Tiểu luận
Thông tin bất đối xứng
A. Giới thiệu về “thông tin bất đối xứng” hay “vấn đề quả chanh”
M ột trong những giả thiết để có một thị trường hoàn hảo là kết cấu thông
tin cũng phải hoàn hảo. Giữa các chủ thể kinh tế tham gia giao dịch có thông
tin đầy đủ như nhau về nhau và về đối tượng giao dịch. Trái với kinh tế học cổ
điển và tân cổ điển, kinh tế học Keynes cho rằng thị trường hiếm khi hoàn hảo
và kinh tế học Keynes mới chỉ ra rằng bất đối xứng về thông tin chính là một
nhân tố gây ra sự không hoàn hảo của thị trường. Vậy thôn g tin bất đố i xứ ng,
hay vấn đề quả chanh là gì? Và tại sao “ t hôn g tin bất đối xứ ng” lại được gọi là
“ Vấn đề quả chanh”?
Thông tin bất cân xứng xuất hiện khi người mua và người bán có các
thông tin khác nhau. Người buôn ngựa mang một con ngựa vừa già vừa xấu ra
chợ. Bỏ một con lươn còn sống vào trong cổ họng của nó. Con ngựa sẽ thể hiện
sự tràn đầy sức sống Đó là những thủ đoạn lừa gạt. Một bên của thị trường là
những kẻ lừa đảo. Còn bên kia là những người cố tránh những kẻ lừa đảo. Nếu
thái quá, thị trường sẽ hoàn toàn bị sụp đổ. Và cả người tốt lẫn người xấu đều
bị thua thiệt.
2. ‘Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin
còn bên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào
đó’.
3. Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán xảy ra khi một
hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu được thông tin riêng (Kyle, 1985 trích
trong Ravi, 2005) hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công
ty (Kim và Verrecchia, 1994 và 1997 trích trong Ravi, 2005). II. Ảnh hưởng của thông tinh bất đối xứng với thị trư ờng như thế nào?
Hoạt động của thị trường ch ính là sự giao dịch giữa người bán và người
mua, do đó luô n tồn tại hai chiều thông tin khác nhau nên luôn tồn tại hai hệ
quả của giao dịch là t âm lý ỷ lại và lựa chọn bất lợi
1. Tâm lý ỷ lại
Tâm lý ỷ lại xuất phát từ hành vi che đậy và xuất hiện sau khi kí hợp
đồng. Do một bên trong hợp đồng không biết liệu bên kia có tham gia vào
những hành động đưa họ vào thế bất lợi hay không.
Với các hợp đồng vay ngân hàng hay bảo hiểm thì t âm lý ỷ lại phát sinh
từ phía người đi vay hay đi mua bảo hiểm. Họ sử dụng tiền vay không đúng
mục đích hay do đã được bảo hiểm nên họ sẽ bất cẩn hơn so với trước khi mua
bảo hiểm. Ở thị trường chứng khoán, tâm lý ỷ lại phát sinh nếu như những
người đại diện điều hành công ty không sử dụng nguồn vốn hiệu quả và đúng
mục đích. Do tính chất của đầu tư trên thị trường là đầu tư gián tiếp nên việc
quản lý, giám sát vốn đầu tư của các nhà đầu tư phải thông qua một số người
đại diện để điều hành công ty. Tâm lý ỷ lại sẽ gia tăng nếu như tỷ lệ sở hữu cổ
thường được áp dụng chung để hạn chế mức độ thông tin bất cân xứng là cơ
chế phát tín hiệu, cơ chế sàng lọc và cơ chế giám sát.
1. Cơ chế phát tín hiệu
Michael Spence chỉ ra được cơ chế phát tín hiệu (signaling): bên có
nhiều thông tin có thể phát tín hiệu đến những bên ít thông tin một cách trung
thực và tin cậy. Với việc phát tín hiệu này, người bán những sản phẩm chất
lượng cao phải sử dụng những biện pháp được coi là quá tốn kém với người
bán hàng hóa chất lượng thấp. Spence lấy ví dụ bằng thị trường lao động.
Người bán là những ứng cử viên đi xin việc và người mua là nhà tuyển dụng.
Nhà tuyển dụng không thể trực tiếp quan sát các khả năng của ứng cử viên mà
chỉ có thể đánh giá gián tiếp thông qua bằng cấp của họ. Nếu những người kém
năng lực phải mất nhiều thời gian và nỗ lực hơn những người có năng lực để
đạt được cùng trình độ học vấn thì những người có năng lực có thể phát tín
hiệu bằng cách đạt được những bằng cấp mà người kém năng lực không thể đạt
được. Hay một ví dụ khác, việc triển khai các chương trình quảng cáo đắt tiền,
việc duy trì chế độ bảo hành cho sản phẩm, việc chia cổ tức cho cổ đông đó
đều là những cách phát tín hiệu trên thương trường
.
