằng chứng yếu
hai công cụ chính sách và kết quả kinh tế với kết quả không đủ mạnh để hỗ trợ cho
mô hình này. M ột loạt các nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra sự tồn tại của PBC trong
hoạt động kinh tế thong qua đo lường GNP và biến động thất nghiệp ở Mỹ và các quốc
gia khác trước khi tới cuộc bầu cử. Alesina, Roubini và Cohen (1997) cung cấp một
bản tóm tắt các kết quả về sự thao túng tình trạng thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế và
kết luận rằng nghiên cứu thực nghiệm cho thấy thiếu bằng chứng t hực nghiệm để ùng
hộ cho lý thuyết vì thế không có bằng chứng cho sự gia tăng các hoạt động kinh tế
trước bầu cử. Lewis-Beck (1988) và Paldam (1979) mở rộng phân tích ra bên ngoài
nước Mỹ một lần nữa không có kết quả có ý nghĩa để xác minh sự gia tăng trong hoạt
động kinh tế. Lạm phát sau bầu cử mà các mô hình dự đoán đã mở rộng mặc dù
thiếu tính phổ biến đem lại tính bền vững cho lý thuyết. Alesina et. al. (1997) tìm thấy
dấu hiệu của lạm phát cao hơn sau bầu cử ở các nước OECD và cho rằng lạm phát sau
bầu cử ở M ỹ là một hiện tượng có thể được nhận thấy trong cuộc bầu cử trước
năm 1979. Bằng chứng về các công cụ chính sách tiền tệ phù hợp với những phát hiện
về lạm phát sau bầu cử. Một số nghiên cứu đã điều tra cung tiền bằng cách
đo lường thay đổi về khối lượng M1. M ột lần nữa Alesina et. al. (1992) tìm thấy bằng
chứng như vậy cho 18 nền kinh tế OECD, Berger và Woitek (1997) cho Đức, và Allen
(1986) cho Mỹ. Grier (1989) và Beck (1987) đã đưa ra phản chứng lên sự gia t ăng
cung tiền M 1 và tranh luận rằng việc lựa chọn trong khoảng thời gian khảo sát thì
quan trọng đối với mức ý nghĩa thống kê của kết quả. Ông kết luận rằng việc thao t úng
như vậy được thể hiện trong dữ liệu cho khoảng thời gian từ năm 1960 và 1980.
Fransese (2006) đã quy kết cho việc thiếu các bằng chứng thực nghiệm để hỗ trợ các ý
tưởng của PBC trong kết quả thực được xem như là một bằng chứng cho thấy các nhà
chính trị ưu tiên cho chính sách mục tiêu và đúng thời điểm (của những nhà ầm quyền
đối với cử tri) chính sách có thể thao túng được (của những nhà cầm quyền), rõ ràng
(cho cử tri) và có thể quy kết (bởi cử tri đối với người đương nhiệm) (p.549).
Các thiếu sót về thực nghiệm trong nghiên cứu về các thao túng hoạt động tiền
tệ để tăng cường khả năng tái tranh cử kết hợp với việc xác định rằng các chính trị gia
ưu ái cho các chính sách nhắm mục tiêu và rõ ràng được kết hợp với việc thao túng
chính sách tài khóa tạo ra chu kỳ kinh tế theo sự biến động chính trị. Tuft e (1978) xác
tế bị bóp méo bởi các chính trị gia tài năng. Hơn nữa, chỉ có anh ấy sẽ được bầu lại.
Nhưng bên cạnh những câu hỏi lý thuyết, một hạn chế nghiêm trọng về nghiên cứu
thực nghiệm được thực hiện là bổ sung thông tin của các nhà chính trị cũng cần thiết
đưa vào để kiểm tra tính dự báo của các mô hình.
