tiểu luận: Thông tin bất cân xứng và cấu trúc tài chính - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
 Tên đề tài:
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH Nhóm thực hiện : Nhóm 1
Số thứ tự : 01 - 20
Lớp : Đêm 3
Khóa : 22
Giảng viên hướng dẫn : TS. Diệp Gia Luật

TP.HCM , Tháng 12/2012
Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

1
Mục Lục

1



2

THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH 9

2.1

Khái niệm về thông tin bất cân xứng 9

2.2

Hậu quả của thông tin bất cân xứng đến thị trường và cấu trúc tài chính: 10

2.3

Chi Phí Giao Dịch và Cấu Trúc Tài Chính 10

2.3.1

Khái niệm chi phí giao dịch: 10

2.3.2

Các hình thức của chi phí giao dịch: 11

2.3.3 Các yếu tố đến giá chi phí giao dịch: 12
2.3.4 Vai trò của chi phí giao dịch với cấu trúc tài chính: 13
2.3.5

Các biện pháp giảm chi phí giao dịch: 14


Các biện pháp giải quyết vấn đề rủi ro đạo đức: 23

3

VÍ DỤ VỀ ẢNH HƯỜNG CỦA THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐẾN CẤU TRÚC TÀI
CHÍNH 25

3.1 Ví dụ về Công ty dược Viễn Đông 25
3.2

Đánh giá thiệt hại 27

KẾT LUẬN 30
4

ĐỌC THÊM: 31

4.1

TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG CIC ở Việt Nam (Credit Information Center) Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

2
1 LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
1.1 Cấu Trúc Tài Chính
1.1.1 Khái niệm cấu trúc tài chính doanh nghiệp
Cấu trúc tài chính doanh nghiệp là một hỗn hợp nợ và vốn được sử dụng để


3
1.1.2.1 Vốn tài sản cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền về toàn bộ tài sản cố
định (TSCĐ) phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các loại tài sản
dùng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đựơc gọi là TSCĐ khi và chỉ khi
tài sản đó hội tụ đủ đồng thời hai điều kiện: có thời gian sử dụng dài (trên 1 năm),
có giá trị lớn (tùy theo giá trị đồng tiền để xác định)
Gồm hai loại: tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất
cụ thể, như công trình kiến trúc, trang thiết bị, phương tiện vận tải… Tài sản cố định
vô hình là một dạng tài sản không có hình thái vật chất. Loại tài sản này gồm: bằng
phát minh sáng chế, chi phí đầu tư mua bản quyền, phần mềm vi tính, văn hóa doanh
nghiệp…
Vốn cố định tham gia nhiều chu kỳ kinh doanh và luân chuyển dần dần từng
phần vào trong giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mỗi chu kỳ kinh doanh. Hay
nói cách khác, cứ sau mỗi chu lỳ kinh doanh, vốn cố định được tách thành hai phần:
một phần luân chuyển vào giá thành kinh doanh của chu kỳ kinh doanh này và phần
còn lại sẽ được “cố định” chờ để luân chuyển cho các chu kỳ kinh doanh tiếp theo.
Cứ như thế cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng thì vốn cố định mới chấm dứt
một vòng tuần hoàn lưu chuyển giá trị.
1.1.2.2 Vốn tài sản lưu đông
Vốn tài sản lưu động là biểu hiện bằng tiền về toàn bộ tài sản lưu động của
doanh nghiệp để phục vụ cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của nó vào trong giá trị sản phẩm. Vốn lưu
động đựơc thu hồi toàn bộ một lần, sau khi doanh nghiệp tiêu thụ các hàng hóa dịch
vụ và kết thúc vòng tuần hoàn lưu chuyển của vốn.
1.1.3 Cấu trúc nguồn vốn tài trợ hoạt động kinh doanh
Nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp là những nguồn lực tài
chính có trong nền kinh tế, được doanh nghiệp huy động, khai thác bằng nhiều
phương thức, cơ chế khác nhau, để đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động kinh