Hay như thị trường t ài chính, để giao dịch được hiệu quả thì người đi
vay có thể vay được vốn với chi phí thấp, người cho vay chắc chắn khả năng
thu hồi được nợ hay người cho vay và đi vay phải nắm rõ quyền lợi và trách
nhiệm của riêng mình. T hông t hường người đi vay là người nắm rõ thông tin về
mình nhất thế nên họ sẽ được lợi nhiều hơn trong giao dịch. Tuy nhiên, ngân
hàng sẽ không dễ dàng cho vay nếu như họ không biết rõ về khách hàng của
mình. Thế nên, người đi vay phải phát tín hiệu rằng mình là người có khả năng
trả được nợ tốt. Vấn đề phát tín hiệu trong trường hợp này là: Uy tín của công
ty, qui mô và danh tiếng công ty, năng lực tài chính, tài sản đảm bảo , ngược
lại ngân hàng cũng phải phát tín hiệu để người đi vay thực hiện trách nhiệm của
Trải qua hơn hai thập kỷ, lý thuy ết về thị trường có thông tin bất cân
xứng đã trở nên vô cùng quan trọng và là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học
hiện đại. Thông tin bất cân xứng càng trở nên phổ biến và trầm trọng khi tính
minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin
yếu kém.
Đến đây, chúng ta sẽ tóm tắt thông tin bất cân xứng qua sơ đồ sau:
B. Thực trạng “thông tin bất đối xứng” trong thị trường Việt Nam
IV. Thị trường tài chính
1. Thị trường tín dụng
Trong thời gian nghiên cứu hệ thống tài chính Việt Nam, nhóm các nhà
kinh tế nhận thấy rằng giống như các nước Đông Nam Á khác, ở Việt Nam, các
ngân hàng chiếm tỉ trọng cao trong hệ thống tài chính. Hầu hết các giao dịch
đều được thực hiện qua hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán có một vài
trò rất khiêm t ốn. Hơn nữa, trong giai đoạn chuyển đ ổi nền kinh tế sang nền
kinh tế thị trường theo đ ịnh hướng xã hội chủ nghĩa, nên phần lớn nhân dân
vẫn chưa còn quen với việc giao dịch qua ngân hàng, dẫn đến tình trạn g, các
dịch vụ của ngân hàn g thương mại còn ít, và tín dụng vẫn chiếm tỉ trọng cao
trong các giao dịch của ngân hàng.
Điều đáng nói ở đây là, mặc dù đem lại doanh thu cao ~60% cho các
ngân hàng, nhưng hoạt động tín dụn g của các ngân hàng Việt Nam đang gặp
phải khó khăn, do tỉ lệ nợ xâu cao.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú
sốc bất ngờ như khủng hoảng kinh tế, thiên tai…nguyên nhân gây ra tình trạng
việc sử dụng vốn của khách hàng như thế nào? Và tình trạng gì đang diễn ra?
Do vậy, để giải quyết tốt vấn đề trên, các ngân hàng cần phải kiếm soát
tốt, tình trạng nợ xấu của mình để giảm thiểu nguy cơ bị xù nợ. Nhưng, một
ngân hàng muốn quản lý tốt thì trước hết, phải có những cơ sở hạ tầng tốt, vậy
cơ sở hạ tầng và điều kiện cần thiết là gì?
b. Các cơ sở hạ tầng và điều kiện cần thiết trong hoạt động tín dụng
Cần có điều kiện pháp lý rõ ràng, chặt chẽ.
Hệ thống thanh toán và báo cáo tài chính đủ độ tin cậy, phản ánh
đúng khả năng chi trả của kh ách hàn g
Hệ thống thông tin tốt
Các t iêu chuẩn đánh giá, chính xác, nhanh nhạy
Tổ chức đánh giá, xếp loại tín dụng độc lập
Hệ thống đang ký tài sản
Với các tiêu chuẩ n trên, hiện nay, Việt Nam cần phát triển mạnh hơn
nữa việc xếp hạng tín dụng một cách độc lập. Hiện tại thì chỉ có trung tâm
thông tin tín dụng (CIC) mới có khả năng đáp ứng được điều kiện này.