Những hạn chế này đã được giải quy ết thông qua một loạt các mô hình dựa trên
lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Persson & Tabellini (2000) và Shi &
Svensson (2002) giới thiệu các mô hình như vậy để phân biệt các mô hình này với từ
các mô hình lựa chọn đối nghịch trước đó với hai vấn đề lớn. Thứ nhất mặc dù mỗi
chính trị gia đều có năng lực riêng, người ta cho rằng năng lực này không quan sát
được kể cả toàn bộ cử tri và các chính trị gia đương thời. Thứ hai là các mô hình mới
đưa ra phạm vi cho các hành động chính sách tài chính ẩn mà cử tri không thể quan sát
được ngay lập tức. Vì vậy, các nhà cầm quyền có thể thay thế những người thiếu năng
lực bằng cách các công cụ thao túng chính sách nhằm phát tín hiệu cho anh ta. Ví dụ
vay mượn trước bầu cử và tăng chuyển giao tài khóa và cung cấp hàng hóa công như
một công cụ làm tăng thu nhập trong hoạt động kinh tế. Cuộc bầu cử diễn ra sau khi
kết hợp các nỗ lực chìm của người đương nhiệm và cuộc sống trở nên sung túc hơn là
kết quả của chính sách tài khóa. Trong trạng thái cân bằng và mặc dù thực tế cử tri biết
ý định của những nhà cầm quyền và động cơ cho các thao túng, vay mượn quá mức có
thể được thể hiện như là sự gia tăng thâm hụt ngân sách trong thời gian trước khi bầu
cử. Sự khác biệt đáng chú ý liên quan đến nghiên cứu thực nghiệm đó là sự tiên đoán
của mô hình cho rằng sự thao túng tài khóa và sử dụng các công cụ chính sách liên
quan không bị giới hạn bởi các ứng cử viên có thẩm quyền cấp độ cao nhưng có thể
được sử dụng bởi tất cả các loại của các chính trị gia.
Các kết quả thực nghiệm ủng hộ chu kỳ kinh tế chính trị không được tin cậy với
các kết quả ít có ý nghĩa thông kê và nói chung là thao túng t iền tệ tác động đến kinh
tế thực thì không có mặt trong dữ liệu dưới sự kiểm định của mô hình. Mặt khác,
nghiên cứu thực nghiệm về chu kỳ ngân sách chính trị đã hiểu rõ trong nhiều năm qua,
với sự trợ giúp đỡ đắc lực của các kỹ thuật kinh tế lượng tiên tiến đã đưa ra các kết quả
bền vững và có ý nghĩa thống kê cho thấy sự hiện diện của các thao túng tài khóa
trước bầu cử dưới hình thức tăng thâm hụt ngân sách.
(2002) trong nghiên cứu ở 43 quốc gia trong giai đoạn này 1950-97 kết luận rằng có
một mối tương quan dương giữa mức độ chu kỳ kinh doanh chính trị dân chủ và minh
bạch là mạnh nhất trong các quốc gia có mức độ dân chủ vừa phải. Cùng với nghiên
cứu Alt & Lassen (2006) cho thấy rằng thao túng tài chính tồn tại giữa các nền dân chủ
tiến bộ trong cơ chế minh bạch ngân sách cũng như sư phân cực của các đảng phái
chính trị. Akhmedov & Zhuravsaya (2004) đưa ra kết luận tương tự về tính minh bạch
trong một bối cảnh của một nền dân chủ "trẻ" với sự chuyển dịch lớn trong chi tiêu
trước bầu cử tương ứng với các khu vực Nga với tính minh bạch thấp hơn.