 Căn cứ vào tính pháp lý:
- Nguồn vốn huy động trên thị trường chính thức: nguồn lực tài chính được
huy động theo cơ chế, qui định cảu pháp lý, dưới sự kiểm tra giám sát của cơ
quan chức năng.
- Nguồn vốn huy động trên thị trường phi chính thức: như tín dụng nặng lãi,
đầu tư góp vốn với một pháp nhân không chính thức nhằm rửa tiền hoặc né
thuế.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính của doanh nghiệp
1.2.1 Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh đo lường khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu như khả năng sinh lời tài sản (Return on Assets-
ROA), khả năng sinh lời trên doanh thu (tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu). Theo lý
thuyết trật tự phân hạng, nhà quản trị doanh nghiệp bao giờ cũng có thông tin về giá
Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

5
trị doanh nghiệp tốt hơn nhà đầu tư bên ngoài. Sự bất cân xứng về thông tin này dẫn
đến chi phí huy động vốn từ bên ngoài sẽ cao hơn. Vì thế, nhà quản trị có xu hướng
ưu tiên sử dụng các nguồn vốn nội tại trước, rồi mới đến các nguồn vốn vay mượn
bên ngoài. Các nghiên cứu thực nghiệm của Pendey (2001), Huang and Song (2002),
Braduri (2002) ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy hiệu quả kinh doanh
có mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ suất nợ. Ở Việt Nam, nghiên cứu của Nguyên
(2006) trên các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng chỉ ra rằng hiệu quả kinh doanh có
mối quan hệ tỉ lệ nghịch với tỉ suất nợ nhưng không có ý nghĩa thống kê. Ở các nước
đang phát triển, nhất là các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, vấn đề
bất cân xứng về thông tin càng trầm trọng, vì thế các nhà quản lý có xu hướng giữ
lại lợi nhuận để tài trợ cho tài sản của mình, vì vậy, giả thiết đặt ra là: “Cấu trúc tài
chính tỉ lệ nghịch với hiệu quả kinh doanh.”
1.2.2 Qui mô của doanh nghiệp
Qui mô của doanh nghiệp có thể được đo lường bằng số lượng nhân viên, tổng

làm hạn chế khả năng vay nợ của doanh nghiệp. Từ đó chúng ta có giả thiết rằng:
“tỷ suất lãi vay có quan hệ ngược chiều với cấu trúc tài chính.”1.2.6 Cơ hội tăng trưởng
Các doanh nghiệp chế biến thủy sản Khánh hòa có tốc độ tăng trưởng càng
lớn có khuynh hướng sử dụng nợ cao hơn các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng
thấp. Kết quả này phù hợp với thực tế hiện nay, khi mà các doanh nghiệp đứng trước
những cơ hội phát triển, hội nhập do xu hướng phát triển tích cực của nền kinh tế tạo
ra, sẽ thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn vốn vay nợ bên ngoài để đầu tư
khai thác cơ hội kinh doanh thuận lợi đó. Trong trường hợp này, hiệu ứng đòn cân
nợ sẽ phát huy tác dụng tích cực làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Như vậy có thể
kết luận rằng: “Cơ hội tăng trưởng có quan hệ thuận chiều với cấu trúc tài
chính.”1.3 Cấu trúc tài chính của một số quốc gia trên thế giới
Các quốc gia trên thế giới với hệ thống tài chính khá phức tạp về mặt cả về
mặt cấu trúc lẫn chức năng. Với nhiều định chế khác nhau như: ngân hàng, công ty
bảo hiểm, quỹ tương hỗ, thị trường chứng khoán và trái phiếu v.v được chính phủ
điều tiết. Hệ thống tài chính chuyển hàng tỷ đô la mỗi năm từ chủ thể tiết kiệm sang
chủ thể có cơ hội đầu tư. Cấu trúc tài chính có thể được hiểu là cơ cấu của các kênh
trung chuyển vốn này, hay cũng có thể hiểu, đó là cơ cấu vốn trong các doanh
nghiệp. Với tiếp cận đó, chúng ta cùng xét 4 nhóm chính trong cấu trúc vốn bên
ngoài của doanh nghiệp:
 Nợ ngân hàng chủ yếu gồm nợ từ các định chế nhận tiền gửi;
 Nợ phi ngân hàng chủ yếu gồm nợ từ các trung gian tài chính khác;
 Trái phiếu gồm các chứng khoán nợ dễ bán như trái phiếu doanh nghiệp và
thương phiếu.
 Cổ phiểu gồm vốn chủ sở hữu mới phát hành (từ thị trường chứng khoán).


Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

8

Phát hành chứng khoán nợ và chứng khoán vốn không phải là nguồn tài trợ
chính cho hoạt động của doanh nghiệp: chứng khoán dễ bán, gồm cổ phiếu và trái
phiếu cung cấp ít hơn một nửa vốn bên ngoài để tài trợ cho hoạt động doanh nghiệp.
Việc phát hành chứng khoán không phải là nguồn tài chính quan trọng nhất. Hai điều
này có thể được lý giải là do thông tin bất cân xứng – tình huống xảy ra đối với một
giao dịch, khi bên cầu vốn nắm rõ thông tin về mức độ rủi ro và tỷ suất sinh lời của
dự án đầu tư hơn so với bên cung vốn, khiến cho bên cung vốn không sẵn lòng đầu
tư. Hoa Kỳ

Đức Nhật
Canada
Chứng khoán 43% 15% 14% 27%

Các trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng, là nguồn vốn bên ngoài quan
trọng nhất tài trợ cho các doanh nghiệp: nguồn vốn bên ngoài chủ yếu cho doanh
nghiệp bao gồm các khoản cho vay của ngân hàng và trung gian tài chính phi ngân
hàng như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, và các công ty tài chính. Ở các nước công
nghiệp, các khoản vay ngân hàng là lớn nhất trong nguồn tài chính từ bên ngoài (hơn
70% ở Đức, Nhật Bản và hơn 50% ở Canada). Như vậy ngân hàng ở các nước này có
vai trò quan trọng nhất trong việc tài trợ cho hoạt động doanh nghiệp (các nước mà
Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

9
việc thu thập thông tin về các công ty tư nhân khó khăn, thì thị trường chứng khoán
ít có vai trò quan trọng hơn trung gian tài chính, đặc biệt là ngân hàng). Hoa Kỳ

Đức Nhật
Canada
Nợ ngân hàng 18% 76% 78% 56%

Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

10
2.2 Hậu quả của thông tin bất cân xứng đến thị trường và cấu trúc tài chính
Sự bất cân xứng thông tin là nguyên nhân chính khiến thị trường hoạt động
không hiệu quả. Khi đó một bên có đầy đủ thông tin trong khi một bên lại thiếu hụt
thông tin, do đó giá sẵn lòng mua sẽ không phản ánh đúng giá trị của đối tượng được
giao dịch.
Hậu quả của nó là chỉ những hàng hóa kém phẩm chất là đươc bán ra trên thị
trường. Tất nhiên một khi một bên đã nhận thấy đươc giá trị thật của hàng hóa thì
anh sẽ không mua nó, thị trường lao động trì trệ, vốn đổ vào những sản phẩm kém
hiệu quả.
Sự hiện diện của vấn đề bất cân xứng thông tin khiến thị trường chứng khoán
như thị trường cổ phiếu và giấy tờ có giá hoạt động không hiệu quả trong việc
chuyển vốn từ người tiết kiệm đến người đi vay làm những doanh nghiệp làm ăn
hiệu quả không thể huy động đươc vốn đúng với giá trị thực của doanh nghiệp. Một
thị trường mà mức độ bất cân xứng thông tin càng nghiêm trọng thì doanh nghiệp
càng khó huy động vốn từ thị trường chứng khoán.
2.3 Chi Phí Giao Dịch và Cấu Trúc Tài Chính
2.3.1 Khái niệm chi phí giao dịch
Theo Ronald Coase - năm 1937 trong bài viết “Bản chất của doanh nghiệp,
ông đã cho rằng “… các lý thuyết kinh tế nhấn mạnh đến vai trò hiệu quả của cơ chế
thị trường cạnh tranh, nhưng tại sao quá nhiều hoạt động kinh tế lại diễn ra ngoài
phạm vi của hệ thống giá của thị trường…” Coase kết luận rằng: “Phải tồn tại một
chi phí trên thị trường mà chỉ có cơ cấu doanh nghiệp có thể thể tiết kiệm được”.
Ngành Kinh tế học chi phí giao dịch cũng bắt đầu từ công trình này và một số bài
viết sau đó đã đưa ông đến giải thưởng Nobel năm 1991 về “khám phá và làm rõ tầm
quan trọng của chi phí giao dịch và quyền sở hữu trong các cấu trúc tổ chức và cách
vận hành của thị trường”. Theo Oliver Eaton Williamson (University of California,
Berkeley), chi phí giao dịch bao gồm thời gian và chi phí đàm phán, soạn thảo, và