c. Một số vấn đề liên quan đến hoạt động của các ngân hàng
i. Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam
Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt
động tín dụng ngân hàng. Nếu cộng đồng các doanh nghiệp có một văn hoá
kinh doanh tốt, trên cơ sở chiến lược phát triển dài hạn sẽ là một thuận lợi rất
lớn cho hoạt động tín dụng ngân hàng. Khi đó, các doanh nghiệp rất coi trọng
chữ tín của mình. Việc xây dựng, bảo vệ và phát triển thương hiệu là một trong
thức rất lớn đối với các tổ chức tín dụng. Do tính chính xác trong việc thẩm
định dự án của các ngân hàng còn rất nhiều hạn chế, và độ tin cậy thấp.
Việc sử dụng vốn để phát triển của nền kinh tế vẫn là thiết yếu, các tổ
các ngân hàng vẫn phải cung tín dụng, nhưng quyết định cấp tín dụng của các
ngân hàng sẽ căn cứ vào các tiêu chuẩn nào, và liệu rằng các quyết định này có
đủ độ tin cậy, hay giảm thiểu việc tạo ra nợ xấu hay không là câu hỏi lớn đối
với từng ngân hàng nói riêng hệ thống t ài chính ngân hàng Việt Nam nói
chung?
Giải quyết khó khăn trên là một vấn đề hết sức nan giải đối với các ngân
hàng, do đó các ngân hàng sẽ đưa ra các chính sách, các chiến lược khác nhau.
Nhưng, tài sản đảm bảo vẫn được coi là một trong những điều kiện quan trọng
nhất khi quyết định cho vay . Riêng đối với các ngân hàng thương mại quốc
doanh, có một thời gian thích cho các doanh nghiệp nhà nước vay hơn vì các
ngân hàng này nghĩ rằng nếu doanh nghiệp có vấn đề gì thì nhà nước sẽ cứu.
Tuy nhiên trong thời gian qua, do sự hoạt động y ếu kém của một số doanh
nghiệp nhà nước đã để lại khối lượng nợ xấu rất lớn, tâm lý thích cho các
doanh nghiệp nhà nước vay đã giảm đi rất nhiều, thay vào đó tiêu chí có tài sản
đảm bảo là điều kiện tiên quyết trong quyết định cấp tín dụng.
e. Kiểm tra, giám sát, thu hồi vốn vay của các tổ chức tín dụng
Ở phần trên chúng ta đã xét tới lựa chọn bất hợp lý của khách hàng khí đi
vay, còn trong phần n ày, chúng ta xem xét tâm lý ỷ lại của các ngân hàng.
Để có thể kiểm tra giám sát, đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục
đích đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải biết được dòng tiền vào và dòng tiền ra
trong quá trình sử dụng vốn vay của bên vay. Đây là một vấn đề lớn đang đặt ra
đối với các tổ chức tín dụngViệt Nam vì việc kiểm soát dòng tiền bảo đảm bên
Có th ể nói, với nền kinh tế đang phát triển, quản lý và xử lý thông tin
còn yếu kém thì việc. Song song với nó là sự y ếu kém của đội ngũ công
nhân viên làm trong các tổ chức tín dụng chức tín dụng. Đây là nguyên nhân
gây ra cho sự thẩm định các dự án cho vay với độ tin cậy và mức chính xác
không cao. Điều này đã đẩy các tổ chức tín dụng đến lựa chọn quyết định
cho vay chỉ khi khách hàng có tài sản đảm bảo
Tài sản đảm bảo có vai trò rất lớn trong quyết định cấp tín dụng của các
tổ chức tín dụng Việt nam hiện nay. Không đơn giản vì nó là chỗ dựa tin cậy
trong việc đưa ra quyết định cấp tín dụng mà hơn thế nữa, tài sản đảm bảo có
tác dụng rất tốt trong việc ngăn ngừa sự xuất hiện của tâm lý ỷ lại sau khi cho
vay vì khi thực hiện bất cứ một hành vi nào, mỗi cá nhân luôn xem xét họ sẽ
được gì và mất gì. Nếu hành vi luôn mang lại lợi ích mà không bị tổn thất gì thì
họ sẽ thực hiện, ngược lại nếu hành vi luôn tạo ra tổn thất mà không có lợi ích
gì cho bản thân thì họ sẽ không thực hiện. Đối với loại còn lại, hành vi được
thực hiện khi lợi ích lớn hơn chi phí và ngược lại hành vi sẽ không được thực
hiện. Tác dụng của t ài sản đảm bảo nằm ở điểm này. Khi những khoản tín dụng
được cấp mà không có t ài sản đảm bảo, phần vốn của bên vay tham gia rất ít
hoặc không tham gia vào dự án đầu tư, thì xu hướng tất yếu là bên vay sẽ thực
hiện các dự án có mức độ rủi ro cao để đem lại lợi nhuận cao vì nếu dự án thất
bại thì cái mà họ mất là không đáng kể, ngược lại nếu dự án thành công t hì lợi
ích của họ là rất lớn. Hành vi của bên vay sẽ hoàn toàn ngược lại khi họ phải
đem thế chấp các tài sản hiện có của mình để được cấp tín dụng. Khi tài sản
được thế chấp, cấm cố tại các tổ chức tín dụng thì người vay sẽ bị mất nó nếu
khoản vay của họ được đầu tư không cẩn thận và xảy ra rủi ro. Chính vì vậy mà
họ phải thận trọng hơn khi thực hiện quyết định đầu tư của mình.