Persson & Tabellini (2003) trong một phân tích kết hợp 60 nền dân chủ từ
1960 đến 1998 nghiên cứu làm thế nào chu kỳ ngân sách chính trị bị ảnh hưởng bởi
các hình thức chính phủ, tổng thống hoặc quốc hội, và các quy tắc bầu cử, số đông
hoặc tỷ lệ thuận. Họ cho rằng chính sách tài chính bị ảnh hưởng nặng nề bởi chính bản
chất của hệ thống chính quyền như đặc trưng bởi sự khác biệt cơ bản
nói trên. Kết quả của họ chứng minh rằng cắt giảm thuế trước bầu cử là một hiện
tượng phổ biến trong khi các điều chỉnh tài khóa sau bầu cử có thể được tìm thấy ở các
nước có chế độ tổng thống. N goài ra họ thấy rằng quy tắc bầu cử theo tỷ lệ tương quan
với sự gia tăng chi phí trong chi tiêu phúc lợi trong thời gian trước bầu cử
và sau bầu cử. Quy tắc bầu cử theo số đông thì tương quan với cắt giảm chi tiêu trước
bầu cử.
4
Ông ta cũng tìm thấy bằng chứng thiên về thao túng chính sách tiền tệ
Brender & Drazen (2005) trong một bài báo có ảnh hưởng cũng xác nhận sự tồn
tại của chu kỳ ngân sách chính trị, nhưng họ kết luận rằng kết quả này là do tác động
của nền dân chủ mới. Đó là bao gồm trong mẫu các nước có nền dân chủ mới có ý
nghĩa thống kê đối với chu kỳ ngân sách chính trị. M ột khi các quốc gia này được loại
bỏ khỏi mẫu kết quả xuất hiện là không có ý nghĩa thống kê. Trải qua nền dân chủ mới
là điều không thể tránh khỏi cho cả hai nền kinh tế phát triển và kém phát triển hơn và
phản ánh mức độ kinh nghiệm của cử tri đối với cơ chế dân chủ. Cử tri nhiều kinh
6
và ban đầu chỉ bao
5
Chúng tôi hạn chế cỡ mẫu thời gian vì nhiều lý do khác nhau.Thứ nhất, trong
thời kỳ hậu Xô Viết đã bãi bỏ những luồng tư tưởng đối nghịch nhau, do đó ảnh hưởng
đảng phái bị hạn chế. Thứ hai là vào thập kỷ thứ 19 là thập kỷ mà những quy định lạc
gồm 21 quốc gia OECD trong khoảng thời gian từ năm 1975-2003. Cập nhật đến năm
2009, Nicoletti et al 2009 đã m ở rộng lên đến 30 quốc gia và khoảng thời gian đến
năm 2007. Các quốc gia có sẵn dữ liệu theo năm là: Australia, Áo, Bỉ, Canada, Cộng
hòa Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Hungary, Iceland, Ireland, Italy,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Ba Lan,
Bồ Đ ào Nha,Slovak Republic, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương
quốc Anh và Hoa Kỳ.
Các chỉ số về quy định phi sản xuất bao gồm các lĩnh vực năng lượng,
vận tải và thông tin liên lạc (ETCR)
7
. Các biến này được đo lường theo thang điểm từ
điểm 0 nghĩa là hoàn toàn không có sự điều chỉnh của chính phủ đến điểm 6 cho thấy
những quy định và hạn chế về kinh tế ở mức độ nghiêm khắc nhất. Chỉ số ETCR được
tập hợp dựa trên bảy lĩnh vực của nền kinh tế có sự đóng góp lớm của nhà nước thông
qua những doanh nghiệp sở hữu công, doanh nghiệp độc quyền và khuôn khổ pháp
luật quy định chặt chẽ ràng buộc. Các lĩnh vực này là điện, khí đốt, vận tải hành khách
đường hàng không, vận tải đường sắt, vận tải hàng hóa đư ờng bộ, các dịch vụ bưu
chính và viễn thông. Các chỉ số ước tính được lấy nguồn từ các quốc gia và các ấn
phẩm được xuất bản và các chỉ số có số điểm thấp đại diện những đo lường khách
quan được xây dựng trong bảng câu hỏi. Những chỉ số có số điểm thấp liên quan đến
những quy định gia nhập ngành, sở hữu công, hội nhập các thị trường theo chiếu dọc
và cơ cấu thị trường tùy thuộc vào từng ngành nghề cụ thể với những rào cản gia nhập
ngành và quyền sở hữu công áp dụng hầu hết các ngành nghề
tôi áp dụng các chỉ số tổng hợp cuối cùng trong điều tra thực nghiệm của chúng tôi.
