TRNG I HC NGOI THNG H NI
KHOA KINH T V KINH DOANH QUC T
KHO LUN TT NGHIP
TấN TI:
Thông tin bất cân xứng trên thị tr-ờng
tài chính Việt nam, thực trạng và giải pháp
H v tờn sinh viờn : Nguyn Th Phng Nht
Lp : Anh 14
Khoỏ : K42 D
Giỏo viờn hng dn : THS.Nguyn Th Tng Anh H ni, thỏng 11/2007
3. Ba vấn đề cố hữu của thị trƣờng tài chính 14
3.1. Chi phí giao dịch 14
3.2. Bất cân xứng về thông tin 14
3.3. Bất ổn định mang tính hệ thống 15
II. Lý thuyết thông tin bất cân xứng 15
1. Giới thiệu chung về lý thuyết thông tin bất cân xứng . 15
1.1. Lựa chọn ngược 17
1.2. Rủi ro đạo đức 20
1.3. Phát tín hiệu 22
2. Thông tin bất cân xứng trong thị trƣờng tài chính 23
2.1. Lựa chọn ngược 23
2.2. Rủi ro đạo đức 253. Tác động của tình trạng thông tin bất cân xứng tới tính hiệu quả của thị trƣờng
28
4. Những biện pháp chung hạn chế trở ngại thông tin bất cân xứng 28
4.1. Sàng lọc 28
4.2. Phát tín hiệu 29
4.3. Giám sát trực tiếp 30
4.4. Giám sát gián tiếp thông qua các động cơ khuyến khích: 31
Chƣơng II: Thực trạng thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng tài chính Việt Nam 33
I. Tổng quan về thị trƣờng tài chính việt nam 33
II. Thực trạng thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng tài chính 38
1. Thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng tín dụng ngân hàng 38
1.1. Lựa chọn ngược trong phân phối tín dụng 38
1.2. Rủi ro đạo đức của người đi vay vốn và của bản thân các ngân hàng 44
1.2.1. Rủi ro đạo đức của người đi vay vốn trong sử dụng vốn vay 44
1.2.2. Rủi ro đạo đức của bản thân các ngân hàng 48
2. Thông tin bất cân xứng trên thị trƣờng chứng khoán 56
77
1.1.2. Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy 78
a. Phát triển trung tâm thông tin tín dụng tư nhân 78
b. Hệ thống thông tin nội bộ của bản thân các tổ chức tín dụng 84
1.1.3. Hệ thống các tiêu chuẩn và kỹ thuật đánh giá thống nhất và phù hợp với
chuẩn mực quốc tế 85
1.1.4. Hệ thống đăng kí tài sản hiệu quả 86
1.2. Biện pháp hạn chế rủi ro đạo đức trong sử dụng vốn vay . Error! Bookmark not
defined.
1.2.1. Vật thế chấp và số dư bù 88
1.2.2. Các điều kiện hạn chế: 89
1.3. Biện pháp hạn chế rủi ro đạo đức trong hoạt động tín dụng 90
1.3.1. Điều chỉnh hợp lý các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với hoạt động tín
dụng 90
a. Dừng tái cấp vốn cho các ngân hàng quốc doanh. 90
b. Xây dựng một chính sách bảo hiểm tiền gửi phù hợp. 90
1.3.2. Tăng cường giám sát Nhà nước đối với hoạt động Ngân hàng 92
a. Hạn chế đối với việc nắm giữ tài sản và yêu cầu về vốn 92
b. Giám sát và kiểm tra ngân hàng 94
c. Đánh giá hoạt động quản trị rủi ro 95
d. Yêu cầu về công bố thông tin 96
2. Trên thị trƣờng chứng khoán 97
2.1. Tăng cường hoạt động giám sát Nhà nước đối với thị trường chứng khoán 97
2.2. Tăng cường các quy định pháp lý về công bố thông tin 99
2.3. Nâng cao hiệu quả của các công ty định mức tín nhiệm (Credit Rating
Agency) 101
2.4. Hỗ trợ hoạt động kiểm toán 106
Kết luận 109
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Thị trường tài chính bao gồm thị trường tiền tệ, thị trường chứng
khoán và thị trường tín dụng ngân hàng, giữ một vai trò quan trọng trong
việc phân bổ hữu hiệu các nguồn vốn trong nền kinh tế. Có được thị trường
tài chính phát triển lành mạnh là một nhân tố thiết yếu đảm bảo ổn định vĩ
mô, tăng trưởng và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Đặc biệt
trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, khi
Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO, vai
trò của thị trường tài chính càng trở nên quan trọng hơn. Những áp lực hội
nhập, cam kết mở cửa mạnh mẽ trong khu vực tài chính đã đặt ra một yêu
cầu cấp thiết phải nghiên cứu những bất cập đang trở thành trở lực đối với
sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam hiện nay, từ đó tìm ra những
phương hướng khắc phục, giải quyết phù hợp.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài khóa luận tốt nghiệp là: “Thông
tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt nam, thực trạng và giải pháp”.