làm bạn gặp rất nhiều rủi ro.
2.3.2 Các hình thức của chi phí giao dịch:
Một cuộc trao đổi thông thường gồm có 3 bước:
- Bước 1: Phải tìm được đối tác trao đổi. Hoặc tìm ai đó muốn mua những thứ
bạn muốn bán. Hoặc bán những thứ bạn đang tìm mua.
- Bước 2: Các đối tác trao đổi phải đi đến một thoả thuận. Thoả thuận đạt
được thông qua những thương lượng thành công, có thể bao gồm cả việc soạn thảo
bản hợp đồng.
- Bước 3: Thực thi thoả thuận đã được đặt ra. Thực thi thoả thuận bao gồm cả
việc giám sát thực hiện của các bên và trừng phạt đối với vi phạm hợp đồng.
Vì một cuộc trao đổi gồm có 3 bước nên có thể chia ba bước nói trên của một vụ trao
đổi là 3 hình thức chi phí giao dịch tương ứng:
 Chi phí tìm kiếm
 Chi phí mặc cả
 Chi phí thực thi
Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

12
2.3.3 Các yếu tố đến giá chi phí giao dịch
Một cuộc trao đổi chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Những yếu tố này
quyết định chi phí của một cuộc trao đổi cao hay thấp.

Một câu hỏi đặt ra là khi nào thì chi phí giao dịch cao và khi nào chi phí giao dịch
thấp?
Để kết luận được điều này thì phải xét vấn đề bằng cách xét ba thành phần chi
phí của một cuộc trao đổi:
- Xét chi phí tìm kiếm: Chi phí tìm kiếm có khuynh hướng cao đối với hàng
hoá hay dịch vụ độc đáo, và thấp đối với hàng hoá hay dịch vụ đã được chuẩn hoá.
- Xét chi phí mặc cả:
Chi phí này thấp: đổi đơn giản, thông tin công khai.

PHÂN LOẠI CHI PHÍ THẤP CHI PHÍ CAO
Chi phí tìm kiếm
Hàng hóa, dịch vụ được
chuẩn hóa
Hàng hóa, dịch vụ độc dáo
Chi phí mặc cả
Các quyền đơn giản, rõ
ràng
Các quyền phức tạp, không chắc chắn
Ít bên tham gia Nhiều bên tham gia
Các bên thân thiện Các bên thù nghịch
Các bên quen biết Các bên xa lạ
Hành vi hợp lý Hành vi vô lý
Trao đổi ngay lập tức

Trao đổi bị trì hoãn

Không có điều xảy ra bất
ngờ
Nhiều điều xảy ra bất ngờ
Chi phí thực thi
Chi phí giám sát thấp Chi phí giám sát cao
Xử phạt ít tốn kém Xử phạt tốn kém
2.3.4 Vai trò của chi phí giao dịch với cấu trúc tài chính
Do chi phí giao dịch lớn nên nhiều người có số tiền nhỏ,mà số tiền nhỏ lại
mua được rất ít cổ phiếu đồng thời chi phí để có thể mua những cổ phiếu đó lại rất
lớn. Hoặc do mệnh giá trái phiếu thường lớn nên với số tiền nhỏ không thể mua nổi.
Nên những người có số tiền nhỏ không dám tham gia thị trường tài chính.
Những người có tiền lớn muốn tham gia thi trường tài chính cũng gặp khó khăn vì
nếu danh mục đầu tư lớn thì sẽ làm chi phí giao dịch tăng lên. Nên với số tiền không