3.2 Mô hình thực nghiệm
Để đánh giá mối quan hệ giữa bầu cử và các chỉ số quy định, chúng tôi định rõ
mô hình dữ liệu bảng biến động với cơ cấu như sau
10
: Trong đó Y
it
biểu thị tốc độ tăng trưởng (Δln) của mỗi bốn chỉ số tổng hợp điều tiết thị
trường sản xuất trong nước i và vào năm t. X
it
là một vector các biến kiểm soát, ELE
một biến giả bầu cử (bằng một nếu trong năm có bầu cử và bằng không trong trường
hợp ngược lại), µ
it
là các tác động riêng có của mỗi quốc gia mà không quan sát được
và ε
it
là sai số thống kê. Các biến phụ thuộc có độ trễ nhằm khắc phục tính
dai dẳng của mức độ điều chỉnh trong nền kinh tế để thiết lập bản chất biến động của
mô hình thong qua các biến chỉ định trong mô hình. Biến kiểm soát của chúng tôi là
tốc độ tăng trưởng GDP thực tế để nắm bắt khả năng bãi bỏ quy định nhằm khắc phục
khủng hoảng kinh tế, và tỷ lệ thất nghiệp để kiểm soát áp lực của công đoàn chống lại
quá trình bãi bỏ quy định này.
Phương trình (1) là mô hình dữ liệu bảng dạng chuẩn. Sự hiện diện của biến
phụ thuộc có độ trễ và các tác động riêng có của mỗi quốc gia trong hồi quy OLS làm
cho ước tính bị sai lệch.
(2010) đã cho rằng thông qua mô phỏng Monte Carlo kiểm tra việc thực hiện các ước
tính t heo GMM khi N là tương đối nhỏ so với T và ông cũng kết luận rằng số lượng
nhỏ của các cá nhân không có tác dụng quan trọng trên các thuộc tính của hệ thống
GMM. Ông chứng minh rằng ước tính hệ thống GMM có sự sai lệch thấp nhất và hiệu
quả cao nhất từ một tập hợp các ước lượng kết hợp trong phân tích của mình khi dãy
số liệu có một độ trễ nhất định. Phân tích của Soto tập trung vào trường hợp cỡ mẫu
nhỏ là tình trạng phổ biến trong dữ liệu bảng vĩ mô trong đó cả N và T đều nhỏ và kết
luận rằng sự chính xác và hiệu quả của hệ thống ước tính GMM làm cho nó trở thành
một công cụ đáng t in cậy hơn cho nghiên cứu ứng dụng ngay cả khi tập hợp một phần
các biến công cụ được sử dụng cho việc ước lượng.
4. Kết quả thực nghiệm.
4.1 Mô hình cơ sở
Những kết quả báo cáo ở Bảng 1 đã chỉ ra tỷ lệ gia tăng của 4 nhóm chỉ số quy
định OECD là biến số phụ thuộc. Để những kết quả được hiểu rõ hơn, chúng ta nhân
chỉ số quy định với (-1), do đó, việc biến đổi chỉ số quy định để loại trừ chỉ số quy
định. Giá trị cao hơn của chỉ số tương ứng với sự gia tăng nhanh hơn trong việc loại
bỏ biến số kinh tế. Kết quả chỉ ra rằng những cuộc bầu cử có ảnh hưởng đáng kể đến
tiến trình loại bỏ. Tất cả 4 chỉ số nhập vào phương trình với một dấu âm và mức ý
nghĩa cao ở mức 1%. Dấu âm được giải thích như là thuyết minh của quy trình loại bỏ.