Có rất nhiều vấn đề đang tồn tại cản trở sự phát triển lành mạnh của thị
trường tài chính Việt Nam như sự can thiệp không hợp lý của Nhà nước,
thông tin thiếu minh bạch và không hiệu quả, thiếu sự tham gia của nhiều
định chế tài chính trung gian, văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp
chưa có, cơ sở hạ tầng chưa tương xứng, Khóa luận này xin được tiếp cận
những tồn tại, bất cập trên trong thị trường tài chính trên cơ sở lý thuyết
Thông tin bất cân xứng - một lý thuyết đang chiếm giữ vị trí quan trọng
Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
4
Người viết hy vọng khóa luận này sẽ đóng góp một cái nhìn tổng quát
về thị trường tài chính thông qua một cách tiếp cận khá mới, và đề xuất một
vài giải pháp cụ thể để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng. Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới cô giáo Th.S Nguyễn Thị
Thúy Anh đã gợi ý cho tôi chọn đề tài này, T.S Võ Trí Thành - Trưởng ban
Nghiên cứu Chính sách và Hội nhập, Viện nghiên cứu kinh tế Trung Ương đã
hướng dẫn phương pháp nghiên cứu và hỗ trợ tôi trong quá trình thu thập tài liệu,
và trên hết là lời cảm ơn chân thành tới cô giáo - Th.S Nguyễn Thị Tường Anh,
đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận trong suốt thời gian
qua.
kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, chấp phiếu của ngân hàng, thỏa
thuận mua lại, tín phiếu NHTW.
1.1.2. Thị trường vốn:
1
Võ Trí Thành (chủ biên), Lê Xuân Sang (Đồng chủ biên), Đinh Hiền Minh, Trịnh Quang
Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
7
Thị trường vốn là thị trường phát hành và mua bán lại các công cụ tài
chính (các công cụ nợ và các công cụ vốn) có thời hạn trên 1 năm. Thị
trường vốn gồm thị trường tín dụng và TTCK (thị trường cổ phiếu và thị
trường trái phiếu). Các chủ thể chính tham gia thị trường vốn là ngân hàng
thương mại, tổ chức tài chính phi ngân hàng, chính phủ, các doanh nghiệp,
cá nhân, các nhà môi giới chứng khoán.
Hàng hóa giao dịch trên thị trường vốn bao gồm cổ phiếu, trái phiếu
chính phủ, trái phiếu công ty, khế ước thế chấp và tín dụng trung - dài hạn
của ngân hàng. Các công cụ của thị trường vốn thường có độ rủi ro lớn hơn
và có mức lợi tức cao hơn các công cụ của thị trường tiền tệ.
Thị trường vốn và thị trường tiền tệ có mối quan hệ qua lại mật thiết
với nhau. Trong một thị trường tài chính phát triển, những biến động trong
nền kinh tế lúc đầu tác động lên một thị trường cấu thành sau đó sẽ dễ dàng
lan truyền đến các thị trường khác trong toàn bộ hệ thống. Chẳng hạn, việc
thay đổi lãi suất có tác động lan tỏa lên thị trường tiền tệ lẫn thị trường vốn.
Tỷ giá hối đoái biến động sẽ có tác động lên dòng vốn ngắn hạn cũng như
được thanh toán cổ tức theo định kỳ. Các cổ phiếu không có thời gian đáo
hạn và được coi là các chứng khoán dài hạn.