Ví dụ, chi phí giao dịch mua 10,000 cổ phiếu cũng không lớn hơn nhiều so
với chi phí một giao dịch mua 50 cổ phiếu. Sự hiện diện của lợi thế kinh tế theo quy
mô trong thị trường tài chính giúp giải thích lý do tại sao những trung gian tài chính
phát triển và đã trở thành một phần quan trọng của cấu trúc tài chính. Ví dụ rõ ràng
nhất của một trung gian tài chính phát sinh vì lợi thế kinh tế theo quy mô là quỹ
tương hỗ. Quỹ tương hỗ là một trung gian tài chính, bán cổ phần cho các cá nhân và
sau đó đầu tư tiền vào trái phiếu hoặc cổ phiếu. Bởi vì nó mua khối lượng lớn cổ
phiếu, trái phiếu, một quỹ tương hỗ có thể tận dụng lợi thế chi phí giao dịch thấp
hơn. Các khoản tiết kiệm chi phí sau đó được chuyển cho các nhà đầu tư cá nhân sau
khi các quỹ tương hỗ thực hiện cắt giảm chi phí quản lý để quản lý tài khoản của họ.
Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

15
Một lợi ích nữa cho các nhà đầu tư cá nhân là một quỹ tương hỗ là đủ lớn để mua
một danh mục chứng khoán đa dạng. Việc đa dạng hóa tăng cho các nhà đầu tư cá
nhân làm giảm rủi ro, có danh mục đầu tư tốt hơn. Lợi thế kinh tế theo quy mô cũng
rất quan trọng trong việc làm giảm các chi phí của những thứ như công nghệ máy
tính mà các tổ chức tài chính cần phải thực hiện nhiệm vụ của mình. Một khi quỹ
tương hỗ lớn đầu tư tiền thiết lập một hệ thống viễn thông, ví dụ, hệ thống có thể
được sử dụng cho một số lượng lớn giao dịch với chi phí thấp hơn.

- Chuyên môn: Trung gian tài chính cũng có khả năng phát triển chuyên môn
để giảm chi phí giao dịch. Chuyên môn của họ trong công nghệ máy tính cho phép
họ cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tiện ích như gọi điện thoại miễn phí để biết
thông tin về các khoản đầu tư của họ đang làm tốt như thế nào và viết séc trên tài
khoản của họ. Một kết quả quan trọng của chi phí giao dịch của trung gian tài chính
thấp là khả năng để cung cấp cho khách hàng là tính thanh khoản để thực hiện giao
dịch dễ dàng. Quỹ tương hỗ không phải chỉ trả cho các cổ đông mức lãi suất cao, mà
còn cho phép họ viết séc để thuận tiện để chi trả hóa đơn.
2.4 Lựa Chọn Đối Nghịch

có hai ngừơi vay tiền, người B chỉ vay tiền khi đảm bảo khỏan đầu tư của mình sẽ có
lợi, C thì liều lĩnh hơn với những mối đầu tư lớn hơn với lợi nhuận rất cao, sẽ chủ
động đi vay và có khả năng vay nợ cao hơn. Tuy nhiên do thông tin bất cân xứng, A
không biết đầy đủ thông tin của B và C nên quyết định không cho vay, mặc dù có
thể B (có khả năng trả nợ) đi vay để đầu tư vào những dự án giá trị. Như vậy ta có
thể thấy rằng thông tin bất cân xứng càng lớn thì sự hình thành lựa chọn đối nghịch
càng cao.
2.4.3 Các công cụ giải quyết sự lựa chọn đối nghịch
2.4.3.1 Sự tạo ra và bán thông tin của tư nhân
Lời giải cho vấn đề thông tin bất cân xứng dẫn đến những lựa chọn đối nghịch
đó là những người cung cấp vốn phải được cung cấp các thông tin chi tiết về những
người đang cần vốn để quyết định tài trợ hay không cho các hoạt động đầu tư.
Khi đó, các công ty tư nhân ra đời. Họ tiến hành thu thập các thông tin và tạo
ra thông tin nhằm giúp phân biệt các doanh nghiệp, cá nhân là tốt hay yếu kém, và
bán nó cho những người cần thông tin.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khả năng tồn tại của những kẻ ăn theo, nghĩa là
những kẻ không sẵn sàng bỏ tiền ra để mua thông tin nhưng vẫn được hưởng lợi từ
thông tin do người khác mua. Nếu vấn đề người ăn theo diễn ra trong thời gian đủ
dài, thì việc hưởng lợi từ thông tin sẽ không còn nữa. Từ đó, người mua thông tin sẽ
cảm thấy không còn nhu cầu để mua thông tin nữa, nếu nhiều người đều nghĩ như
vậy, thì các thông tin tạo ra và bán thông tin sẽ không còn hoạt động được nữa.
Ví Dụ:
PCB trở thành trung tâm thông tin tín dụng tư nhân đầu tiên được hoạt động
tại Việt Nam sau khi Ngân hàng Nhà nước cho phép triển khai hoạt động này.
PCB sẽ cung cấp dịch vụ gồm các loại báo cáo tình hình vay nợ, tài sản thế
chấp, lịch sử quan hệ tín dụng… cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thể nhân. Các
Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