Các biến hạn chế không đưa vào phương trình vì ý nghĩa thống kê ngoại trừ tốc
độ tăng trưởng GDP thực trong nhóm chỉ số đo lường phạm vi của nhà nước trong lĩnh
vực năng lượng, giao thông vận tải và thông tin liên lạc. Trong trường hợp đặc biệt
này, hệ số nhập vào với dấu âm biểu thị rằng một tỷ lệ tăng trưởng GDP dương cung
cấp sự không khuyến khích cho việc loại bỏ thêm nữa. Tình trạng thất nghiệp không
đưa vào phương trình ý nghĩa thống kê. Điều này có thể được giải thích thông qua sự
hiểu biết cơ cấu thị trường lao động cho cả một số quốc gia chủ chốt ở Châu Âu cũng
như các lĩnh vực của nền kinh tế mà những chỉ số quy định này được sưu tập tài liệu.
Những chỉ số quan tâm đến những lĩnh vực của nền kinh tế nơi mà nhà nước có
truyền thống gia tăng sự hiện diện: thông qua doanh nghiệp nhà nước, độc quyền và
những quy định nghiêm ngặt về ràng buộc khuôn khổ pháp lý. Đối với một số quốc gia
(Sở hữu nhà
nước)
ETCR
(
-
1)
Hệ số chặn (-1)
0.031
( 0.043)
ETCR(
-
2)
Hệ số chặn (-2)
0.009
( 0.075)
Unemployment
Thất nghiệp
-
0.263
( 0.292)
(0.253)
-0.628***
( 0.239)
Entry Barriers (
-
1)
Rào cản nhập cảnh (-1)
0.260***
( 0.069)
Entry Barriers (
-
2)
Rào cản nhập cảnh (-2) 0.175***
( 0.054)
All but Public
Ownership (-1)
Tất cả trừ sở hữu nhà
0.108
( 0.099)
Hansen Test
aKiểm định Hansen
2.67
( 0.615)
5.99
( 0.200)
3.16
( 0.531)
3.28
( 0.512)
Corr. Test
b
Kiểm định tương quan
0.975 0.423 0.981 0.705
Observations
Những quan sát
343 415 390 405
trình tư nhân hóa).
Biến bầu cử được kì vọng mang dấu âm trong tất cả 4 trường hợp nhưng nó chỉ
có ý nghĩa thống kê trong 3 mà thôi. Ở trường hợp mà dữ liệu không xác minh sự kìm
hãm trước bầu cử của quá trình dỡ bỏ điều tiết liên quan đến chỉ tiêu đo lường sự mở
rộng của khu vực công trong 7 ngành kinh tế mà dữ liệu đã có sẵn. Kết quả này có thể
thấy rõ qua sự thiết hụt các phương tiện cần thiết cho một chiếc dịch vận động. Từ
nhưng năm 80 trở đi chính phủ đã đưa ra kế hoạch tư nhân hóa rộng rãi làm giảm toàn
bộ lượng sở hữu công. Hơn thế nữa ở nhiều nước có tham gia điều hành của cả tư nhân
và nhà nước làm cho các cuộc vận động hành lang trở nên khó khăn hơn nhất là nước
thành lập thông qua cơ quan lập pháp trực tiếp.
Những kiểm định sau này được thực hiện trên tổng 30 quốc gia chúng tôi dùng
một biến giả tượng trưng cho cuộc bầu cử được tổ chức ở các nền dân chủ mới. Kết
quả cũng giống như 2 kiểm định trước.Cả 2 biến giả cho cuộc bầu cử ở nền dân chủ cũ
và bầu cử ở nền dân chủ mới đều mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê. Sự khác nhau
là ở độ lớn của hệ số trong đó biến giả của các cuộc bầu cử ở nền dân chủ mới thì lớn
hơn. Kết quả này nhât quán với các phát hiện thực nghiệm trong chu kỳ ngân sách
chính trị là độ lớn cuả chu kì tài khóa giảm khi cơ chế dân chủ trưởng thành. (Bảng 3)
Bảng 2: Chỉ số điều chỉnh OECD (1991-2007): phương pháp ước lượng
Arellano-Bover/Blundell-Bond hệ thống GMM hai bước. Nền dân chủ mới đã
được loại trừ.