1.3. Theo thời điểm các công cụ tài chính được đưa ra thị trường
1.3.1. Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là nơi diễn ra các hoạt động mua bán lần đầu
các công cụ tài chính. Thị trường này thu hút các khoản tiết kiệm của các
hộ gia đình và các khoản vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp và của chính
phủ thành các khoản đầu tư vốn. Điều này có nghĩa là các chủ thể phát
hành thu được tiền từ việc bán các công cụ tài chính để tài trợ cho việc
đầu tư ngắn hạn hoặc dài hạn.
1.3.2. Thị trường thứ cấp:
Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
9
Thị trường thứ cấp là nơi diễn ra các hoạt động mua bán lại các công cụ
tài chính đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Khác với thị trường sơ
cấp, khoản tiền thu được từ bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp
thuộc về các nhà đầu tư, các nhà kinh doanh chứng khoán/ tự doanh
chứng khoán, chứ không thuộc về các tổ chức phát hành chứng khoán.
2. Các loại hình định chế tài chính
Như đã đề cập ở trên, các chủ thể tham gia trên thị trường tài chính
bao gồm các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cá nhân, chính phủ, và các
định chế tài chính trung gian. Trong đó, các định chế tài chính trung gian là
các chủ thể quan trọng nhất tham gia thị trường.
Các định chế tài chính được phân loại theo nhiều cách khác nhau như
theo các đặc trưng về chấp nhận rủi ro, theo thời hạn của các khoản vay và
unions).
2.1.1. Ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại có 2 chức năng cơ bản là cung cấp dịch vụ
thanh toán và tái phân bổ vốn từ người tiết kiệm (có vốn nhàn rỗi) sang
người vay tiền (có nhu cầu về vốn). Ngân hàng thương mại đóng vai trò
trung gian giữa người tiết kiệm và người đi vay, huy động vốn chủ yếu bằng
2 cách là nhận tiền gửi và phát hành trái phiếu. Ngân hàng có thể sử dụng
vốn huy động được để cho vay lại và để mua chứng khoán.
2.1.2. Hiệp hội tiết tiệm và cho vay:
Nguồn vốn hàng đầu của các hiệp hội này là các khoản tiền gửi tiết
kiệm, các khoản tiền gửi có kỳ hạn, các khoản tiền gửi có thể chuyển thành
séc. Thông thường, các nguồn vồn thu được dùng để cho vay thế chấp. Ngày
nay, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay được phép phát hành các khoản séc,
thực hiện các khoản cho vay tiêu dùng và thực hiện nhiều hoạt động trước
đây chỉ dành cho các ngân hàng thương mại. Tương tự như các ngân hàng
thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay cũng được yêu cầu gửi tiền tại
ngân hàng trung ương.
2.1.3. Ngân hàng tiết kiệm tương hỗ:
Hoạt động của các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ tương đối giống với
các quỹ tiết kiệm và cho vay. Họ nhận các khoản tiền gửi và dùng chúng
trước hết là để cho vay thế chấp. Cấu trúc tổ chức của các ngân hàng tiết
kiệm tương hỗ hơi khác các quỹ tiết kiệm và cho vay ở chỗ họ luôn được tổ
chức như có sự “tương trợ” lẫn nhau, tức là họ hoạt động như một “hợp tác
Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
11
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
12
cách là người chấp nhận rủi ro. Công ty bảo hiểm thu phí từ những người
mua bảo hiểm để huy động vốn và sau đó chủ yếu đầu tư khoản tiền nhận
được vào chứng khoán. Có 2 loại hình công ty bảo hiểm chính là các công ty
bảo hiểm nhân thọ và các công ty bảo hiểm phi nhân thọ.