17
thông tin này cũng sẽ được cung cấp cho các ngân hàng, giúp nhà băng có cơ sở

Một doanh nghiệp có nhiều hệ thống sổ sách báo cáo kế toán (thường là 3).
Một dùng để báo cáo thuế . Một dùng để cáo bạch. Một dùng cho nội bộ . Với tình
trạng như vậy, khi doanh nghiệp gặp khó khăn thì ngân hàng rất khó nhận biết tình
trạng thực của doanh nghiệp là như thế nào.
Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

18
Ví dụ:
Scandal Enron
Enron được quảng cáo rất hiệu quả qua công ty kiểm toán Arthur Andersen và
các nhà phân tích phố Wall, nhờ vậy số người mua cổ phiếu của công ty cao kỷ lục.
Chi nhánh Houston của Arthur Andersen nhận 1 triệu USD/tuần còn tham gia cả
việc tìm kiếm đối tác cho Enron. Số tiền kếch xù trên đã làm mờ mắt các nhân viên
kiểm toán và họ dễ dàng bỏ qua nguyên tắc. Điều trần trước Quốc hội Mỹ trong
tháng trước, Tổng giám đốc điều hành Arthur Andersen, ông Joe Berardino thừa
nhận họ đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Tuy khẳng định rằng Arthur Andersen đã
làm tất cả để hạn chế thấp nhất khả năng đổ vỡ của Enron, nhưng họ lại hủy hầu hết
tài liệu có liên quan đến vụ việc, ngay cả khi Ủy ban Chứng khoán đã mở cuộc điều
tra.
Trước đó hai năm, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Mỹ Arthur Levitt yêu cầu
các công ty không nhận phí kiểm toán do lo ngại tiêu cực dễ nảy sinh, nhưng ông đã
vấp phải sự phản đối quyết liệt. Sự cố đang xảy đến với Andersen có khả năng biến
đề xuất của Levitt thành sự thật.
2.4.3.3 Các trung gian tài chính
Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các hiệp hội cho
vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính.
Các Trung gian tài chính, ví dụ như Ngân hàng, là chuyên gia trong việc thu
thập và tạo ra thông tin về doanh nghiệp sao cho mọi người có thể phân biệt giữa cơ
hội cho vay tốt và xấu. Sau đo, họ sẽ sử dụng nó để thu hút nguồn vốn tiết kiệm, cho
vay những doanh nghiệp mà họ đánh giá là hoạt động tốt. Mức lợi nhuận sinh ra từ

- BĐS là một trong số những tài sản có các giấy tờ chứng minh quyền sở
hữu/sử dụng rõ ràng nhất, nhờ đó mà việc xác nhận chủ sở hữu/sử dụng tương đối dễ
dàng. Bất kỳ một sự thay đổi như mua bán, chuyển nhượng quyền sở hữu, theo qui
định đều phải qua công chứng và Hệ thống pháp luật liên quan đến việc xác nhận
quyền sở hữu, sử dụng, giao dịch dù còn nhiều bất cập song vẫn được đánh giá là
khá đầy đủ so với các qui định trong các lĩnh vực khác.
2.4.3.5 Giá trị ròng
Giá trị ròng của một doanh nghiệp còn được gọi là phần chênh lệch giữa tài sản
và các khoản nợ của doanh nghiệp đó, nếu xét trong một hợp đồng vay, thì nó chính
là vốn đối ứng của doanh nghiệp. Một vấn đề quan trọng khác mà nhà đầu tư có thể
tham khảo trước khi ra quyết định đó là tài sản ròng của doanh nghiệp. Thực tế cho
thấy, với các công ty có giá trị tài sản ròng càng cao, xu hướng đầu tư vào những dự
án rủi ro lớn sẽ giảm xuống do công ty có nhiều thứ để mất. Bên cạnh đó, giá trị
ròng biểu hiện cho giá trị tài sản dự trữ để hoàn trả số tiền vay. Bới vậy, đối với các
doanh nghiệp có giá trị ròng cao muốn vay tiền, thì hậu quả từ việc lựa chọn đối
nghịch sẽ ít nghiêm trọng hơn và người cho vay sẽ dễ dàng cho vay hơn.
“Các công ty càng có giá trị tài sản ròng cao, càng ít khả năng bị vỡ nợ Công
ty có giá trị tài sản ròng càng cao, ý muốn xử sự của họ càng theo chiều hướng mà
Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