Bảng 3 chỉ số điều chỉnh ở các nước OECD (1991-2007): phương pháp ước
lượng Arellano-Bover/Blundell-Bond hệ thống GMM hai bước. Cả biến giả
OldELE và NewELE được bao gồm
4.3 “Rent Effe ct” tạm dịch là ảnh hưởng của nhóm lợi ích kinh tế
Trong trường hợp này, nó được hiểu như sự tác động của các nhóm kinh tế lên
quả kiểm định Hansen về tính phù hợp cùa biến công cụ yếu đem lại kết quả hệ số p
value hoàn hảo 1,00 thiếu tin cậy. Các vần đề trên được đưa ra xem xét ngay từ đầu và
các biến công cụ được sử dụng hạn chế trong bối cảnh mà Roodman đề xuất. Tuy
nhiên kết quả là bền vững khi gia t ăng các biến công cụ như mong đợi. Việc sử dụng
nhiều độ trễ như biến công cụ thì dự khác biệt và cấp độ của phương trình không làm
biến đổi mức ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy.
Việc bao gồm cả các tiêu chuẩn kiểm định phụ thêm như logarit tự nhiên của
GDP thực tế trên đầu người không gây ảnh hưởng đến các ước lượng hồi quy cho biến
giả thể hiện các khác biệt do bầu cử. Chúng tôi cũng đã kiểm định tính phù hợp của
kết quả bằng cách bỏ ra khỏi mô hình một số quốc gia nữa. Vì thế bên cạnh các nền
dân chủ mới chúng tôi còn loại ra Hy Lạp, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha khỏi mẫu.
Kết quả kiểm định vẫn không bị ảnh hưởng và tương tự với trường hợp loại ra các nền
dân chủ mới.
Hơn thế nữa biến giả thể hiện các khác biệt do bầu cử có hệ số hồi quy của
chính nó được giữ nguyên tính hiệu lực ngay cả khi chuyển đổi sai phân được sử dụng
thay cho độ lệch trực tiếp hay khi mô hình GMM 1 bước được sử dụng t hay cho 2
bước.
5. Kết luận
Bài nghiên cứu này đưa ra bằng chứng trong việc giải thích các chu kỳ kinh tế.
Câu hỏi đặt ra là có hay không việc tồn tại một sự liên kết trực tiếp của các chính sách
khác bên cạnh việc m ở rộng tài khóa- cái có thể được sử dụng cho chiến lược vận
động tranh cử với tư cách là lợi ích – có thể đại diện trực tiếp thay mặt cho chính phủ.
Đáp án cho câu hỏi đó rất quan trọng vì nó mở ra ánh sáng để tìm ra các giải pháp (bên
cạnh giải pháp được mô tả cho đến thời điểm này trong lý thuyết chu kỳ ngân sách
chính trị) cho việc vận động tranh cử và vượt qua các chất vấn về tài chính công của
các cử tri – người sẽ trừng phạt các nhà chức trách nếu để xảy ra tình trạng thâm hụt.
Những kết quả theo kinh nghiệm của chúng tôi chỉ ra rằng quá trình thay đổi
các điều luật trong lĩnh vực năng lượng, giao thông và thông tin của nền kinh tế sẽ bị
chậm lại trong suốt năm diễn ra cuộc bầu cử, một kết quả được rút ra từ danh sách
gồm 30 nước của khối OECD trong khoảng thời gian từ năm 1991-2007, kết quả là sự