2.2.2. Quỹ hưu trí:
Các quỹ hưu trí được công ty tư nhân, chính phủ hoặc chính quyền địa
phương, các nghiệp đoàn lao động đại diện cho các thành viên của mình, và
các cá nhân có nhu cầu thành lập để thanh toán những khoản phúc lợi cho
người lao động khi họ về hưu. Đặc điểm của quỹ này là chúng liên quan đến việc
đầu tư vào một tài sản có tính thanh khoản rất thấp, đó là hợp đồng hưu trí. Một
nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của các quỹ hưu trí là các
khoản đóng góp của chủ sử dụng lao động và của người lao động cũng như các
khoản thu được từ tài sản của quỹ đều không bị đánh thuế. Về thực chất, quỹ
hưu trí là một hình thức trả công cho người lao động mà không bị đánh thuế cho
đến khi số tiền này được rút ra, nó có tác dụng khuyến khích người lao động ở
lại với doanh nghiệp.
2.3. Các định chế đầu tư trung gian
2.3.1. Công ty tài chính:
Các công ty tài chính thường huy động vốn bằng cách bán thương
phiếu (công cụ nợ ngắn hạn) và phát hành các cổ phiếu và trái phiếu. Các
công ty tài chính có thể cho vay tiêu dùng hoặc cho các doanh nghiệp vay
đầu tư. Một số công ty tài chính do công ty mẹ thành lập với mục đích hỗ trợ
tín dụng mua hàng từ công ty mẹ.
2.3.2. Quỹ đầu tư:
Quỹ đầu tư là một tổ chức tài chính phi ngân hàng huy động vốn
bằng hình thức hùn vốn đầu tư (investment pool) thông qua việc phát hành
Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
thương mại. Các ngân hàng đầu tư cũng nhận tiền gửi và cho vay. Điều này
tạo áp lực cạnh tranh lớn lên các ngân hàng thương mại.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
14
3. Ba vấn đề cố hữu của thị trƣờng tài chính
3.1. Chi phí giao dịch
Các giao dịch tài chính thường kéo theo những chi phí về thời gian và
tiền bạc. Chi phí giao dịch là một vấn đề lớn đối với những người tiết kiệm
nhỏ, đơn lẻ trong việc vay vốn và mua chứng khoán. Tiền lãi thu được từ các
khoản cho vay nhỏ có thể không đủ để bù đắp các chi phí để ký kết các khế
ước vay vốn. Người tiết kiệm sẽ phải trả chi phí giao dịch lớn trong trường
hợp mua chứng khoán do số tiền tiết kiệm chỉ đủ mua một số lượng nhỏ
chứng khoán. Vì vậy, người tiết kiệm chỉ có thể thực hiện một số khoản đầu
tư nhỏ và phải đối mặt với nhiều rủi ro do không có khả năng đa dạng hóa
các khoản đầu tư. Như vậy chi phí giao dịch cao đã loại trừ nhiều người có
món tiền tiết kiệm nhỏ và những người đi vay các món nợ nhỏ được tham
gia trực tiếp trên thị trường tài chính.
3.2. Bất cân xứng về thông tin
Một trong những nhân tố thiết yếu để thị trường tài chính hoạt động
hiệu quả là sự có được thông tin đầy đủ, kịp thời về chất lượng, giá cả và sự
sẵn có của các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính trên thị trường. Việc thiếu
thông tin trên thị trường tài chính có thể làm cho những người tham gia thị
trường ra các quyết định sai lệch.
Một trường hợp của tình trạng thông tin không đầy đủ là tình trạng bất
II. LÝ THUYẾT THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
1. Giới thiệu chung về lý thuyết thông tin bất cân xứng
3
.
Trong suốt hơn 3 thập kỉ trở lại đây, lý thuyết về thị trường với thông
tin bất cân xứng đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu kinh tế quan trọng và
3
Các ví dụ minh họa trong phần này được tham khảo tại Bài giảng Thông tin bất cân
xứng trong tài chính, Học kì Xuân 2005, Bộ môn Tài chính phát triển, Chương trình
giảng dạy kinh tế Fulbright, tác giả Xuân Thành, Lê Hồng Nhật, biên dịch Thạch Quân.
Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
16
hết sức thú vị. Các mô hình kinh tế với tình trạng thông tin không hoàn hảo
đã trở thành một công cụ không thể thiếu được của các nhà nghiên cứu kinh
tế. Từ lý thuyết này đã có không biết bao nhiêu ứng dụng trong thực tế, từ
những nền thị trường nông nghiệp truyền thống của các quốc gia đang phát
triển cho đến những thị trường tài chính hiện đại ở những nền kinh tế phát
triển. Cơ sở cho lý thuyết thông tin bất cân xứng này được đưa ra lần đầu
tiên vào những năm 1970 bởi một nhóm ba nhà khoa học gồm George
Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz. Đến năm 2001 thì lý thuyết này
đã khẳng định được vị trí trong nền kinh tế học hiện đại khi các nhà nghiên
cứu nói trên cùng vinh dự được trao giải thưởng Nobel Kinh tế cho công
động (action) hay một đặc điểm (characteristic) của bên có lợi thế về thông
tin. Ví dụ của sự bất cân xứng thông tin về đặc điểm của một bên có thể thấy
ở thị trường hàng hóa cũ, như xe cũ chẳng hạn: người bán hàng thường có
thông tin đầy đủ và chính xác hơn về thực trạng chất lượng của chiếc xe
mình đã sử dụng, còn người mua thường rơi vào trạng thái bất lợi về thông
tin. Còn ví dụ cho sự bất cân xứng thông tin về hành động là mối quan hệ
giữa người chủ doanh nghiệp với những nhân viên của mình như nhân viên
bán hàng. Người chủ doanh nghiệp không thể biết một cách chính xác liệu
nhân viên của mình có thực sự tận tâm với công việc hay không, có tìm mọi
cách để tăng doanh số bán hàng hay không, vì sự nỗ lực không phải lúc nào
cũng có thể được quan sát trực tiếp và đo lường một cách chính xác.
Lý thuyết này đưa ra ba lớp bài toán quan trọng là lựa chọn ngược
(hay còn gọi là lựa chọn bất lợi - adverse selection), rủi ro đạo đức (hay còn
được dịch là tâm lý ỷ lại - moral harzard) và phát tín hiệu (signalling). Lựa
chọn ngược và tâm lý ỷ lại là hai hệ quả trực tiếp của hiện tượng thông tin
bất cân xứng, còn phát tín hiệu là biện pháp để hạn chế tình trạng này.
1.1. Lựa chọn ngược
Lựa chọn ngược là tình huống thông tin bất cân xứng xảy ra trước khi
tiến hành giao dịch: khi một bên trong giao dịch có lợi thế thông tin về một
Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
18
đặc điểm nào đó (chẳng hạn như chất lượng sản phẩm, tình trạng sức khỏe, sự
lành mạnh về tài chính, …) mà bên kia không thể quan sát với độ chính xác
tuyệt đối khiến bên kia không thể đưa ra quyết định chính xác và tối ưu. Bên có
lợi thế về thông tin có thể lợi dụng đặc điểm này để che dấu, bóp méo thông tin
muốn mua xe thường không thể biết một cách chính xác chất lượng của
những chiếc xe đã qua sử dụng. Vấn đề này còn được miêu tả trong kinh tế
học với hình ảnh “những trái chanh” (The Lemons problem *)
5
Họ không thể phân biệt được đâu là chiếc xe tốt (một quả đào), đâu là
chiếc xe đã quá cũ, chất lượng tồi (một quả chanh). Vì thế, cái giá mà họ sẵn
sàng trả để mua một chiếc xe cũ sẽ phản ánh chất lượng trung bình của
những chiếc xe cũ trên thị trường, sẽ là một mức giá nằm giữa giá của một
chiếc xe tồi và giá của một chiếc xe tốt.
Về phía người bán xe cũ, anh ta biết rõ hơn ai hết chất lượng thực sự
của chiếc xe của mình. Nếu chiếc xe của anh ta là một “trái chanh”, thì
người chủ xe sẽ cực kì sẵn lòng bán cho bạn với mức giá trung bình mà bạn
chấp nhận, bởi mức giá này cao hơn giá trị thực sự của chiếc xe. Trong khi
đó, nếu chiếc xe của anh ta là một “trái đào”, tức là một chiếc xe chất lượng
tốt, thì anh ta sẽ không muốn bán cho bạn theo mức giá trung bình đó. Bởi vì
như chúng ta đã nói ở trên, mức giá trung bình đó cao hơn mức giá của chiếc
xe tồi nhưng lại thấp hơn mức giá của một chiếc xe tốt thực sự. Anh ta biết
rằng chiếc xe tốt của mình đã bị trả giá thấp hơn giá trị, vì thế sẽ không
muốn bán nó trên thị trường. Chính vì hiện tượng này, trên thị trường sẽ chỉ
có rất ít những chiếc xe tốt và người mua xe sẽ chỉ mua được những chiếc xe
4
Frederic S. Mishkin, Columbia University, 2004. The Economics of Money, banking
and Financial markets, Chapter 1: Why study money, banking and financial markets?