20
các nhà đầu tư dự tính và mong muốn. Do đó, vốn cổ phần của một công ty cao là
một dấu hiệu khiến nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư vào công ty đó.”
2.5 RỦI RO ĐẠO ĐỨC VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
2.5.1 Khái niệm
Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ tài chính được sử dụng để chỉ một rủi ro phát
sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái.
Rủi ro đạo đức là hậu quả của thông tin bất cân xứng xảy ra sau khi giao dịch
diễn ra. Rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông
tin bất cân xứng giữa các bên giao dịch và hình thành động cơ hành động theo

xứng giữa một bên là cổ đông và một bên là Ban giám đốc.
Sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý cũng làm nảy sinh những
nguy cơ khiến cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không ở mức tối ưu, gây
thiệt hại cho các nhà đầu tư; đó là khi mục tiêu của các chủ sở hữu và người quản lý
không giống nhau. Trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nhà quản lý, cả hai đều
muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình, tuy nhiên điều kiện để tối đa hóa lợi ích của hai
bên không giống nhau. Nhà đầu tư muốn tối đa hóa lợi ích của mình thông qua việc
tăng giá trị doanh nghiệp, còn lợi ích cuả nhà quản lý thường gắn với thu nhập nhận
được. Vì thế, nhà quản lý có thể tìm kiếm một sự điều hành nhàn nhã hơn, ít khốc
liệt hơn hoặc theo lối sống xa hoa…hay đưa ra những quyết định có thể mang tính
bảo thủ và không làm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Hơn nữa, họ lại nắm khá rõ
những thông tin tài chính của công ty, và “sức khỏe” của công ty hiện tại như thế
nào.
Việc ra quyết định của nó sẽ thật rủi ro nếu như Ban giám đốc hành động
không đứng trên lợi ích của Cổ đông.
Ví dụ, nhà quản lý có thể không nỗ lực với khả năng cao nhất của mình, do đó
làm giảm hiệu quả họat động của doanh nghiệp; nhà quản lý có thể không quyết định
đầu tư nguồn lực vào một dự án có khả năng sinh lời cao trong tương lai vì làm như
vậy sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận trong ngắn hạn (nếu thu nhập của nhà quản lý được
xác định dựa trên kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắn hạn); thậm chí nhà
quản lý có thể báo cáo không trung thực về tình hình hoạt động của doanh nghiệp
nhằm đạt mức lợi nhuận kế hoạch. Những hành vi như vậy của nhà quản lý sẽ làm
tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư.
Có thể minh chứng cho điều này là vụ bê bối làm cho một số tập đoàn kinh tế
ở Mỹ bị phá sản như Enron, Typo…tuy diễn ra với hình thức, quy mô, cách thức, địa
điểm khác nhau nhưng đều cùng một nguyên nhân bản chất. Đó là việc người điều
hành lợi dụng nhiệm vụ được các cổ đông giao phó để hành động vì mục đích tư lợi
cá nhân, gây hiệu quả nghiêm trọng đến lợi ích của doanh nghiệp. Chẳng hạn như vụ
việc chủ tịch Jeffrey Skilling và Andrew Fastow- phụ trách đối ngoại của Enron đã
cấu kết với hơn chục thành viên hội đồng quản trị và hãng kiểm toán Athur