Trên đây là những thực trạn g tồn tạ i của của thông tin bất đối xứn g trên
thị trường tín dụng Việt Nam. Và có một số câu hỏi đặt ra ở đây là?
600 điểm, lúc nguội lạnh thì VNIdex chỉ còn hơn 100 điểm. Bước sang năm
2006, đặc biệt là nữa cuối của năm số lượng công ty niêm yết tăng lên nhanh
chóng, đến cuối năm số công ty niêm y ết là 196 công ty( bây giờ là 354 công
ty) . Đi cùng với sự gia tăng số lượng công ty niêm yết là chỉ số VNI liên tục
tăng từ mốc 600 điểm giữa năm 2006 đã tăng lên gần 1000 điểm vào cuối năm.
Không dừng lại tại đó, sự kiện Việt Nam được gia nhập tổ chức kinh tế lớn
nhất thế (WTO) vào cuối năm 2006, thị trường đã thực sự bùng nỗ. Thị trường
liên tục tăng nóng bất chấp những lời cảnh báo của các chuyên gia và đỉnh
điểm của nó là chỉ số VNI tăng lên 1170 điểm vào ngày 12/03/2007.
Điểm đặc biệt ở giai đoạn trên là khi thị trường tăng, hầu hết mọi cổ
phiếu đều tăng giá, bất chấp cổ phiếu tốt hay không tốt và ngược lại khi có một
biến động nhỏ thì tất cả các cổ phiếu đều giảm. Hiện tượng tâm lý hay hành vi
đầu tư theo kiểu bắt chước còn gọi là hành vi bầy đàn
lại biểu hiện rõ như lúc
này, đi kèm theo đó là có những dấu hiệu bong bóng tài sản trên thị trường và
chúng mang tính không ổn định. Vậy đâu là nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình
trạng trên trong t hị trường chứng khoán ở một vài năm gần đây? b. Ảnh hưởng thông tin bất đối xứng lên thị trường chứng khoán
Trên thị trường chứng khoán, hiện tượng bất cân xứng xảy ra khi: doanh
nghiệp che giấu các thông tin bất lợi, thổi phồng thông tin có lợi ; doanh
nghiệp cung cấp thông t in không công bằng đối với các nhà đầu tư; doanh
nghiệp sau khi phát hành cổ phiếu không chú trọng vào đầu tư sản xuất kinh
doanh mà chỉ tập trung vào việc “làm giá” trên thị trường chứng khoán; có sự
rò rỉ thông tin nội gián; một số nhà đầu tư tạo cung cầu ảo trên thị trường dẫn
đến phản ánh sai lệch giá trị của doanh nghiệp; một số kẻ xấu tung tin đồn thất
tiết về tổng cầu cổ phiếu của thị trường, các cá nhân tổ chức nào tham gia đấu
giá sẽ tính toán được hợp lý mức giá mà mình bỏ thầu, qua đó chiếm lợi thế so
với các nhà đầu tư khác không có thông tin.
Sự rò rỉ thông tin còn thể hiện ở việc công bố các thông tin có lợi của
công ty. Ví dụ đối với các quyết định của Hội đồng quản trị như chia cổ tức
bằng cổ phiếu thưởng, tăng quy mô vốn thông thường do các nguồn quan hệ
cá nhân, một số nhà đầu tư còn biết trước khi Trung tâm chứng khoán công bố
vài ngày và đã tranh thủ thu mua cổ phiếu để chờ giá lên. Đến khi các nhà đầu
tư còn lại biết được thông tin thì đã quá muộn. Chính vì vậy, không có gì ngạc
nhiên khi đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang diễn ra theo hiện
tượng "bầy đàn", vì có sự suy diễn rằng, việc mua hàng loạt hay bán hàng loạt
cổ phiếu của một nhóm nhà đầu tư nào đó là do có thông tin biết trước.