Asymmetric Information: Adverse Selection and Moral Hazard, Pearson Addison Wisley,
New York, USA.
5
Nghiên cứu cụ thể và những thảo luận xung quanh Vấn đề những trái chanh (Lemons
Hiện tượng rủi ro đạo đức là tình trạng thông tin bất cân xứng xảy ra
sau giao dịch, trong đó một bên trong giao dịch có ít thông tin hơn bên kia
về hành động của bên kia sau khi giao kết hợp đồng. Do bên có nhiều thông
tin hơn có thể dễ dàng che đậy hành động của mình, nên họ có xu hướng
hành động đi ngược lại lợi ích của bên kia và theo hướng có lợi cho mình.
Hiện tượng này còn được nghiên cứu dưới hình thức là vấn đề người ủy thác
Thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Nguyễn Thị Phương Nhật - Anh 14 K42D - Kinh tế và kinh doanh quốc tế
21
- đại lý (principal - agent problem). Vấn đề nảy sinh khi có sự phân ly về
quyền lợi. Một công ty muốn nhân viên bán hàng của mình chủ động tìm
kiếm khách hàng, nhưng các nhân viên thì thích ngồi không và uống trà.
Khác biệt về quyền lợi đi kèm với thực tế là chủ công ty không thể quan sát
được hành động của các nhân viên bán hàng của mình. Nói một cách khác,
ta gặp phải vấn đề hành động bị che đậy. Nếu như người chủ sở hữu có thể
quan sát được nhân viên làm việc có trách nhiệm như thế nào, thì sẽ không
có vấn đề về động cơ khuyến khích nhân viên bỏ bê công việc để làm việc
riêng. Bởi lúc đó, người chủ sở hữu đơn giản chỉ cần trả lương căn cứ trên
nỗ lực người nhân viên bỏ ra. Nhưng thường thì việc đo lường các hoạt động
của nhân viên, việc kiểm chứng các thông tin được báo cáo đối với người
chủ sở hữu là vô cùng tốn kém hoặc thậm chí không thể thực hiện được.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm rủi ro đạo đức, ta hãy dùng một ví dụ về
bảo hiểm, nơi thuật ngữ này bắt nguồn. Trong phần nói về lựa chọn ngược ở
trên, chúng ta đã sử dụng ví dụ về rủi ro mất xe máy để minh họa cho khái
niệm “lựa chọn ngược”. Ta thấy rằng trước khi ký hợp đồng bảo hiểm, công ty
bảo hiểm không biết được đặc điểm của các khách hàng (thông tin bị che đậy
đối tác trong giao dịch biết được thông tin về mình. Người bán xe chất lượng
tốt sẽ có động cơ khuyến khích để phát ra tín hiệu nhằm mục đích làm cho
người mua biết được mình bán xe tốt và sẵn lòng trả giá cao cho xe tốt này.
Một tín hiệu mà người bán xe có thể phát đi để người mua xe nhận biết
được, đó chính là điều khoản bảo hành.
Nếu người bán muốn thực hiện một hành vi nào đó để phát tín hiệu thì
sẽ phải tốn chi phí. Điểm then chốt là chi phí phát tín hiệu của người bán sản
phẩm chất lượng xấu luôn luôn cao hơn chi phí phát tín hiệu của người bán
sản phẩm chất lượng cao. Do vậy, người bán sản phẩm tồi sẽ không có động
cơ tìm cách phát tín hiệu và nói dối. Ví dụ, việc cung cấp chế độ bảo hành
đối với người bán xe chất lượng kém sẽ đòi hỏi nhiều chi phí hơn người bán
xe hơi tốt. Khi đó, bảo hành xe đã trở thành một tín hiệu hết sức hiệu quả.