và ít sử dụng những chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu, và thương phiếu. Những
người mua chứng khoán nợ cần cảm thấy rằng họ am hiểu thông tin hoặc có ai đó,
chẳng hạn như một cơ quan đánh giá thứ hạng tín dụng, có thể cung cấp thông tin
cho họ và chia sẻ các kết quả với công chúng đầu tư. Ngược lại, các ngân hàng tạo
ra những thông tin riêng của họ và vì thế họ là những nhà cung ứng nợ chiếm ưu thế
khi thông tin công cộng không đầy đủ.
Rủi ro đạo đức làm cho nợ có xu hướng có thời hạn ngắn hoặc có xu hướng
thiên về các quyền hợp đồng giúp người cho vay có thể đẩy nhanh việc thanh toán
nếu một điều khoản hợp đồng bị vi phạm.
Nhóm 1: THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ CẤU TRÚC TÀI CHÍNH GVHD: TS. DIỆP GIA LUẬT

23
Rủi ro đạo đức làm cho việc cho vay của ngân hàng có xu hướng thiên về
những khoản cho vay có tài sản bảo đảm hơn so với cho vay không có tài sản bảo
đảm.
2.5.3 Các biện pháp giải quyết vấn đề rủi ro đạo đức
Có 2 biện pháp hay được áp dụng nhất đó là:
- Một loại là những cam kết trừng phạt các rủi ro đạo đức mà bên kém ưu thế
thông tin đưa vào các hợp đồng giữa các bên giao dịch. Bên kém ưu thế thông tin hy
vọng bên có ưu thế thông tin sẽ cân nhắc nguy cơ bị trừng phạt để rồi thấy lợi ích
của việc mình thay đổi hành vi không bằng cái giá phải bỏ ra, từ đó không nảy sinh
động cơ thay đổi hành vi nữa.
- Một loại nữa là tăng cường thu thập thông tin, tăng cường giám sát từ đó
khắc phục tình trạng thông tin bất đối xứng.
2.5.3.1 Trong các hợp đồng vốn
Vấn đề người chủ - người đại diện sẽ không xảy ra nếu những người sở hữu
công ty có đầy đủ thông tin về những gì mà người quản lý thực hiện và có thể ngăn
chặn những chi phí lãng phí và gian lận.
Vấn đề người chủ - người đại diện sẽ không xảy ra nếu chỉ mình bạn là người
sở hữu công ty và không có sự phân chia giữa người chủ và người quản lý. Nhưng

trí một đội ngũ ban quản trị mới là một giải pháp tốt cho vấn đề ông chủ và người
đại diện.
- Tăng lợi nhuận cho người đại diện
Thay vì một người ngoài cuộc thực hiện việc nắm quyền kiểm soát công ty,
việc một thành viên trong ban quản trị là người thực hiện việc mua bán đó và kết quả
là người đại diện sở hữu phần lớn công ty. Khi đó người ta gọi đây là việc mua cổ
phần kiểu đòn bẩy. Khi đó vấn đề ông chủ và người đại diện được giảm thiểu.
2.5.3.2 Trong hợp đồng nợ :
- Ưu tiên hợp tác làm ăn với các bạn hàng làm ăn lâu năm có uy tín.
- Với đối tác mới cần thu thập thêm, kiểm tra thông tin tài chính và uy tín
kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau
- Nếu không tin tưởng đối tác thì cần yêu cầu tài sản đảm bảo.
- Ngân hàng phát hành phải luôn xác minh tính chân thực của bộ hồ sơ chứng
từ.
- Đối với hoạt động giải ngân, thành lập trung tâm thống kê tín nhiệm khách
hàng. Thống kê càng đầy đủ, chi tiết thì càng là cơ sở để hạn chế rủi ro trong các
hoạt động vay nợ.
Ví dụ: Thông tin khách hàng : Tuổi tác, nghề nghiệp, thu nhập, tôn giáo, mức
độ hoàn trả các khoản vay trước…
- Vốn chủ sở hữu:
Khi người đi vay có vốn chủ sở hữu cao (khoảng chênh lệch giữa tài sản và
nghĩa vụ) thì khả năng nảy sinh rủi ro đạo đức sẽ giảm đi rất nhiều vì người đi vay
có nhiều thứ để mất nếu như tham gia vào các hoạt động có tính rủi ro cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status