Thứ ba, doanh nghiệp cung cấp thông tin không công bằng đối với các
nhà đầu tư: ưu tiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư chiến lược, các nhà
đầu tư tổ chức mà không công bố rộng rãi. Đến nay, một hiện tượng phổ biến
cho thấy các cuộc đấu giá thì người đấu giá thành công chủ yếu là các nhà đầu
tư tổ chức. Loại trừ khả năng các nhà đầu tư tổ chức có kinh nghiệm, kỹ năng
phân tích và "trường vốn" hơn thì người ta cũng nghi ngờ các nhà đầu tư nhận
được nhiều thông tin chất lượng hơn so với các nhà đầu tư cá thể.
Thứ tư là hiện tượng lừa đảo. Đây không phải là hiện tượng phổ biến trên
thị trường chứng khoán Việt Nam nhưng rất đáng cảnh báo các nhà đầu tư
nghiệp dư, đặc biệt những người không có kiến thức về chứng khoán và kinh tế
lại có tham vọng làm giàu bằng kinh doanh chứng khoán. Báo Vnexp ress đăng
tin, một số cá nhân đã lừa đảo bán cổ phiếu giả cho những nhà đầu tư nhẹ dạ ở
Hải Phòng để thu được gần 800 tỷ đồng. Tiếp đó là vụ lừa đảo hàng chục tỷ
đồng, lợi dụng lòng tin của những người chơi chứng khoán nhỏ lẻ để ôm tiền
bỏ chạy.
gia về tình trạng thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển quá nóng,
không phản ánh thực chất giá trị của doanh nghiệp và cung cầu thị trường.
c. Hạn chế thông tin bất đối xứng
Nếu cứ để tình trạng như vậy xảy ra thì thị trường chứng khoán ở Việt
Nam thì hệ quả tất yếu là sự suy thoái của thị trường, chính ở điểm này, chính
phủ và các nhà kinh tế đã nghiên cứu và hạn chế bớt những ảnh hưởng tiêu cực
như vậy đến thị trường chứng khoán trong thời gian gần đây. Với một loạt các
biện pháp mạnh tay, chính phủ đã đưa ra các biện pháp mạnh tay như(Quyết
13
định số: 898 /QĐ-BTC ngày 20 tháng 02 năm 2006 của Bộ Tài chính về việc
ban hành “Kế hoạch phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam 2006-2010”,
Quyết định số: 128/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng 02/08/2007 về việc phê duyệt
Đề án phát triển thị trường vốn Việt Nam). Và những nỗ lực trong việc ngăn
cản tình trạng bong bóng tài chính vào cuối năm 2007 trên thị trường chứng
khoán, chỉ thị số 03 của Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 28/06/2007. Theo
đó, các tổ chức tín dụng chỉ được phép cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán
dưới mức 3% của tổng dư nợ tín dụng và liên tục là lời cảnh báo của các
chuyên gia về tìn h hình trên.
Song song với đó, để hạn ch ế bớt sự bất đố i xứng thông tin trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, Chính phủ cần mạnh tay hơn nữa. Đưa ra các
chính sách nhanh nhạy và phù hợp:
Thứ nhất, Chính phủ (Ủy ban chứng khoán) cần phải nâng cao qui định
vốn pháp định các công ty niêm yết trên thị trường (giải pháp sàng lọc). Vì qui
định các công ty cổ phần có vốn pháp định 10 tỷ đồng được niêm yết trên thị
trường hiện nay đã trở nên quá thấp. Việc nâng cao qui định vốn pháp định sẽ
niêm y ết trong thời gian vừa qua và những nhận định vừa chủ quan vừa khách
quan của các nhà đầu tư hiện nay, các thông tin công bố từ phía công ty niêm
yết cần phải chính xác và kịp thời. Muốn vậy cần phải có những qui định rõ
ràng về thời gian, nội dung và chất lượng thông tin công bố, đặc biệt qui định
xử phạt phải đảm bảo tính răn đe nếu công ty vi phạm. N goài ra, các cơ quan
quản lý chuyên ngành cần phải thường xuyên thực hiện chức năng giám sát cả
trực tiếp lẫn gián tiếp để giao dịch được diễn ra công bằng và minh bạch.